“Tam không”  và Thiền… 

Hoạ từ miệng ra, bệnh từ miệng vào…

Trên đường ra sân bay trở lại saigon trong vội vã hấp tấp, cũng vì bác tài tới trễ; đường kẹt cứng, người như mắc cửi, phố xá như nêm; không làm gì hơn được trong cái “tủ lạnh di động” lúc này là nhìn ngó xung quanh mà giết thời gian thay vì ngồi đếm chính nó để rồi chết vì sốt ruột… Rồi bỗng ba chú khỉ trên nắp xe nhìn tôi như thôi miên, ba bức tượng trở nên có sức hút lạ kỳ… Mọi tâm trí của tôi dường như dành hết cho chúng, dù chúng cũng chỉ là ba pho tượng biểu trưng cho “tam không” quen thuộc – không nghe, không thấy, không nói…

Có cái gì đó là lạ xảy ra, mắt tôi như nhoè đi cũng với những cái lắc lư, gầm gừ nhích từng bước một của cái “tủ lạnh di động” cùng với sự cố gắng tới bất lực của bác tài trong đoạn đường tắc nghẹt. Ba chú khỉ vẫn đều đặn lắc lư dường như vẫn đang thách thức tôi, thôi thúc tôi về một điều gì đó nằm ẩn sâu trong từng bức tượng… Một cảm giác dâng trào tới vỡ oà ra cùng theo câu hỏi: trong “tam không”, “không” nào là giá trị nhất? Tại sao lại “tam không”, biểu trưng cho điều gì? Đây chẳng phải thuộc về “tứ chứng nan y” – mù, câm, điếc?

Đương nhiên chỉ là nói cho vui thôi, ai cũng biết biểu trưng của bộ “tam không” này với những dăn dạy của nó, nhưng với tôi trong khoảnh khắc này bỗng lại như khoác thêm bộ cánh mới – phải chăng tận cùng của biểu trưng này là về hành vi con người?

Hành vi của con người vốn được thể hiện từ bản năng và một phần từ môi trường và một phần từ quá trình giáo dục; trong điều kiện thông thường, hành vi phản ánh những động cơ và nhu cầu từ bản năng như ăn uống, đi lại, nói cười, bỏ qua lý trí, bỏ qua tình cảm vốn cần ở đâu đó thời gian suy xét, xử lý dù là trong khoảnh khắc bằng giây.

Hành vi mỗi chúng ta gồm phần nổi – “surface” và phần chìm – “deep”: nghiên cứu sơ khởi của Hochschild vào năm 1983 về lao động cảm xúc – “emotional labor” – cho thấy trong ngành dịch vụ, nữ chiếm đa số và họ thể hiện khả năng vượt trội trong việc đáp ứng sự hài lòng của khách hàng. Với kết luận tổng quát trong chuỗi nghiên cứu: rõ ràng, nữ phải chịu áp lực hay đối mặt với vấn đề [triệu chứng] tâm lý liên quan tới thành công của họ trong việc “đè nén” cảm xúc của họ; dẫn tới phần chìm sẽ giúp họ có được cảm xúc thật sẽ giúp cho họ đạt được yếu tố lạc quan dẫn tới hành vi tự nguyện từ đáy lòng phát sinh từ bản chất, trong đó phần nổi lại sinh ra sự lấp liếm giả tạo và ngược lại tạo ra áp lực; chính vậy mà quá trình “phục vụ” được khởi tạo từ phần chìm sẽ tạo ra lâu bền trung thành với sự thoả mãn từ khách hàng, và như là kết quả trái chiều, phần nổi sẽ dẫn tới áp lực, xung đột với khách hàng, với cấp trên và cuối cùng là quyết định nghỉ việc…

Bên cạnh đó, con người vốn chỉ là một yếu tố, là “hạt cát” trong vũ trụ bao la, chịu sự tác động từ bên ngoài và cả từ bên trong; thông tin chủ yếu tới từ các giác quan [là đầu vào] và hành vi phản ứng [là đầu ra].

“Tam không” thì liên quan gì?

Xét trên giác độ xử lý thông tin và hành vi biểu hiện, để đầy đủ từ tiếp nhận – nhìn thấy (thu nhận từ trực quan)  và lắng nghe (tiếp nhận thông qua cảm xúc),  xử lý, và tới đầu ra – nói ra [trong đó ở đây loại bỏ yếu tố hành vi phản ứng từ hành động vật lý], hành vi thông qua nghe, thấy và nói được biểu trưng qua:

  • Không nghe: vẫn nói, chỉ nhìn mà không lắng nghe (1)
  • Không thấy: vẫn nói, chỉ nghe mà không quan sát (2)
  • Không nói: chỉ nghe và quan sát (3)

Ở (1) cho thấy: nếu thông tin chỉ được thu nhận trên bề nổi thuấn túy trực quan mà bỏ qua yếu tố tiếp nhận thông qua cảm xúc, ở đâu đó như là chỉ có số lượng mà bỏ qua chất lượng, thì hành vi từ phản ứng ra bên ngoài thông qua việc “nói” là không đầy đủ.

Ở (2) cho thấy tương tự nhưng nếu thiếu phần trực quan, thiếu “số lượng” thì liệu “chất lượng” đã là đầy đủ? Vậy biểu hiện hành vi phản ứng có phản ánh là đúng và đủ?

Tất nhiên là ở cả (1) và (2) đều là không đủ, vậy thu thập thông tin đủ ở (3) thì có ổn không khi không còn tồn tại hành vi phản ứng ra bên ngoài – “không nói”? Rõ ràng ở đây là biểu trưng có tính chất ngụ ý tương đối có tính răn dạy: sự cần được hiểu và suy xét thật kỹ và phải kiểm soát được hành vi với biểu hiện phản ứng ra bên ngoài mà thiếu đi sự suy xét kỹ càng cả số lượng và chất lượng của thông tin thông qua cả biểu hiện trực quan và cảm xúc nội tại của vấn đề; như vậy, không phải “không nói” mà là “không nói” khi “đã nghe” và “đã thấy” một cách đầy đủ. Và có lẽ “lời răn” này là “giá trị” nhất.

Liên quan gì tới Thiền…?

Vì “Thiền là quá trình định hướng tâm trí làm quen với một chủ đề cụ thể nào đó” – Đức pháp vương dòng truyền thừa Drukpa.

Với định nghĩa phổ quát như vậy, rõ ràng Thiền là [phương] pháp xuyên suốt trong quá trình hành đạo trong đạo Phật, qua: văn, tư, tu… Thiền là một phương pháp hỗ trợ cho việc neo “định” tâm [trí] của người hành giả – cơ bản có thể hiểu bản chất là phương pháp kiểm soát hành vi của người hành giả và giúp giữ cho tâm trí họ tập chung vào một chủ đề cụ thể. Như vậy, việc nhìn nhận phần nổi và lắng nghe với phần chìm sẽ giúp cho mỗi con người chúng ta nhìn nhận thấu đáo sự xảy ra mà không mắc phải khiếm khuyết trong quá trình “tư” [duy] – giống như ở người hành giả đang hành Thiền.

“Tam không” không chỉ còn là biểu trưng mà “tam không” còn là một “pháp” trong cuộc sống đầy “chấp ngã”. Con người bình thường với tham sân si, với ai ố hỉ nộ đầy đủ sẽ kiểm soát tốt hơn hành vi, sẽ tạo được cảm xúc lạc quan hơn, hài lòng với con người và rộng hơn là môi trường xung quanh; mà cũng nhờ đó hài lòng tự đáy lòng với chính bản thể của mình. Biết đâu đó, cuộc sống nhờ đó mà trở nên nhẹ nhàng hơn, lạc quan và bớt đi áp lực không cần thiết… không chỉ với những người trong ngành dịch vụ (là đối tượng nghiên cứu của Hoschchild), mà ở diện rộng của xã hội với giao thoa của đa nền văn hoá…

Một thoáng lãng đãng trôi qua cũng là lúc vừa tới sân bay, hành trình còn dài, kéo dài cả từ trong tiềm thức tới những bước đường phía trước…

Trời cũng đã vào xuân…

Tản mạn Tết nguyên đán xứ Khmer

Trở về xứ cũ ngày 1 tết, sau một cái giao thừa bình lặng, trên con đường vắng thênh thang lác đác vài người chầm chậm; vui vẻ hớn hở, hẳn họ đang tới bên người thân chúc tết đầu xuân.

Chiều về tới sau vài tiếng lái xe như thường lệ, ra đường sau một giấc ngủ dài bù lại sự mệt mỏi, tôi ra đường… đây cũng là lần đầu tôi ăn tết ở đây.

Nếu trên saigon, không khí mùng 1 là trầm lặng, mất hẳn cái ồn ào náo nhiệt hàng ngày, người làm ăn xa xứ đã về quê thì ở nơi đây không khí tết chỉ còn là kỳ nghỉ là dịp để mọi người quây quần bên nhau xả hơi… Se se lạnh, lác đác hàng quán đâu đó mở nhưng chủ yếu chỉ là những quán cafe như bao ngày và tụ tập vẫn là những khách hàng những gương mặt quen thuộc… Nơi mọi người tán gẫu, chia sẻ hay đơn giản là truy cập Internet.

Ở cái xứ này, tết dường như chỉ là một lý do thoảng qua, không thấy người ta lo sắm sửa gì mấy, một chậu hoa vạn thọ, một nồi thịt kho tàu với trứng và thịt lợn quay đã thành tết; mà đúng thiếu một trong ba món này thì không phải tết – miền nam là vậy mà xứ này cũng vậy. Chỉ đơn giản vậy thôi…

Quây quần bên chén rượu, ly beer, các ông ngồi tán gẫu trong khi các bà tất bật chuẩn bị mồi nhậu cho các ông trong khi cười đùa rôm rả, hoặc tập chung vào trò chơi dân gian bầu cua cá…

Thường thì sau khi giao thừa xong, ngày đầu tiên của năm, các bà các cô các chị hay đi chùa thắp hương cầu nguyện sức khoẻ cho toàn gia đình, cho năm mới mùa màng tốt tươi, làm ăn khấm khá.

Đơn giản, không màu mè, đúng nghĩa nghỉ ngơi quây quần cùng gia đình, có lẽ cũng là tết nhưng khác hơn so với những mùa lễ hội truyền thống khác của người khmer – nơi vốn phong phú về văn hoá nghệ thuật.

Mỗi nơi mỗi vẻ tạo nên nhiều màu cho khung cảnh đầy màu sắc của tết, trên mỗi nẻo đường, tết vẫn luôn là tết, dù văn hoá phong tục thế nào… Tết vẫn là dịp để người già ôn chuyện cũ, người trẻ ấp ủ hy vọng…