Article 2014 – Khả năng nào cho tuyển Việt Nam trên sân nhà – cuộc chiến phát hành thẻ tín dụng

Cạnh tranh khốc liệt, liệu các ngân hàng Việt Nam có thể thay đổi, khắc phục điểm yếu của mình đem lại giá trị gia tăng cho khách hàng như các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam trong cuộc chiến thị phần phát hành thẻ tín dụng quốc tế?

Có lẽ khoảnh khắc càng gần tới thời điểm kết thúc năm tài chính 2014 cũng là những giờ phút cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong ngành ngân hàng. Có lẽ chưa có năm nào, toàn ngành ngân hàng phải đối mặt với những khó khăn như trong năm 2014: nợ xấu, tăng trưởng tín dụng thấp, tái cơ cấu, áp lực từ cổ đông; chính vì lẽ đó mà cạnh tranh giữa các ngân hàng càng trở nên khốc liệt.

Nổi lên như một thị trường mới mẻ đầy tiềm năng – cho vay tiêu dùng. Đây là một thị trường không phải là hoàn toàn mới đối với nghiệp vụ ngân hàng truyền thống nhưng lại là một thị trường đầy tiêm năng chưa được khai phá vào thời điểm kinh tế khó khăn, các ngân hàng dư thừa vốn, các doanh nghiệp còn chưa kịp hồi phục. Chiếm một tỷ trọng lớn đáng kể trong thị phần này là kinh doanh phát hành thẻ và đặc biệt là thẻ tín dụng gồm cả thẻ tín dụng nội địa và quốc tế.

Điểm qua số liệu thị trường tín dụng cá nhân và thẻ tín dụng nói riêng gần đây có thể thấy tốc độ tăng trưởng lớn trong lĩnh vực này:

Như vậy tổng quan có thể thấy, thẻ tín dụng không chỉ tăng trưởng tới 34.2% mà còn chiếm tỷ trọng 2.7% trong tổng số dư nợ theo nhóm sản phẩm năm 2013 và dự kiến chiếm 3.7% trên tổng dư nợ với mức tăng trưởng trung bình hàng năm từ 2010 tới 2015 là 30.3%.

Nếu tính trên số lượng thẻ, hàng năm tăng trưởng trung bình đạt trên 54.4% từ 2010 tới 2015, trong đó tính trung bình trên 100 người trưởng thành thì tăng trung bình hàng năm từ 2005 tới 2015 là 1 thẻ trong đó dự kiến trong năm 2014 và 2015 đạt trên 1 thẻ.

Như vậy, có thể thấy, tốt độ tăng trưởng của lĩnh vực này hiện đang có những bước tiến lớn và ngày càng trở nên quan trọng trong hoạt động dịch vụ ngân hàng và không chỉ dừng ở đó khi nó còn là một hoạt động kích thích tiêu dùng của xã hội và dần dần thay thế thói quen sử dụng tiền mặt mà qua đó ổn định và kiểm soát thị trường tiền tệ.

Đối với việc phát hành thẻ tín dụng quốc tế mà chủ yếu là thẻ Visa hiện đang chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường cả về số thẻ được phát hành và đang hoạt động, thông thường bản chất đây chính là khoản vay tín chấp dựa trên thu nhập có thể chứng minh được của người sở hữu thẻ do bên phát hành thẻ (ngân hàng) cung cấp dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá có tính truyền thống. Tuy nhiên, nổi lên một xu hướng mới trong các đánh giá để cung cấp dịch vụ thẻ tới khách hàng tương đối khác với phương pháp truyền thống và được áp dụng chủ yếu với các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (gọi tắt là ngân hàng nước ngoài) vốn là thiểu số trên thị trường Việt Nam: HSBC, ANZ, CitiGroup… Nhờ cách tiếp cận mới này mà tuy là thiểu số nhưng các ngân hàng nước ngoài này dần cạnh tranh được với các ngân hàng của Việt Nam (gọi tắt là ngân hàng nội địa) và chiếm một thị phần khoảng 10% trong thị trường này và trong tương lai gần khi Việt Nam mở cửa hội nhập đối với thị trường tài chính theo lộ trình, các ngân hàng nội địa không có những điều chỉnh phù hợp thì cũng có rất nhiều khả năng họ sẽ không còn là người chủ động trên chính “sân nhà” của mình, điều này cũng giống như những gì xảy ra trong lĩnh vực bánh kẹo và bán lẻ gần đây.

Với mục tiêu khách hàng là trung tâm, các ngân hàng nước ngoài đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá khác với các ngân hàng nội địa thường theo cách truyền thống mà qua đó khách hàng được hưởng các giá trị gia tăng cao hơn từ sự tiện lợi và ưu đãi mà qua đó, nâng cao tính cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài. Các giá trị gia tăng này chủ yếu trên hai khía cạnh:

  1. Ứng xử của ngân hàng đối với khách hàng thông qua nghiệp vụ phát hành mới và tái cấp:

Thẻ tín dụng vốn được coi là một khoản vay tín chấp, do đó, đối với các quy định vể chứng minh tình hình tài chính và khả năng thanh toán là những yêu cầu bắt buộc. Tuy nhiên, những yêu cầu về mặt giấy tờ được giảm nhẹ ở nhiều khâu, khách hàng không phải đi lại nhiều hay chờ đợi lâu và được hướng dẫn tận tình. Thậm trí, ở một số ngân hàng nước ngoài còn giảm thiểu tới mức chỉ cần hợp đồng lao động và bản chụp sao các thẻ đã được cấp của những ngân hàng lớn như HSBC, VCB là đã có thể cơ bản được cấp phát thẻ tín dụng mở mới ở những ngân hàng đó.

Tiện ích còn đặc biệt được thấy rõ ở khâu gia hạn hay phát hành lại, trong khi tới 95% các ngân hàng nội địa đều yêu cầu thực hiện lại từ đầu các khâu trước khi phát hành lại (tái tục) hay gia hạn thẻ với các thủ tục giấy tờ chứng minh tương đối phức tạp cũng như đánh giá tình hình trả nợ (thực hiện trong nội bộ ngân hàng) và chờ đợi 10 – 15 ngày để nhận thẻ mới nếu như được phê duyệt.

Tuy nhiên, không như cách tiếp cận truyền thống, các ngân hàng nước ngoài thường sẽ gửi trực tiếp thẻ qua đường chuyển phát nhanh đảm bảo tới khách hàng trước khi hết hạn thẻ 1 – 2 ngày và qua đó khách hàng có thể tự kích hoạt (activate) thẻ của mình qua các thiết bị di động với những bước đơn giản và được hướng dẫn cụ thể nếu phía ngân hàng xét thấy khách hàng có lịch sử trả nợ tốt.

Như vậy, với cách tiếp cận mới này, rõ ràng có thể thấy ngân hàng (nước ngoài) đã hỗ trợ giảm thiểu các thủ tục cũng như thời gian chờ đợi cho khách hàng tạo cho khách hàng một sự tiện lợi và thoải mái và qua đó, ngân hàng cũng giảm thiểu được chi phí phát sinh từ chính những tác nghiệp này.

  1. Giá trị gia tăng cho khách hàng từ những phân tích đánh giá hành vi tiêu dùng của khách hàng

Không chỉ từ khâu phát hành hay gia hạn tái tục thẻ, các ngân hàng nước ngoài còn hết sức cạnh từ những khía cạnh đem lại lợi ích thật sự tới khách hàng. Một khía cạnh vô cùng quan trọng của thẻ tín dụng chính là kích thích tiêu dùng và tạo lợi nhuận cho chính ngân hàng phát hành thông qua lãi và phí.

Như vậy, với mục tiêu khách hàng là trung tâm, hạn mức cũng là một trong những khía cạnh đem lại giá trị cho khách hàng cũng như lợi thế cạnh tranh trên cơ sở đánh giá rủi ro của khách hàng. Thông thường các ngân hàng đều dựa trên thu nhập để quyết định cấp một mức cấp tín dụng ban đầu cụ thể, tuy nhiên, trong quá trình sử dụng của khách hàng, các ngân hàng nội địa thường giữ nguyên hạn mức cho khách hàng hoặc trừ khi khách hàng có đề nghị nâng hạn mức và ngân hàng sẽ xét duyệt trên đề nghị đó. Trong khi đó, ở các ngân hàng nước ngoài, xét trên lịch sử tiêu dùng và trả nợ; ngoài việc khách hàng có thể yêu cầu xin tăng hạn mức để ngân hàng xét duyệt thì ngân hàng nước ngoài cũng chủ động xem xét nâng hạn mức của khách hàng hoặc chủ động đề nghị khách hàng nâng hạng thẻ để qua đó, khách hàng được hưởng nhiều ưu đãi hơn hoặc có thể mua sắm nhiều hơn với hạn mức được tăng lên của mình. Vô hình chung, việc chủ động này của ngân hàng đã gắn kết người sử dụng qua sự hài lòng, thoả mãn với dịch vụ của ngân hàng đã cung cấp.

Không chỉ có thế, cùng với việc phân tích lịch sử tiêu dùng của khách hàng, các ngân hàng nước ngoài đã phân loại và đánh giá thói quen tiêu cùng của khách hàng để chủ động tạo ra các sản phẩm, các lợi ích dựa trên nhu cầu mua sắm của khách hàng. Các “ích lợi” này được thiết kế dành riêng cho từng nhóm khách hàng và được gửi tới khách hàng thông qua phương tiện thư điện tử hay điện thoại trực tiếp từ nhân viên của ngân hàng. Công tác phân tích này còn được đẩy mạnh và chuyên biệt hoá bằng không chỉ hoạt động phân tích khách hàng của nội bộ ngân hàng mà còn qua dịch vụ của bên thứ ba do ngân hàng thuê để đảm bảo tính tổng quát và khách quan khi đánh giá các nhóm khách hàng trong quá trình thiết kế sản phẩm.

Ngoài ra, đó là để tăng cường sức cạnh tranh hơn nữa, đối với một số nhóm khách hàng tiềm năng, một số ngân hàng nước ngoài đã chủ động mời chào khách hàng sử dụng thêm dịch vụ bằng việc cấp tự động một hạn mức vay tín dụng cho những hoạt động tiêu dùng khác như mua xe ô tô, mua nhà…

Như vậy, chỉ với nghiệp vụ phân tích thông tin về lịch sử hoạt động của khách hàng mà các ngân hàng nước ngoài đã tạo ra lợi thế cạnh tranh cho riêng mình, mà qua đó, khách hàng ngày càng trở nên gắn bó với những dịch vụ và tiện ích và trở thành khách hàng trung thành với các dịch vụ của ngân hàng.

Đó là chưa tính tới các khía cạnh tiện lợi cho khách hàng khác như linh hoạt trong thanh toán tại quầy hoặc chuyển khoản từ bất cứ đâu thẳng vào số thẻ mà không cần phải mở thêm tài khoản thanh toán tại ngân hàng phát hành, chế độ mã hoá bảo mật thông tin,… là những khía cạnh không được đề cập tới trong nội dung của bài viết.

Với những hoạt động cụ thể phân tích hành vi tiêu dùng cũng như giảm thiểu thủ tục thời gian phát hành thẻ nhằm mang lại lợi ích và các giá trị gia tăng cho khách hàng, các ngân hàng nước ngoài dần dần đã phần nào thể hiện được chiều sâu trong chiến lược cạnh tranh và tham gia thị trường so với các ngân hàng nội địa vốn có quy mô và nhiều lợi thế hơn rất nhiều.

Trước ngưỡng cửa năm 2015 – năm ất mùi, với những tín hiệu chuyển mình của kinh tế dù còn bao bộn bề khó khăn, cùng với cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường; các ngân hàng nội địa cần phải có những sách lược cụ thể để tăng cường sức mạnh cũng như tiềm lực tài chính của chính mình ngay từ bây giờ để có thể đón đầu những cơ hội mới cũng như đối mặt với những thử thách đang còn chờ trước mặt khi Việt Nam hoàn toàn hội nhập và mở cửa thị trường tài chính theo đúng lộ trình đã cam kết.

Vậy thì khả năng nào cho “tuyển Việt Nam” chiến thắng ngay trên sân nhà trong một “giải đấu quốc tế” với thời gian chuẩn bị không còn dài nữa? ψ

12/2014

Advertisements

Tổn thương…

Cô đơn hay rộng hơn là nỗi đau sự tổn thương có thể nói, như Ts. Brene Brown trong “sức mạnh của sự tổn thương” nhận xét đâu đó là chính là động cơ để “thấy được sự yếu đuối này nghĩa là ta đang tồn tại”;

có lẽ chăng đây chính là động cơ để chúng ta tập cách lắng nghe, biết thông cảm hơn… hay đơn giản là biết cách biết ơn với cuộc sống.

Đôi khi quá tự tôn mà chúng ta đánh mất đi chính bản ngã vốn trong veo và đơn giản bởi nhưng lớp sơn vô tình đã được phết lên qua những ý niệm; hay đơn giản hơn chính là lý trí – vốn là sản phẩm quái thai được xã hội nhào nặn thông qua lề thói hay những quan điểm được đóng khung sẵn mà quên đi rằng những cái khung đó bị thay đổi bào mòn theo thời gian và lòng tham sự ích kỷ của chính con người.

Con người đã và đang tạo ra những điều kỳ diệu cho cuộc sống, biến những giấc mơ thành sự thực: bay lên trời, lặn xuống nước… nhưng xuyên suốt chặng đường đó chính là Giấc Mơ Chinh Phục – một giấc mơ chưa bao giờ bị bào mòn ngay cả khi xã hội loài người biến động nhất.

Quên mất rằng chúng ta chỉ là một loài dù có ảnh hưởng đi tới thế nào đi chăng nữa cũng là đứa con của bà mẹ thiên nhiên, mặc sức tàn phá như một đứa trẻ đang lớn để rồi không biết rằng cái mất mát hay cái giá phải trả hay sự hối hận sau này sẽ như thế nào.

Trước những ảo ảnh của giá trị do chính chúng ta đặt tên, con người dường như quên đi mất giá trị cốt lõi, quên đi bản ngã của chính mình để theo đuổi những lớp sơn màu bóng bẩy – cảm xúc.

Là một phần của cảm xúc, cô đơn và sự tổn thương nói rộng tồn tại không phụ thuộc vào những lớp sơn bóng bẩy của loài người, nó – sự tổn thương, nỗi cô đơn tồn tại ở đâu đó ẩn sâu trong chúng ta mà luôn ẩn hiện và trở nên cuồng bạo song hành cũng như là kết quả từ những “câu chuyện duy nhất” – sự phiến diện không đầy đủ [đôi khi] một cách nhất quán… thêm nữa thời gian sẽ là tác nhân huỷ hoại có tính trung gian bào mòn… thổi thêm vào cơn cuồng bạo càng trở nên hung dữ, góp phần biến những chuỗi than vãn thành những giọt độc khoét sâu thêm vào sự tổn thương.

Bịt tai lại để lắng nghe, nhắm mắt để nhìn cho rõ hơn; hãy để cho những nỗi cô đơn, sự tổn thương giúp chúng ta thấy rằng sự yếu đuối đó giúp chúng ta thấy chúng ta đang sống, đang tồn tại mà qua đó biết cảm thông hơn, biết mở lòng hơn và biết yêu…

7/2017

Cảm xúc nội tại – điều tiết những biểu hiện hành vi phản ứng thái quá như là kết quả từ cảm xúc tiêu cực

Trạng thái tâm lý tình cảm là những cung bậc mà khó có thể tránh khỏi, chỉ là nhiều ít, dài hay ngắn mà thôi…

Việc chuyển hoá qua từng cung bậc, việc kiểm soát nhất là đối với các tình cảm tiêu cực càng trở nên khó khăn, đây vẫn còn là những tranh cãi của các nhà tâm lý học. Giáo sư tiến sĩ Susan Krauss Whitbourne, đại học Massachusetts Amherst trong nghiên cứu của mình chỉ ra 5 cách để kiểm soát những cảm xúc không mong muốn từ sự giận dữ và thất vọng; dù chúng không thể xoá bỏ nhưng có thể né tránh trong bài báo đăng ngày 07/02/2015.

Rõ ràng cảm xúc là một phần trong cuộc sống hàng ngày, trải qua từ nụ cười sảng khoái qua một câu chuyện hài hước tới sự tức giận trong khi chờ tắc đường lúc tan tầm; qua đó trải nghiệm cảm xúc cũng thay đổi theo từng bước thăng trầm và với ảnh hưởng tới thể trạng cũng tương tự như vậy.

Khả năng tiết chế cảm xúc không chỉ ảnh hưởng tới nhận thức của những người xung quanh mà cơ bản ảnh hưởng tới bản thân nội tại của mỗi cá nhân thông qua tương tác của hành vi: cười phá lên bất chợt trước một email hay tin nhắn trong bối cảnh một cuộc họp nghiêm túc hay phản ứng quá khích khi tắc đường lúc tan tầm, thậm trí là gây rủi ro tới chính tính mạng và thực tế đã minh chứng rất rõ cho điều này.

Theo tiến sĩ Susan Krauss Whitbourne, hoàn toàn có thể kiểm soát được việc điều tiết cảm xúc trước khi các trường hợp có yếu tố tạo khiêu khích xảy ra; và để chuẩn bị trước, cảm xúc tiêu cực cần được điều tiết trước khi nó đẩy cuộc sống của chúng ta vào rủi ro. Mô hình 5 bước của bà sẽ giúp cho việc điều tiết được dễ dàng hơn:

  1. Lựa chọn: để tránh những vụ “cướp cò” không mong muốn, việc chuẩn bị là tối quan trọng; ví dụ nhưng không tự đẩy mình vào vội vã bằng cách căn thời gian tới sớm 10 phút trước cuộc họp thay vì để mọi chuyện tới phút cuối.
  2. Điều chỉnh: có lẽ phần lớn cảm xúc tiêu cực và là “ngòi nổ” cho mọi chuyện mà chúng ta thường gặp phải đó chính là sự thất vọng; điều này tương tự như chúng ta luôn “cầu toàn” trong ứng xử với mọi thành viên gia đình và bạn bè để mong những cái tốt nhất “phục vụ” họ, nhưng cũng vì vậy mọi chuyện không phải cái nào cũng toàn thành được khi chúng ta đặt mục tiêu quá cao. Do đó, điều chỉnh lại sẽ là cách để chúng ta “yên tâm” nỗ lực hết sức… trong hoan hỉ.
  3. Chuyển hướng đối tượng tập chung: thay vì tập chung vào một đối tượng duy nhất với cảm xúc dù cho là cảm xúc ngưỡng mộ – như khi bạn vào phòng tập gym và không ngừng thán phục [đâu đó pha lẫn chút ghen tị] những cơ thể tiêu chuẩn với mức thực hiện các động tác gấp 3 lần bạn như bị hút vào một thanh nam châm; việc chuyển trọng tâm tập chung từ họ về với mức bạn có thể thực hiện được sẽ làm bạn cảm thấy tự tin về khả năng của bạn và điều này sẽ loại bỏ đi áp lực và giúp bạn sớm loại bỏ cảm xúc tiêu cực nảy sinh trong bạn.
  4. Thay đổi suy nghĩ: Cốt lõi trong cảm xúc từ trong thâm sâu của mỗi chúng ta chính là tập hợp của lòng tin. Khung niềm tin này sẽ định vị mong muốn và qua đó tác động lên hành vi của mỗi chúng ta; như khi chúng ta sẽ cảm thấy tiêu cực, thất vọng khi chúng ta tin rằng bị mất đi một cái gì đó trong cuộc sống và chính cảm giác mất mát này đã “tô đen” cuộc sống của chính chúng ta dù cho mất mát đó đôi khi chỉ là cảm nhận chủ quan từ một phía hay chỉ là cái nhìn phiến diện. Nếu chúng ta thay đổi cách suy nghĩ và chỉ là suy nghĩ một cách tích cực hơn thì đã thay đổi rất nhiều với niềm tin quay trở lại, niềm vui tạo và hơn cả là hạnh phúc xuất hiện. Đôi khi chỉ bằng đặt lại suy nghĩ hài hước vào bối cảnh bi quan thì từ tiềm thức, mọi chuyện đã được giải quyết triệt để và lo lắng mất mát đã tan biến vì cái chúng ta lo lắng phần lớn là cách người xung quanh nhìn nhận [hay đánh giá] ta trong bối cảnh đó như thế nào…
  5. Thay đổi ứng xử: Nếu mọi chuyện là thảm hoạ mà không thể tránh khỏi nó vậy sao không loại bỏ nó ra khỏi tâm trí bằng cách dịch chuyển mục tiêu tập chung hay thay đổi suy nghĩ và bởi đó, cảm xúc sẽ được điều chỉnh. Bước cuối cùng trong điều tiết cảm xúc chính là kiểm soát hành vi phản ứng; thay vì để trái tim “gõ trống” với những cảm xúc tiêu cực giận dữ hay lo lắng, hãy nhắm mắt, hít một hơi thật sâu để trái tim được thả lỏng và chúng ta được bình an từ trong tâm.

Mô hình 5 bước này sẽ giúp chúng ta điều chỉnh thích ứng với các trường hợp tiêu cực mà chúng ta bị “kéo vào” một cách không mong muốn; tổng quát, hiểu được cảm xúc nội tại và “điểm hoả” của cảm xúc sẽ giúp ngăn ngừa các vấn đề trước khi nó xảy ra và trở thành [vấn đề] nghiêm trọng.

Tuy rằng nghiên cứu về cảm xúc không phải hoàn toàn là một bộ môn khoa học độc lập, các nhà tâm lý học vẫn tranh luận về mối liên hệ giữa tâm trí-cơ thể vật chất trong mối tương quan cảm xúc. Tuy nhiên, những nghiên cứu tiên tiến gần đây đã giúp hiểu hơn về mô hình điều tiết cảm xúc và quá trình cảm xúc bị tác động và ảnh hưởng dẫn tới các biểu hiện ra hành vi. Nhà tâm lý học James Gross năm 2001 đã đưa ra mô hình 4 bước để định nghĩa chuỗi hành vi khi cảm xúc bị tác động với kết luận nghiên cứu: “cảm xúc của chúng ta phản ứng kết quả theo cái cách mà chúng ta đã trải nghiệm tổng hợp từ kinh nghiệm tương tự trong quá khứ”, đã giúp chúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn.

Một vài cảm xúc không cần phải có điều tiết, nếu trong bối cảnh phù hợp, cảm xúc sẽ giúp chúng ta thấy hài lòng và tốt hơn, do đó, không cần phải lo lắng về thay đổi cách chúng ta đang ứng xử; cũng giống như khi chúng ta cười trong khi tất cả mọi người cùng cười [để chia sẻ] về một chủ đề chung nào đó. Tất nhiên, đối với những cảm xúc tiêu cực – hành vi phản ứng cho phép bạn “xả” ra những bực tức hay nói cách khác là cách chúng ta lấy lại sự bình tĩnh, không hề đơn giản và chưa chắc đã phù hợp hoặc thích ứng với bối cảnh, như rõ ràng bằng cách nào đó chúng ta vẫn phải diễn đạt cảm xúc tiêu cực như một cách “xả” như một cách quân bình trở lại.

Nói thì luôn dễ hơn thực hiện, nhất là cố gắng để quân bình trở lại từ những cảm xúc tiêu cực, nhưng nếu không tiết chế, chúng ta để cảm xúc tiêu cực bùng nổ và kết thúc bằng một câu nói hay một email [- nhất là trong môi trường văn phòng, nơi email thường bị lạm dụng] vô hồn như một “phát súng vào thái dương”, đó là lúc chúng ta đã để cảm xúc tiêu cực trong mỗi chúng ta “kết liễu” quan hệ tốt đẹp giữa bạn bè, đồng nghiệp hay rộng hơn là sự nghiệp và thậm trí là sức khoẻ, và đôi khi là chính sinh mạng của chúng ta…

Việc không kiểm soát được cảm xúc theo Gross và đồng nghiệp Hooria Jazaieri (2014), là gốc rễ của sự hỗn loạn tâm lý như trầm cảm, rối loạn nhân cách biên. Tất nhiên phải còn nhiều nghiên cứu sâu khác để hiểu được căn nguyên vai trò đặc thù của điều tiết cảm xúc và qua đó nhiều người, hay ví dụ như bệnh nhân mắc chứng rối loạn lo lắng xã hội – có thể có phác đồ điều trị tốt nhất thay đổi cách nhìn và ứng xử của họ đối với xã hội, hay, như Gross và Jazaieri nhấn mạnh; có thể đơn giản là hưởng từ giáo dục làm thế nào để kiểm soát cảm xúc trong các tác động hàng ngày.

Với cách tiếp cận khác, ở phương Đông, việc tiết chế cảm xúc để đạt được sự quân bình nội tâm cũng được thực hiện thông qua “quá trình định hướng tâm trí làm quen với một chủ đề cụ thể nào đó” – Đức pháp vương dòng truyền thừa Drukpa – được định nghĩa là “Thiền”. Việc thực hành (hay hành “Thiền” – theo cách nói khác) này sẽ giúp cho con người chúng ta lấy lại bình quân nhanh hơn bằng cách luyện tập tâm trí, định hướng nó và neo giữ [định] ở nhiều các giác độ của một chủ đề cụ thể nào đó. Cơ bản thì định nghĩa phổ quát của Thiền cũng thể hiện một cách tổng quát 4 bước đầu của mô hình 5 bước của tiến sĩ Susan Krauss Whitbourne, trong đó với bước 5 chính là kết quả từ việc thực hành Thiền mà có – thay đổi ứng xử.

Nhưng không đơn giản chỉ là như vậy, “thiền” còn hướng tới việc chế ngự sự hỗn loạn từ trong nội tâm, những hành vi phản ứng thái quá ra bên ngoài thông qua một quá trình “tập thể dục” của tâm [trí]; như vậy, không chỉ là ở cảm xúc (phần chìm) mà cả ở hành vi (phần nổi) là kết quả phản ứng bộc phát của chính các cảm xúc đó. Như vậy, “thiền” tuy không “lý giải” được căn nguyên nhưng lại giúp “chữa trị” được và “bù” vào mảnh khuyết còn lại mà Gross và đồng nghiệp Hooria Jazaieri đâu đó còn thiếu.

Dù ở bất cứ giác độ nào, cách thức phân tích nào đi nữa thì kiểm soát tâm trí để đạt được một sự quân bình, tránh được những cảm xúc tiêu cực hay cảm xúc bốc đồng luôn là mục tiêu hướng tới việc hạnh phúc hơn, đem lại niềm vui cho chính mỗi chúng ta.

“Tâm” bất “định”, sự tắc loạn… là vậy.

02/2018

Sưu tầm – The Primary Deficit Sustainability Framework – Nordnetbloggen

The purpose behind this analysis is to indicate whether Japans and the US`s debt and deficits are unsustainable and when the trend in deficits could cause a loss of confidence and rapidly increasing borrowing costs. PDS is a way to tell if America and Japan are becoming Greece.

The PDS is a tool used to define sustainable deficits for economies and a way to monitor public finances. This analytic framework, which can be expressed as an equation, measures whether national debt and deficits are sustainable, when the trend in deficits could cause a loss of confidence and rapidly increasing borrowing costs for a given country.

The key factors in the PDS are borrowing costs (B), real output (R), inflation (I), taxes (T) and spending (S).

Real output plus inflation (R+I) is the total value of goods and services produced in an economy, also called nominal gross domestic product (NGDP)

Taxes minus spending (T-S) is called the primary deficit. The primary deficit is the excess of what a country spends over what it collects in taxes. In calculating the primary deficit, spending does not include interest on the national debt. This is not because interest expense does not matter, in fact it matters a lot. However, the whole purpose of the PDS framework is to illuminate the extent to which a given economy can afford the interest and ultimately the debt. Interest is excluded from the primary deficit calculation in order to see if the other factors combine in such a way that the interest is affordable. Interest on the debt is taken into account in the formula as B, borrowing costs.

An economy’s deficits are sustainable if the economic output minus interest expense is greater than the primary deficit. This means the economy is paying interest and producing a little extra to pay down debt. But if economic output minus interest expense is less than the primary deficit, then over time the risk occurs that the deficits will overwhelm the economy.

What matters is not the debt and the deficit level, but the trend as a percentage of GDP. If the levels are trending down, the situation is manageable, and debt markets will provide time to stay on the path. Sustainability does not mean that deficits must go away, in fact, deficits can grow larger. What matters is that total debt as a percentage GDP becomes smaller because nominal GDP grows faster than deficits plus interest.

Expressed in the form of an equation, sustainability looks like this;

If (R + I) – B > |T-S|, then a economy`s deficits are sustainable. Conversely, if

(R + I) – B < |T-S|, deficits are not sustainable.

 

The PDS by itself does not explain which actions to take or what ideal policy should be. What is does is allow one to understand the consequences of specific choices. PDS is a device for conducting thought experiments on different policy combinations, and it acts as the bridge connecting fiscal and monetary solutions.

For example, one way to improve debt sustainability is to increase taxes. Alternatively if taxes are held steady but spending is cut, then the primary deficit also shrinks, producing a move towards sustainability.

Another way to move towards sustainability is to increase real growth. An increase in real growth means more funds are available after interest expense, to reduce debt as a percentage of GDP.

 

USA as an example:

B = 2.4% Interest rate on 10 Year T NO

R = 2.9% (GDP annual growth rate)

|T-S| = 2.8% (US Budget deficit)

I = 0% (Inflation rate)

Source; tradingeconomics.com

(R +I) – B < |T-S|

2.9 + 0 – 2.4 < 2.8%

0.5 < 2.8

The current state for the US economy shows that real growth plus inflation minus interest expense is less than the primary deficit, which means that debt as a percentage of GDP is increasing. This is the unsustainable condition. Again, what matters in this model is not the level but the trend.

1

Source; tradingeconomics.com

 

Japan as an example:

I = 0.5% (Inflation rate)

B = 0.47% (Government Bond 10Y)

|T-S| = 7.7% (Budget deficit)

R = -0.9% (GDP annual growth rate)

 

(R +I) – B < |T-S|

(-0.9 + 0.5) – 0.47 < 7.7

-0.87< 7.7

From the PDS framework we can draw the same conclusion for Japan as for the US. Real growth plus inflation minus interest expense is less than the primary deficit, which means that debt as a percentage of GDP is increasing. The only difference between the US and Japan is that the trend towards unsustainability is growing at a much faster paste for Japan compared to the US.

 

2

The purpose behind this analysis is to indicate whether Japans and the US`s debt and deficits are unsustainable and when the trend in deficits could cause a loss of confidence and rapidly increasing borrowing costs for both countries. PDS is a way to tell if America and Japan are becoming Greece.

3

From 2006 to 2012 Greece`s government debt to GDP ratio rapidly increased from 100% to 170%, which led to a dramatic spike in the borrowing cost for the Southern European nation.

4

Full link: https://blogg.nordnet.no/the-primary-deficit-sustainability-framework/

Sưu tầm – People Want 3 Things from Work, But Most Companies Are Built Around Only One.

Strike up a conversation about work values, and it won’t be long before someone brings up a pyramid — a famous psychologist’s best-known theory. Abraham Maslow’s big idea was that we all have a hierarchy of needs: once our basic physiological and safety needs are fulfilled, we seek love and belongingness, then self-esteem and prestige, and finally self-actualization. But that pyramid was built more than half a century ago, and psychologists have recently concluded that it’s in need of renovation.

When you review the evidence from the past few decades of social science, it’s hard to argue with Maslow’s starting point. If your basic needs aren’t met, it’s hard to focus on anything else. If you have a job that doesn’t pay enough, and you’re up all night worrying about survival, chances are you won’t spend much time dwelling on self-actualization.

But Maslow built his pyramid at the dawn of the human relations movement, when so many workplaces in the manufacturing economy didn’t have basic physiological and safety needs covered. Today more companies are operating in knowledge and service economies. They’re not just fulfilling basic needs; they’re aiming to fulfill every need, providing conveniences like meals and gyms, and competing to be the best places to work (from 1984 through 2011, those that won outperformed their peers on stock returns by 2.3% to 3.8% per year). In those environments, survival isn’t in question.

And once you get past that layer of the pyramid, the rest of it falls apart. People don’t need to be loved before they strive for prestige and achievement. And they don’t wait for those needs to be fulfilled before pursuing personal growth and self-expression.

If Maslow were designing his pyramid from scratch today to explain what motivates people at work, beyond the basics, what would it look like? That’s a question we set out to answer at Facebook, in collaboration with our people analytics team.

We survey our workforce twice a year, asking what employees value most. After examining hundreds of thousands of answers over and over again, we identified three big buckets of motivators: career, community, and cause.

Career is about work: having a job that provides autonomy, allows you to use your strengths, and promotes your learning and development. It’s at the heart of intrinsic motivation.

Community is about people: feeling respected, cared about, and recognized by others. It drives our sense of connection and belongingness.

Cause is about purpose: feeling that you make a meaningful impact, identifying with the organization’s mission, and believing that it does some good in the world. It’s a source of pride.

These three buckets make up what’s called the psychological contract – the unwritten expectations and obligations between employees and employers. When that contract is fulfilled, people bring their whole selves to work. But when it’s breached, people become less satisfied and committed. They contribute less. They perform worse.

In the past, organizations built entire cultures around just one aspect of the psychological contract. You could recruit, motivate, and retain people by promising a great career or a close-knit community or a meaningful cause. But we’ve found that many people want more. In our most recent survey, more than a quarter of Facebook employees rated all three buckets as important. They wanted a career and a community and a cause. And 90% of our people had a tie in importance between at least two of the three buckets.

Wondering whether certain motivators would jump out for particular people or places, we broke the data down by categories. We started with age.

There’s a lot of talk about how different Millennials are from everyone else, but we found that priorities were strikingly similar across age groups.

W180205_GRANT_MOTIVATORSBYAGE

 

 

Contrary to the belief that Millennials are more concerned with meaning and purpose, we found that younger people cared slightly less about cause — and slightly more about career — than older people. In fact, people ages 55 and above are the only group at Facebook who care significantly more about cause than about career and community. This tracks with evidence that around mid-life, people become more concerned about contributing to society and less focused on individual career enhancement.

But overall, the differences between age groups were tiny. And that’s not just true at Facebook. In a nationally representative study of Americans across generations, Millennials, Baby Boomers, and Gen Xers had the same core work values — and tended to rank them in the same order of importance. As we’ve said before, Millennials want essentially the same things as the rest of us.

We also didn’t see any major differences by level, or by performance reviews: people valued these three motivators whether they were exceeding, meeting, or falling short of expectations. And when we compared office locations, it was clear that career, community, and cause were all prized around the globe.

W180205_GRANT_MOTIVATORSBYLOCATION

 

 

Finally, we turned to function. “If it weren’t for the people,” Kurt Vonnegut once wrote, “the world would be an engineer’s paradise.” Survey says: false. Our engineers care a lot about community, giving it an average rating of 4.18 on a 1-5 scale. And just as we saw with age and location, across functions people rated career, community, and cause as similarly important.

W180205_GRANT_MOTIVATORSBYFUNCTION

 

 

“To know what one really wants,” Maslow argued, “is a considerable psychological achievement.” Our data suggest that people are very clear on what they want at work — and they fundamentally want the same things. When it comes to an ideal job, most of us are looking for a career, a community, and a cause. These are important motivators whether you’re 20 or 60, working in engineering or sales, in Luleå or São Paulo or Singapore or Detroit. We’re all hoping to find a what, a who, and a why.

Full link article: People Want 3 Things from Work, But Most Companies Are Built Around Only One

Tào tháo

“Tôi giỏi đợi thịnh, gian hùng thời loạn”…

Vương Hiểu Lỗi, có thể nói là người đã tái sinh Tào Tháo qua việc khắc hoạ lại tính cách mâu thuẫn đầy phức tạp của Tào Tháo… có thể nói, nếu không phải ‘bị’ rèn rũa trong bối cảnh chính trị phức tạp, xuất thân đầy mâu thuẫn từ quá khứ bị đổi họ tới ba lần thăng chức rồi lại bãi quan… Tào Tháo chắc không thể còn là Tào Tháo lỗi lạc trên ép thiên tử dưới đè chư hầu, xưng hùng xưng bá một phương…

Trong khắc hoạ vô cùng sinh động của họ Vương, Tào Tháo nổi lên như một người lao động không mệt mỏi, biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến từ người khác dù cho ông cũng chính là một người luôn “sợ mất mặt”, luôn áp chế chuyên quyền… không như thế ông là người sẵn sàng xả thân với những người phụ tá cho mình…

Hình tượng Tào Tháo đâu đó đã được minh oan phần nào dưới ngòi bút trung dung của họ Vương, không chỉ như vậy, với sự khéo léo và chau chuốt trong lời văn, Tào Tháo nổi lên với đặc điểm của nhà quản lý thời hiện đại, cũng không có gì quá khi có thể coi ông như một thủ lĩnh start-up đầu tiên… người thực tập nghề quản lý với yếu tố kỷ luật nghiêm khắc khi được trông coi kinh đô, người chạy ăn từng bữa học nghề từ những sai lầm của kẻ võ biền Đổng Trác, rồi từ hậu duệ con ông cháu cha ba đời Tam Công Viên Thiệu…

Trong cả cuộc đời quản lý của ông, có thể thấy rõ vấn đề an ninh lương thực và logistics luôn được đưa lên hàng đầu trong mỗi quyết định… ngay cả khi quản lý một tập đoàn lớn, trên muôn người thì ông vẫn là người có cuộc sống hết sức giản dị, mọi tài sản và giá trị dư thừa đều được sử dụng phục vụ cho cuộc chiến. Là người cẩn thận trong hoạch định kế hoạch chi tiết, Tào Tháo luôn đánh giá các yếu tố rủi ro và phương án giảm thiểu rủi ro trước khi thực hiện bất cứ hành động cụ thể nào sau khi đã đánh giá các yếu tố con người, văn hoá, năng lực của vùng đất mới – thị trường mở rộng mục tiêu.

Đọc người xưa ngẫm tới nay, các thủ lĩnh start-up giờ bay bổng như Viên Thiệu, chỉ tập chung đánh chiếm như Lã Bố, hay gió theo chiều nào che chiều đó như Lưu Bị mà quên đi còn phải phát triển, tập chung tăng cường bổ xung nguồn lực tích luỹ… rồi sớm có bài học có thể kể tới gần đây như: the kaffe, wrap&rolls,…

Ô hô, là một bài học vậy…

Saigon,  một ngày trở gió

Lần đầu tiên Saigon trở gió, từng đợt lá vàng đổ ào xuống con đường vắng ngày cuối tuần, gió mang mang se se cuốn về những ký ức mùa thu vàng của Hà Nội, của miền Bắc những ngày trở gió…

Run run bồi hồi bên ly café nóng bốc khói, những kỷ ức như được nhuộm thêm vàng óng, quẹo quánh theo từng ngụm café nhỏ… từng hồi từng khoảnh khắc vui có buồn có cùng tô điểm thêm những giọt café óng ánh dưới cái se xắt gió mùa…

Bồi hồi…

Tuy không phải là người con Tây Nguyên thuần hậu chất phác hay lam hay làm để đắm mình trong văn hoá núi rừng, nhìn những giọt óng ả cũng thấp thoáng hiện lên đâu đó hình ảnh gắn bó của cây café như một thành viên trong gia đình Tây Nguyên; dịp tôi về nhà người bạn thân trên Daklak, tôi mới thấm được tình cảm sâu đậm của con người núi rừng Tân Nguyên với cây cafe trong từng nếp, từng khía cạnh thấm đẫm trong từng nét văn hoá… bình dị và mộc mạc nhưng chính người lính mà tôi về thăm; quay về với gia đình từ chiến trường khốc liệt, ông lại tiếp tục gieo vào đất mẹ những giọt mồ hôi với mơ ước cho cuộc sống giản dị của người lính chăm bẵm tưới tắm cho những mầm cafe vươn lên trổ bông…

Tí tách…

Gieo vào cái se se bâng khuâng ấy, từng giọt thời gian tí tách… tí tách… gieo xuống cùng những ký ức mộc mạc của người lính nhọc nhằn cuộc sống mà tràn đầy lạc quan thi vị; len lỏi vào từng sợi thần kinh, hồi ức của người con xa quê nhớ về một góc Hà Nội lại len len đâu đó chút bồi hồi của núi rừng Tây Nguyên reo xuống như những nốt nhạc chầm chậm hoà quyện với làn hương dịu dàng mà sâu lắng lãng đãng…

Bản hoà tấu…

Nhấp một ngụm thôi, một ngụm thật nhỏ… Saigon trở gió trở nên gần gũi hơn, thi vị hơn… những góc quen thuộc lại ùa về đan xen trong một Saigon rộng mở, thân thiện, bao dung những người con xa xứ…; chầm chậm, thật chậm thôi… đắng, chua rồi ngọt ngào tinh tế đọng lại như những cơn sóng của cuộc sống trải dài theo bao năm tháng… bồi hồi…

Saigon không chỉ của người Saigon, Saigon còn của những người con xa xứ về tá túc; Saigon bình dị, gần gũi và bao dung che chở… lãng đãng mà đậm chất nghệ sĩ… một ghế cóc, một phin cafe nóng hổi, một cốc trà đá tươi mát, một giọng nói ngọt ngào bâng khuâng của người em gái Saigon… Saigon một sớm trở gió…

Saigon, một ngày 2017