Pairings – cặp đôi…

Advertisements

Sưu tầm – Bộ máy mới của ngành công an sau khi tinh giản

Từ ngày 7/8, Bộ Công an bỏ cấp tổng cục, thu gọn còn hơn 50 cục trong đó có nhiều đơn vị mang tên mới.

Bộ máy mới của ngành công an sau khi tinh giản

Full link: https://vnexpress.net/infographics/phap-luat/bo-may-moi-cua-nganh-cong-an-sau-khi-tinh-gian-3796071.html

 

Share – TÌNH YÊU LÀ MỘT ĐỐNG HÓA CHẤT? và VÌ SAO NGƯỜI THỨ BA CÓ THỂ CHEN VÀO? — Tâm Lý Học Tích Cực

Tôi vô cùng xin lỗi nếu bài viết này làm mọi thứ màu hồng lãng mạn bay bổng linh thiêng của bạn về tình yêu vỡ tan tành. Nhưng, ngụp lặn trong các cuộc tình, hẳn bạn nhận ra tình yêu luôn trải qua các giai đoạn khác nhau. Vì sao lúc đầu luôn rất […]

via TÌNH YÊU LÀ MỘT ĐỐNG HÓA CHẤT? và VÌ SAO NGƯỜI THỨ BA CÓ THỂ CHEN VÀO? — Tâm Lý Học Tích Cực

Tôi vô cùng xin lỗi nếu bài viết này làm mọi thứ màu hồng lãng mạn bay bổng linh thiêng của bạn về tình yêu vỡ tan tành. Nhưng, ngụp lặn trong các cuộc tình, hẳn bạn nhận ra tình yêu luôn trải qua các giai đoạn khác nhau. Vì sao lúc đầu luôn rất tuyệt vời nhưng càng về sau ta càng vất vả để giữ được ngọn lửa tình? Vì sao có những người luôn thay bồ như thay áo chỉ sau vài tháng? Vì sao sau 15 năm hôn nhân chúng ta nhìn nhau và không hề thấy một chút xúc động nào trong tâm nhưng ta vẫn cảm giác không thể sống thiếu người ấy?

Đó là vì các loại hóa chất khác nhau hoạt động trong 3 giai đoạn chính của tình yêu: Cuồng Say, Giưa Giữa và Gắn Kết.

[KHỞI ĐỘNG]

Ở giai đoạn này, ta chú ý đến người này, người kia và thấy họ thật hấp dẫn. Bên trong ta có cảm giác muốn tìm hiểu họ nhiều hơn và muốn họ chú ý đến ta. Bên trong ta có nhu cầu gần gũi với một ai đó. Khi đã chốt một đối tượng và bắt đầu qua lại với người đó, đèn xanh bật lên, ta bắt đầu cho chiếc xe của mình chạy trên con đường tình yêu. Giai đoạn này có một tầm quan trọng không hề nhỏ với hạnh phúc lâu dài của các cặp đôi. Đến cuối bài, tôi sẽ giải thích vì sao.

  1. GIAI ĐOẠN CUỒNG SAY (kéo dài khoảng 18 tháng)

Hẳn ta vẫn nhớ tim mình đập thình thịch thế nào khi gặp người ấy, tay chân run rẩy khi lần đầu chạm vào nhau, check điện thoại 5 phút một lần để xem tin nhắn đã được đọc chưa, suốt ngày nghĩ đến người ấy không sao tập trung được, và chỉ muốn gặp người ấy mà thôi. Trong giai đoạn này, con người dành tới 85% thời gian khi thức để nghĩ về tình yêu mới của mình và sẵn sàng làm mọi thứ cho tình yêu, chạy 20 cây số mua cho nàng một ly trà sữa? Quỳ 3 tiếng đồng hồ trước cổng trường để xin lỗi nàng? Chuyện nhỏ. “Thủ phạm” chính tạo ra tất cả những điều này là 3 cái tên: DOPAMINE,  NOREPINEPHRINE và SEROTONIN (cả trăm cái tên phụ khác, chúng ta tạm thời bỏ qua nha).

DOPAMINE là hormone mang lại niềm vui và cảm giác hài lòng ngay lập tức, khiến cho người ta muốn có nó nhiều hơn. Khi con người hấp thụ những chất gây nghiện, não tiết ra rất nhiều dopamine, ví dụ như cocaine, nicotine. Tập thể dục cũng tăng dopamine (đó là lý do sau khi tập chúng ta thường thấy rất sảng khoái). Làm một cái gì đó mới, hay chơi trò cảm giác mạnh, cũng làm tăng loại hormone này (vì thế các cuộc tình mới luôn là nguồn cung cấp dopamine dào dạt). Người ta rất dễ nghiện cảm giác do dopamine mang đến và cứ muốn có nó hoài.

NOREPINEPHRINE là thủ phạm gây ra chuyện đổ mồ hôi tay, thở gấp và dạ dày cứ quặn lên. Chuyện này xảy ra ở  hiều cường độ khác nhau, nó làm cho bạn gặp người ta thì rất vui nhưng đồng thời người cứ hộp như thế nào ấy, lần đầu nắm tay mà tay ướt nhẹp, bụng thì quặn lên : )

SEROTONIN được mệnh danh là “nhạc trưởng của xúc cảm”. Lượng serotonin cao đồng nghĩa với việc mình sẽ thấy bình an hơn, ngược lại, thiếu serotonin con người dễ bị ám ảnh, lo âu. Chính trong giai đoạn này, serotonin tụt xuống thấp tủn. Vì sao ta cứ thấp thỏm chờ đợi một tin nhắn? Vì sao ta cứ suốt ngày nghĩ đến người đó đang làm gì và rất muốn gặp một cái thôi? Tất cả là tại hormone này. Sao mà nhè lúc này mà nó tiết ra ít dữ vậy chứ.

Tóm lại, chúng ta có công thức như sau:

tăng Dopamine + tăng NOREPINEPHRINE + giảm SEROTONIN = PHÁT ĐIÊN VÌ TÌNH

Chuyện này xảy ra với tất cả mọi người, không trừ một ai. Ta cảm thấy chàng và nàng chính là định mệnh của đời ta. Ta cảm thấy đây là “người con trai thông minh, vui tính, chu đáo nhất mà tớ từng gặp” hoặc “Nàng là người con gái tuyệt vời nhất, hấp dẫn nhất trên thế gian này”. Tình dục trong giai đoạn này rất tuyệt diệu. Tình yêu trong giai đoạn này là một cơn SÓNG THẦN, nó cuốn phăng tất cả, và chúng ta dính chưởng.

Đây là lý do tình yêu hay bị người ta gán cho cái mác “mù quáng”. Nhưng giai đoạn này không phải là ẢO. Tất cả đều là THẬT. Mọi thứ đều diễn ra trong người bạn đấy chứ, đâu phải là các loại hóa chất này không có thật đâu. Có điều, sau 12 đến 18 tháng, các hóa chất này bắt đầu yếu dần đi. Với một số người, thời gian có thể ngắn hơn, chỉ kéo dài vài tháng. Nên nếu họ nghiện cái hợp chất phía trên, thì thường họ sẽ có xu hướng đi tìm các mối quan hệ mới để lại có các hóa chất này. Với số đông, đa phần giai đoạn đẹp nhất là 1 năm đầu khi yêu nhau. Sau đó, mối quan hệ sẽ chuyển sang một giai đoạn khác.

  1. GIAI ĐOẠN GIƯA GIỮA (18 tháng đến 3 năm)

Đây là giai đoạn của sự say mê pha lẫn băn khoăn. Sóng thần chuyển sang những đợt sóng vừa phải, lúc  mạnh lúc nhẹ để những kẻ yêu nhau vừa chơi nhảy sóng, vừa có thể thỉnh thoảng lướt ván. Nhưng nếu giai đoạn trước tình yêu bịt hết cả hai con mắt của bạn lại, vào giai đoạn này, một con mắt đầu mở ra.

Vì thế, lúc này, bạn bắt đầu nhận ra “người này không ổn lắm thì phải”, hoặc “có một vài điểm chúng mình không hợp nhau”, nhưng bạn vẫn còn đang say mê nên các băn khoăn đó chưa đủ để khuấy động bạn. Bạn có thể bắt đầu chuẩn bị tiến tới hôn nhân, nhưng thỉnh thoảng bạn nghĩ về một người yêu cũ nào đó, hoặc một mẫu hình nào đó mình có thể hẹn hò trong tương lai. Tóm lại, đại loại, vài thứ bắt đầu xuất hiện.

Đây là giai đoạn rất quan trọng, nó sẽ quyết định mối quan hệ của bạn có trở thành một mối quan hệ lâu dài hay không. Lý do tớ sẽ giải thích sau, sau khi đã đi qua giai đoạn thứ ba.

  1. GIAI ĐOẠN GẮN KẾT

Khi vào tới giai đoạn này, dopamine gần như hết sạch. Vì thế, hormone quyết định sự gắn kết của cặp đôi chính là OXYTOCIN và VASOPRESSIN.

Các mẹ đã sinh con chắc hẳn không lạ gì với Oxytocin. Đây là hormone sản xuất ra nhiều nhất trong quá trình chuyển dạ, và là thứ gắn chặt người mẹ với đứa bé. OXYTOCIN khiến người ta cảm thấy gắn kết với con một cách tận tụy, sâu sắc, và muốn ở bên cạnh nó cả đời. Vì thế khi người mẹ mất đi đứa con (hoặc cảm thấy như con mình bị cướp), không một từ nào có thể diễn tả được sự đau khổ của họ. Và vì thế, không lạ gì khi có những bà mẹ yêu con đến nỗi ghen với cả con dâu con rể.

OXYTOCIN và VASOPRESSIN tạo cho cặp đôi cảm giác cực kỳ an toàn, thoải mái, gắn kết, muốn ở bên nhau suốt đời. Và trong quá trình đồng hành lâu dài, nếu duy trì được lượng Oxytocin, cặp đôi sẽ có một gắn kết đủ chắc để cùng nhau vượt qua song gió trong cuộc đời. Nếu đủ Oxytocin, sóng thần tình yêu sẽ chuyển hóa thành một đại dương sâu thẳm.

Chính vì lý do này, trong rất nhiều tài liệu, OXYTOCIN được mệnh danh là HORMONE TÌNH YÊU. Và cũng chính vì thế ở giai đoạn 2, nếu các cặp đôi cùng nhau thực hiện các hoạt động giúp tăng OXYTOCIN thì khả năng đi cùng nhau lâu dài là rất cao.

Vậy là sao để tăng OXYTOCIN cho cặp đôi (họ ko thể… đẻ ra nhau như mẹ với con [cười nham nhở])? Đây là một số cách:

  • Tiếp xúc với cơ thể người khác, điều này không có nghĩa là nhất thiết phải có sex. Nằm ôm nhau xem phim, đọc sách, vuốt ve, đụng chạm sẽ giúp các cặp đôi thân thiết lâu dài. Đây được xem là một trong những phương pháp hiệu quả nhất để tăng oxytocin tự nhiên (vì thế, rất chia buồn với các cặp đôi yêu xa, nhưng đừng lo, các bạn có thể thử các cách bên dưới)
  • Được nghe những lời ngọt ngào, khích lệ, yêu thương, nhận được cử chỉ tốt đẹp từ người bạn đời của mình. Vì thế, hãy ngọt ngào, khen ngợi, hãy nói lời yêu thương, hãy cư xử ân cần dù đôi khi nó rất… sến, nhưng nó tốt cho sức khỏe : )
  • Được chú ý lắng nghe khi giao tiếp. Khi được người đối diện lắng nghe một cách chú tâm, oxytocin sản sinh trong cơ thể, tạo ra sự gắn kết, điều này đúng không chỉ với bạn đời mà với các mối quan hệ bình thường, nên nếu bạn muốn thắt chặt quan hệ với ai đó, chỉ cần dành thời gian chất lượng cho họ, chỉ cần nghe, không phán xét, không phone, không laptop.
  • Cười cùng nhau và khóc cùng nhau
  • Cùng nhau tham gia tập luyện thể thao hay làm một cái gì đó mới (trồng cây, nuôi thú cưng, vẽ tranh…)

VÌ SAO NGƯỜI THỨ BA CÓ THỂ CHEN VÀO? LÀM SAO ĐỂ BẢO VỆ TÌNH YÊU?

Với góc nhìn hóa chất thì đến đây hẳn bạn đã hiểu: người thứ ba là một nhân tố kích thích mới, tức là sẽ đem lại cho người kia cảm giác ở giai đoạn một. Người mới luôn là một cơn sóng thần dễ dàng cuốn phăng đi các mối quan hệ mà Oxytocin chưa đủ mạnh để tạo gắn kết lớn. Người kia của bạn sẽ thấy như hết yêu bạn rồi, và người mới xuất hiện này mới là tình yêu đích thực, nhưng thực ra cái họ đang có là giai đoạn 1 với người mới, và giai đoạn 3 dở dang thiếu hụt Oxytocin với người đương thời.

Vì thế, một lời khuyên để hạn chế việc ta bị cuốn theo bởi dopamine của người mới đó là:

  • Giữ mình ngay từ giai đoạn [KHỞI ĐỘNG], không bật đèn xanh và không tạo điều kiện cho mình và người thứ ba nảy sinh dopamine, không châm dầu vào lửa, không để cho chiếc xe chạy trên một con đường khác.
  • Tìm dopamine từ các nguồn khác có thể cho ta cảm giác mới mẻ, chinh phục, khám phá như: leo núi, chơi thể thao, trồng xương rồng… đại loại là: CÓ MỘT ĐAM MÊ NÀO ĐÓ.
  • Liên tục xây dựng mối quan hệ với người đương thời, hâm nóng tình cảm, đi “hấp hôn” để thêm dopamine và oxytocin.

GIỮ CÁI NHÌN THỰC TẾ

Đến đây thì mong rằng bức tranh tình yêu của bạn đã có những nét chấm phá mới, thực tế hơn, hữu ích hơn. Ở giai đoạn nào, mất đi tình yêu cũng đều rất đau đớn. Nếu như ở giai đoạn (1), cảm giác mất đi tình yêu giống như một đứa trẻ cực kỳ đói khát bị giật mất miếng bánh đang ăn dở trên tay (rất không cam lòng), thì ở giai đoạn (3), mất đi người bạn đời cảm giác sẽ như bị mất đi một phần cơ thể. Hiểu được những điều này không phải để chúng ta sợ hãi tình yêu, hay đánh giá thấp tình yêu, mà là để chúng ta hiểu được những cảm xúc của chính mình để cùng nhau vun đắp cho mối quan hệ trở nên sâu sắc hơn. Nếu bạn đang ở giai đoạn (1), hãy cứ tận hưởng, đồng thời vẫn hiểu rằng chặn đường phía trước sẽ như thế nào để không bị thất vọng khi thấy cảm xúc của mình và người kia thay đổi.

Vì tâm lý học tích cực chính là là luôn giữ cái nhìn thực tế.

Vậy… mối quan hệ của bạn đang ở giai đoạn nào rồi? : )

***

Người viết: Cat Phuong Np

Bản quyền: Cánh Diều Project

Tài liệu tham khảo

Marazziti, D., Akiskal, H. S., Rossi, A., & Cassano, G. B. (1999). Alteration of the platelet serotonin transporter in romantic love. Psychological Medicine29(3), 741-745.

Tennov, D. (1998). Love and limerence: The experience of being in love. Scarborough House.

Zeki, S. (2007). The neurobiology of love. FEBS letters581(14), 2575-2579.

Share – Tổng quan về Caffeine — Exploring Psychology – Khám Phá Tâm Lý Học

Caffeine là loại ‘ma túy’ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới, có trong cà phê, trà, nước tăng lực, thuốc cảm không kê toa, thực phẩm giảm cân, và socola. Mặc dù tiêu thụ một lượng nhỏ và vừa caffeine được xem là an toàn nhưng vẫn có người sử dụng trở […]

via Tổng quan về Caffeine — Exploring Psychology – Khám Phá Tâm Lý Học

Caffeine là loại ‘ma túy’ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới, có trong cà phê, trà, nước tăng lực, thuốc cảm không kê toa, thực phẩm giảm cân, và socola. Mặc dù tiêu thụ một lượng nhỏ và vừa caffeine được xem là an toàn nhưng vẫn có người sử dụng trở nên lệ thuộc và không thể cắt giảm liều lượng mặc cho những vấn đề sức khỏe gây ra bởi lượng caffein mà họ tiêu thụ. Mặc dù không được coi là một bệnh lý chẩn đoán về lâm sàng nhưng rối loạn liên quan đến caffeine, hay rối loạn sử dụng caffeine, được liệt kê trong cuốn DSM-5 như một dạng bệnh lý cần được nghiên cứu thêm vì tác dụng kích thích và các tác dụng phụ của caffeine có thể khá tương tự với các chất kích thích tiêu khiển khác. Một số người, đặc biệt là thanh thiếu niên, sử dụng và lạm dụng các sản phẩm có chứa caffeine như nước tăng lực để đạt được trạng thái ‘phê’, dùng chung caffeine và các chất có cồn để đạt được hiệu quả mạnh hơn. Rối loạn sử dụng caffeine bao gồm hội chứng ngộ độc caffeine và hội chứng cai caffeine.

Caffeine is the most commonly used drug in the world, found in coffee, tea, soda, energy drinks, over-the-counter cold medications, weight-loss aids, and chocolate. Although consumption of small to moderate doses of caffeine is thought to be safe, some users become dependent on caffeine and are unable to cut back despite problems caused by their caffeine intake. While not technically a diagnosable condition, caffeine-related disorder, or caffeine-use disorder, is listed in the DSM-5 as a condition that warrants further study because the stimulating effects and side effects of caffeine can mimic those of recreational drugs. Some people, particularly adolescents, are known to use and abuse caffeinated products such as energy drinks to achieve a “high,” and to combine caffeine and alcohol for a more potent effect. Caffeine-related disorders include caffeine intoxication and caffeine withdrawal.

Know-about-the-withdrawal-symptoms-of-caffeine-addiction

Định nghĩa. Definition

Mặc dù nhiều người Mỹ thường sử dụng caffeine, nhưng chỉ có một số ít mới gặp vấn đề về mặt xã hội và ảnh hưởng đến công việc vì thói quen này. Tuy nhiên, Hiệp Hội Tâm Thần Hoa Kỳ (APA) công nhận ngộ độc caffeine là một bệnh lý được chẩn đoán lâm sàng, cùng với Rối loạn giấc ngủ và lo âu do caffeine, và hội chứng cai caffeine.

Although Americans commonly use caffeine, few experience problems socially and occupationally because of the habit. Nevertheless, the American Psychiatric Association recognizes caffeine intoxication as a diagnosable condition, along with caffeine-induced anxiety and sleep disorder, and caffeine withdrawal.

Nhiều thực phẩm có chứa caffeine như cà phê, trà, socola, và đồ uống có ga. Caffeine cũng tồn tại trong các loại thuốc không kê toa như thuốc giảm đau, thuốc ức chế thèm ăn và thuốc cảm. Caffeine hoạt động như một chất kích thích hệ thần kinh trung ương và cũng là một chất lợi tiểu. Nhiều người đồn rằng cà phê sẽ làm người say tỉnh táo; nhưng không phải, chúng làm cho người ta bồn chồn kích động. Không bao giờ đưa caffeine cho người đang bị bỏng lạnh hoặc bị hạ thân nhiệt. Là một chất kích thích, caffeine có thể làm tim đập nhanh hơn và làm gia tăng ảnh hưởng của cơn lạnh lên cơ thể.

Many foods contain caffeine, including coffee, tea, chocolate, and carbonated beverages. So do over-the-counter medicines—pain relievers, appetite suppressants, and cold medicines. Caffeine functions as a central nervous system stimulant and also a diuretic. It is a myth that coffee will sober up an inebriated person; instead, it causes agitation. Caffeine should never be given to a frostbite or hypothermia victim. As a stimulant, caffeine can cause the heart to beat faster and hasten the effects of cold temperatures on the body.

Lượng caffeine trong các thực phẩm và đồ uống ta thường sử dụng? How much caffeine is there in the foods and beverages we commonly associate with it?

– Cà phê, pha phin, 40 đến 180mg/tách. Coffee, brewed, 40 to 180 mg per cup

– Cà phê, gói hòa tan, 30 đến 120mg/tách. Coffee, instant, 30 to 120 mg per cup

– Cà phê, loại decaf (lọc bỏ caffeine), 3 đến 5mg/tách. Coffee, decaffeinated, 3 to 5 mg per cup

– Trà, pha kiểu Mỹ, 20 đến 90mg/tách. Tea, American brew, 20 to 90 mg per cup

– Trà, pha kiểu nhập khẩu, 25 đến 110mg/tách. Tea, imported brew, 25 to 110 mg per cup

– Trà, gói hòa tan, 28mg/tách. Tea, instant, 28 mg per cup

– Trà, đóng lon ướp lạnh, 22 đến 36mg/340g. Tea, canned iced, 22 to 36 mg per 12 ounces

– Cola và những loại nước ngọt khác có caffeine, 36 đến 90mg/340g. Cola and other soft drinks with caffeine, 36 to 90 mg per 12 ounces

– Cacao, 4mg/tách. Cocoa, 4 mg per cup

– Socola sữa, 3 đến 6mg/28g. Chocolate milk, 3 to 6 mg per ounce

– Socola, đen đắng, 25mg/28g. Chocolate, bittersweet, 25 mg per ounce

Triệu chứng. Symptoms

Một khi được tiêu hóa, caffeine sẽ được hấp thu và truyền đi nhanh chóng lên não. Caffeine không gây tích lũy lưu lượng máu cũng không được lưu trữ lại trong cơ thể lâu. Nó được bài tiết sau một vài giờ qua đường tiểu.

Once ingested, caffeine is absorbed and distributed quickly. After absorption, it passes into the brain. Caffeine does not accumulate in the bloodstream nor is it stored in the body. It is excreted in the urine hours after it has been consumed.

Tác động của caffeine lên sức khỏe đã được nghiên cứu rộng khắp – đặc biệt là những tác động của nó lên bệnh xơ vú, các bệnh lý về tim mạch, dị tật bẩm sinh, ảnh hưởng lên chức năng sinh sản và hành vi ở trẻ em. Ủy ban Khoa học, thuộc Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ (AMA) kết luận, “người uống trà, cà phê ở mức độ vừa phải có thể không gặp phải các vấn đề sức khỏe liên quan với điều kiện rằng những thói quen sống khác (chế độ ăn, uống rượu bia) cũng ở mức độ vừa phải.”

The effects of caffeine on health have been widely studied—in particular, its effects on fibrocystic breast disease, conditions of the heart and blood vessels, birth defects, reproductive function, and behavior in children. The American Medical Association Council on Scientific Affairs concludes, “Moderate tea or coffee drinkers probably have no concern for their health relative to their caffeine consumption provided other lifestyle habits (diet, alcohol consumption) are moderate as well.”

Sử dụng caffeine ở nhiều cấp độ nói chung không dẫn đến các triệu chứng đáng lo, và trong thực tế, nó có thể mang đến một số lợi ích sức khỏe như giảm nguy cơ mắc bênh tim và đột quỵ, hỗ trợ điều trị đau nửa đầu, gia tăng tỉnh táo và đầu óc nhạy bén, giảm triệu chứng trầm cảm, thậm chí giúp giảm nguy cơ mất trí nhớ. Đối với một số người, những lợi ích này có thể lấn át các nguy cơ và mặt tiêu cực liên quan đến caffeine. Tuy nhiên, sử dụng quá mức có thể dẫn đến hiện tượng gọi là “ngộ độc caffeine”. Ngộ độc caffeine là việc sử dụng caffeine ở mức cao gây bồn chồn không yên, lo lắng, phấn khích, da mặt đỏ, mất ngủ, tiểu nhiều, cào ruột, nhịp tim bất thường, co giật cơ, giật mình hốt hoảng hay run rẩy, hoặc bất cứ triệu chứng kết hợp nào. Vì mỗi người khác nhau sử dụng caffeine theo những cách khác nhau nên rất khó để đưa ra một định nghĩa chung về “quá liều”.

Light to moderate caffeine consumption does not generally lead to worrisome symptoms and, in fact, may provide some health benefits, including reduced risk of heart disease and stroke, treatment of migraine headaches, increased alertness and mental acuity, fewer symptoms of depression, and even reduced risk of dementia. For some people, these benefits may outweigh any risks or negative side effects associated with caffeine use. Overuse, however, can lead to what is known as “caffeine intoxication.” Caffeine intoxication refers to recent consumption of an amount of caffeine that results in restlessness, nervousness, excitement, flushed facial skin, insomnia, increased urine production, gastrointestinal upset, irregular heartbeat, muscle twitching, jumpiness or shakiness, or any combination of these symptoms. Since caffeine affects different people in different ways, the definition of “overuse” can vary.

Mặc dù một số nghiên cứu chỉ ra rằng sử dụng caffeine thường xuyên giống một thói quen hơn là nghiện, nhưng trong thực tế, quá liều sẽ gây ra những triệu chứng thực thể và tâm lý; đồng thời, khi ngưng sử dụng các đồ uống có caffeine, người dùng sẽ gặp phải các triệu chứng cai, chứng tỏ caffeine là chất gây nghiện. Các triệu chứng cai caffeine có thể bao gồm đau đầu, mệt mỏi hoặc buồn ngủ lơ mơ, tâm trạng trì trệ, khó tập trung và thậm chí có các triệu chứng giống cảm cúm như buồn nôn hoặc đau cơ. Triệu chứng cai thường bắt đầu 12 đến 24 giờ sau lần sử dụng cuối cùng, lên đỉnh điểm sau 1 đến 2 ngày không sử dụng, và có thể kéo dài tới 9 ngày.

04_coffee_Ways-to-Make-Your-Coffee-Habit-Healthier_326718836_kikovic_FT.jpg

Although some research suggests that regular use of caffeine is more of a habit than an addiction, the fact that overuse causes physical and psychological symptoms, and withdrawal symptoms develop when people stop drinking caffeinated beverages indicates the substance has addictive qualities. Symptoms of caffeine withdrawal can include headache, significant fatigue or drowsiness, depressed mood, difficulty concentrating, and even flu-like symptoms such as nausea and muscle pain. Withdrawal symptoms typically begin 12 to 24 hours after the last caffeine dose, peak after one to two days of abstinence, and may last up to nine days.

Nguyên nhân. Causes

Không có yêu cầu nào về chế độ ăn uống liên quan đến caffeine. Tuy nhiên, sử dụng vừa phải thường sẽ không gây nguy cơ nào về sức khỏe. Khoảng 250 đến 300mg caffeine một ngày được xem là một liều vừa phải, tương đương khoảng 3 tách cà phê. Hơn 10 tách (227g/tách) một ngày là quá mức. Từ mức sử dụng này, ngộ độc caffeine có thể xảy ra.

There is no dietary requirement for caffeine. Moderate caffeine intake, however, is not commonly thought to pose a health risk. About 250 to 300 milligrams of caffeine per day is considered a moderate amount. This is roughly equivalent to three cups of coffee. More than ten 8-ounce cups per day is excessive. Caffeine poisoning from excess amounts can occur.

Caffeine được định nghĩa là một chất ma túy vì nó là chất kích hệ thần kinh trung ương, sử dụng thường xuyên có thể gây lệ thuộc về mặt thể chất nhẹ nhưng nói chung không ảnh hưởng lên cơ thể, đời sống xã hội hay tài chính như những chất gây nghiện khác. Một nghiên cứu tìm hiểu mối liên hệ giữa việc sử dụng caffeine và các chất có cồn ở thanh thiếu niên đã phát hiện ra rằng những người trẻ tuổi sử dụng nước tăng lực có chứa caffeine sẽ có khả năng sử dụng rượu bia cao hơn về sau. Điều này một phần có thể là do phụ huynh không giám sát kỹ và thiếu biện pháp can thiệp sớm.

Caffeine is defined as a drug because it is a central nervous system stimulant. Regular use may cause a mild physical dependence but generally does not affect your physical health or social or financial well-being like other addictive substances. One study that looked at the association between caffeine and alcohol use in adolescents found, however, that young people who used caffeinated energy drinks were more likely to use alcohol in later years. This appeared to be due, in part, to lack of parental supervision and lack of early intervention.

Việc trẻ em sử dụng caffeine nên được giám sát kỹ càng. Đồ uống có chứa caffeine có thể dùng thay cho các loại thực phẩm dinh dưỡng như sữa, và điều này có thể cản trở hấp thu một số chất dinh dưỡng nhất định như canxi và sắt. Một đứa trẻ có thể ăn ít hơn sau khi uống caffeine vì nó là chất ức chế thèm ăn. Vì caffeine không có giá trị dinh dưỡng nên nói chung trẻ em nên tránh sử dụng. Đối với trẻ tăng động, cần đặc biệt loại bỏ caffeine ra khỏi chế độ ăn vì đây là chất kích thích.

A child’s caffeine consumption should be closely monitored. Caffeinated beverages may be replacing nutrient-dense foods such as milk, and their consumption may interfere with the absorption of certain nutrients such as calcium and iron. A child may also eat less after drinking caffeine because it acts as an appetite suppressant. Since there is no nutritional value in caffeine, it is generally recommended that children avoid it. For a hyperactive child, it’s imperative to eliminate caffeine from the diet as it acts as a stimulant.

Phụ nữ có thai và người mắc bệnh tim mạch vành hoặc loét đường tiêu hóa có thể cần bác sĩ tư vấn giảm hoặc tránh sử dụng caffeine.

Pregnant women and people with coronary heart disease or peptic ulcers may be advised by their health care provider to restrict or avoid using caffeine.

Nhiều loại thuốc có tương tác với caffeine. Hãy trao đổi với bác sĩ hoặc dược sĩ về những tương tác thuốc tiềm ẩn trong quá trình điều trị của mình.

Many drugs interact with caffeine. Consult your health care provider or pharmacist about potential interactions whenever you take medications.

Điều trị. Treatments

Vì rối loạn sử dụng caffeine không được xem là một bệnh lý chính thức nên không có hình thức điều trị chuẩn hóa nào dành cho rối loạn này. Ta cần xem xét có nên đưa nó vào danh sách các rối loạn sử dụng chất hay không vì quá liều caffeine lũy tiến sẽ gây lệ thuộc, từ đó dẫn đến những hệ quả tiêu cực cho cơ thể, tâm lý và xã hội. Hãy cân nhắc và hỏi ý kiến bác sĩ trong trường hợp cần nhập viện nếu bị quá liều caffeine.

Since caffeine-related disorder is not recognized as a diagnosable condition, there is no standardized treatment. It is on the list of substance-related disorders that require more investigation because progressive caffeine overuse that results in a dependency could lead to negative physical, psychological, and social consequences. In case of a caffeine overdose, call your local Poison Control to assess whether hospitalization is necessary.

150814115303-16-coffee-health-super-169

 Tham khảo: Sources:

National Institutes of Health

Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, fourth edition, revised

American Psychiatric Association

Federal Emergency Management Agency, “Surviving the Storm”

Caffeine and Women’s Health by International Food Information Council Foundation and Association of Women’s Health; Obstetric and Neonatal Nurses.

Nguồn: https://www.psychologytoday.com/us/conditions/caffeine

Share – Siêu năng lực của những người mắc “rối loạn lo âu” – căn bệnh tưởng như thê thảm nhất thế giới — Ngon 24h

Trong những chứng bệnh tâm lý phổ biến thì bệnh gây ra nhiều rắc rối nhất có thể nói là chứng “rối loạn lo âu” (anxiety disorder). Hãy thử tưởng tượng, bạn luôn cảm thấy lo sợ trước những tình huống có thể xảy ra, luôn nghĩ về những khung cảnh tiêu cực một cách […]

via Siêu năng lực của những người mắc “rối loạn lo âu” – căn bệnh tưởng như thê thảm nhất thế giới — Ngon 24h

Trong những chứng bệnh tâm lý phổ biến thì bệnh gây ra nhiều rắc rối nhất có thể nói là chứng “rối loạn lo âu” (anxiety disorder).

Hãy thử tưởng tượng, bạn luôn cảm thấy lo sợ trước những tình huống có thể xảy ra, luôn nghĩ về những khung cảnh tiêu cực một cách vô lý, thậm chí vẫn tiếp tục lo lắng ngay cả khi tình huống đã kết thúc. Đó chính là chứng rối loạn lo âu – chứng bệnh có thể gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống đời thường của bạn.

Những tưởng người mắc phải rối loạn lo âu phải sống một cuộc đời bi kịch. Nhưng không! Đổi lại, họ có những khả năng hết sức kỳ lạ, thậm chí được ví với siêu năng lực mà người thường không hề có.

1. Cực giỏi khi xác định ai đang nói dối

Siêu năng lực của những người mắc rối loạn lo âu - căn bệnh tưởng như thê thảm nhất thế giới - Ảnh 1.

Những người mắc rối loạn lo âu lại rất nhạy bén với những gì xảy ra xung quanh. Trong khi đó, những người nói dối cũng thường để lộ một số sơ hở nhất định. Rõ ràng, một người nhạy bén sẽ dễ dàng nắm được các sơ hở ấy hơn bình thường.

Theo các chuyên gia tâm lý học thì khi nói chuyện, người mắc chứng bệnh này có xu hướng tập trung hơn và nghe như nuốt từng từ. Thế nên, tốt nhất là không nên nói dối họ, vì có khi nói thật họ cũng chẳng tin đâu.

2. IQ cao đột biến

Siêu năng lực của những người mắc rối loạn lo âu - căn bệnh tưởng như thê thảm nhất thế giới - Ảnh 2.

Bức hình trên là anh Kim Ung Yong – một trong những thiên tài thông minh nhất thế giới. Anh đã thành thạo 4 ngôn ngữ ngay từ khi lên 2 tuổi, học đại số từ năm lên 3, trở thành sinh viên danh dự của một trường đại học khi mới lên 4, và nhận được lời mời của NASA khi mới tròn 7 tuổi. Sách kỷ lục Guinness cũng ghi nhận Yong là nhân vật có IQ cao nhất thế giới, ở mức 210.

Và có thể bạn cũng đoán ra, Yong cũng là một người mắc chứng rối loạn lo âu. Nhưng chứng bệnh này không gây quá nhiều rắc rối cho Yong. Trái lại, nó giúp anh trở nên sáng suốt hơn, khả năng phân tích vượt trội hơn, đặc biệt là những khi cảm thấy lo lắng. Theo lời Yong chia sẻ thì anh có khả năng tập trung cao đến mức gần như không thứ gì có thể lọt ra khỏi tầm nhìn.

Thực tế cũng cho thấy những người có IQ cao thường cũng mắc phải chứng rối loạn lo âu, và ngược lại. Khoa học đã từng đưa ra nhiều bằng chứng về mối liên hệ này rồi.

3. Giác quan thứ 6 cực sắc bén

Siêu năng lực của những người mắc rối loạn lo âu - căn bệnh tưởng như thê thảm nhất thế giới - Ảnh 3.

Có hay không có cái gọi là “giác quan thứ 6” thì vẫn còn hạ hồi phân giải. Nhưng với các nhà khoa học tin vào nó, thì những bệnh nhân mắc chứng rối loạn lo âu cũng đồng thời có một giác quan thứ 6 sắc bén.

Dù không có căn cứ khoa học cụ thể, nhưng một số báo cáo đã chỉ ra rằng những người này dường như có dự cảm trước về tương lai, và nhờ đó tránh được rất nhiều thảm họa trong đời.

Thậm chí, một nghiên cứu tại Anh còn chỉ ra rằng thời gian dự cảm của những người này có thể lên tới 200 mili giây – một con số có thể coi là đủ để cứu thoát chết khi cần thiết.

4. Khả năng đọc nguội bá đạo

Siêu năng lực của những người mắc rối loạn lo âu - căn bệnh tưởng như thê thảm nhất thế giới - Ảnh 4.

Không rõ vì sao, nhưng những người bị rối loạn lo âu cũng đồng thời có khả năng nắm bắt được đối phương đang nghĩ gì. Họ dễ dàng để ý được các dấu hiệu trong ngôn ngữ cơ thể, và phản ứng với tùy người dựa trên các dấu hiệu đó.

Các chuyên gia tâm lý cũng đánh giá những người bị rối loạn lo âu là “nhạy cảm một cách đáng sợ.” Đôi khi, bạn sẽ phải ngạc nhiên khi thấy họ hiểu bạn đến mức nào.

5. Trí nhớ vượt trội, sáng tạo đỉnh cao

Siêu năng lực của những người mắc rối loạn lo âu - căn bệnh tưởng như thê thảm nhất thế giới - Ảnh 5.

Người bệnh có xu hướng nghĩ dài hơn bình thường, thế nên xét trên một góc độ nào đó, họ cũng có trí nhớ tốt hơn.

Đa số các chuyên gia tâm lý cũng đánh giá khả năng sáng tạo của người mắc chứng rối loạn lo âu là cực kỳ tốt, vì họ luôn phải suy nghĩ và nhìn mọi việc dưới nhiều góc độ (trong đó có cả góc tiêu cực). Điều này cho phép họ tư duy vượt ra ngoài khuôn khổ, và cực kỳ đáng sợ trong công việc.

6. Khả năng đánh giá, ra quyết định và có sự đồng cảm cao

Siêu năng lực của những người mắc rối loạn lo âu - căn bệnh tưởng như thê thảm nhất thế giới - Ảnh 6.

Thực sự thì không ai có thể đưa ra các đánh giá chuẩn chỉnh được như những người mắc phải chứng rối loạn lo âu.

Lý do là vì họ luôn phải trải qua nhiều cung bậc cảm xúc, thế nên họ dễ dàng tự đặt mình vào hoàn cảnh của người khác. Họ hiểu được người khác muốn gì, và dễ dàng đồng cảm hơn.

7. Tràn đầy năng lượng

Siêu năng lực của những người mắc rối loạn lo âu - căn bệnh tưởng như thê thảm nhất thế giới - Ảnh 7.

Ai cũng nghĩ rằng người suốt ngày lo lắng sẽ thấy mệt mỏi. Nhưng thực tế thì ngược lại: họ có rất nhiều năng lượng.

Não của họ không khi nào ngừng suy nghĩ, trong khi cơ thể cũng không ngừng vận động. Chứng lo âu ấy giống như một nguồn năng lượng, giúp họ vận động cả ngày mà không cảm thấy mệt như người thường.

Tham khảo: Business Insider

Sưu tầm – 6 things that surprised us about China in August

Customers take pictures of cups of tea named in the fashion of the Sang subculture at the Sung Tea shop in Beijing, August 24, 2017. The tea creations are called: "You are the Fattest" and "You don't have nothing, you have a disease". Picture taken August 24, 2017. REUTERS/Thomas Peter - RC14B353AD70

1. DNA testing kit makers are investing in China

China’s DNA sequencing market is expected to grow to 18.3 billion yuan by 2022 from 7.2 billion yuan last year – much faster than the overall global market because of rising income and growing investments in healthcare infrastructure, studies show. We’ll be welcoming Jay Flatley, the Executive Chairman of sequencing company Illumina as a Co-Chair to the Annual Meeting of the New Champions next month in Tianjin.

2. China’s millennials would rather work in ’emerging first-tier cities’ than Beijing or Shanghai

The increasing property prices and higher labour costs (as well as appealing business incentives from municipal governments) have encouraged many leading companies to move to second- and third-tier cities. According to a recent study of new graduates, 40% of those surveyed hoped to find work in so-called “emerging first-tier cities” such as Chengdu, Hangzhou and Chongqing, versus only 27% who hope to live and work in first-tier cities.

3. The future of communications in China is quantum

In order to promote the industrialization of quantum technology for computing, measurement and telecommunication, China is establishing a national standards commission. China has already pioneered a number of innovations (including the world’s first 2,000km-long line for secure quantum telecommunications and the first quantum communications satellite) but has been lacking official industry standards.

4. ‘Little Yellow Horses’ have started trundling around Beijing

As the cost of labour increases in first-tier cities, retail companies are looking to the Fourth Industrial Revolution to solve their home delivery challenges. While we don’t expect robots to replace the thousands of delivery scooters zipping around Beijing any time soon, there are more and more pilot projects of delivery robots and drones in cities – including yellow bots equipped with GPS system, cameras and radar. Innovation in logistics and retail looks set to continue.

 

5. China’s internet market just opened up further, but few outside of China noticed

China’s internet population passed 800 million people this month, but another expansion is also under way in terms of making internet access even more inclusive. After five years of pilot testing, China is rapidly expanding the virtual telecom operator business to license 15 companies to resell internet access. The hope is that this move will increase innovation capacity and improve service quality.

Image: China Network Information Center, CBNData and International Monetary Fund

6. The Global 500 is more Chinese than ever

With 13 new Chinese companies joining the Fortune Global 500 this year, there are 120 companies in the ranking, surpassed only by the US with 126. China continues to push the reform of state-owned enterprises and to encourage their globalization. Can we expect more Chinese companies to join the list in the future?

By David Aikman

Full link: https://www.weforum.org/agenda/2018/08/6-things-we-learned-about-china-in-august

 

Sưu tầm – What’s the future of Blockchain?

A message on a vendor's booth is seen on display at the Consensus 2018 blockchain technology conference in New York City, New York, U.S., May 16, 2018. REUTERS/Mike Segar

Blockchain is all the rage. We are constantly bombarded by reports of how it will change the world (e.g. Casey et al. 2018). While it may alter many aspects of our lives, our suspicion is that they will be in areas that we experience only indirectly. That is, blockchain technology mostly will change the implementation of invisible processes – what businesses think of as their back-office functions.

In this column, we briefly describe blockchain technology, the problem it is designed to solve, and the impact it might have on finance.

Blockchain basics 

A blockchain is a record-keeping mechanism. In that sense, it is simply a 21st century version of the recording systems that have been around since people started chiselling marks on cave walls. Over the millennia we have moved from ledgers that are carved into clay and stone to ones that are digital.

To be more specific, consider the problem of tracking the ownership of a share of equity in a particular company. Imagine that there is a sequential list of all owners of that share, with the name of each former owner crossed out. The last one at the bottom of the list is the current owner. The key question is the following: who has the right to cross out that last name and to write in a new one?

Put another way, the challenge we face is to create a tamper-proof and universally accepted way of recording things like ownership of assets, obligations of one person to provide a product or service to another, levels of inventories, personal identities, and the like. Having a secure and trusted mechanism for accessing and changing those records is essential if our economic lives are to function smoothly. Most people will care little about the details. What we require is that the system be reliable and that it cannot be hijacked by someone with ill intent.

The four types of ledgers

Returning to the question at hand, in thinking about the challenge of maintaining records – a ledger – it is useful to consider differences along two dimensions: the structure of the database in which the records are stored, and how we establish that any changes are legitimate. Along the first dimension – call it ledger structure and ownership – the database and its ownership can be either centralised or distributed. And, on the second dimension – think of this as the access rights – we can have a limited-access system in which either a restricted number of people (or entities) have permission to make the alterations, or we can arrange an open and public (also called ‘permissionless’) mechanism whereby anyone can participate. In either case, once someone makes a legitimate modification, all versions are immediately updated automatically, guaranteeing agreement on the current state. (We assume that an appropriate security system in place allows control of who can see what.)

This two-by-two classification system leads to four possibilities that distinguish the various ledger frameworks. To understand this taxonomy, consider the following two tables, which provide a set of nonfinancial and financial examples.1 It is worth going through each of the four cases separately.

Table 1 Ledger structure and ownership, and access rights: Nonfinancial examples

 Note: *Potential implementations.

Table 2 Ledger structure and ownership, and access rights: Financial examples

 Note: CFPB is the Consumer Financial Protection Bureau.

The upper-left cell of each table is the case of a centralised database with limited, proprietary access rights. This portion of the taxonomy pretty much captures the ledger practices of human civilisation until now. That is, there is one central ledger that contains the authoritative record of ownership or obligations and can only be changed by the organization or person maintaining it. Those authorised not only have the sole right to make changes, but may also control who can view the entries. While there may be copies, there is only one definitive version. Examples of this are easy to find – hospital records and records of securities ownership are just two.

Turning to the top-right cell of each table, this is the case of an open-access but centralised recording system that allows anyone to write and read. Since there is little or no security, this mechanism is of fairly limited use. Nevertheless, examples exist. In the nonfinancial realm, these include the customer rating systems employed by Amazon, eBay, TripAdvisor, and the like. It also is the mechanism that Wikipedia uses for creating and updating entries. Given the security concerns, financial examples are more difficult to find. We can think of one instance of wide use – the Consumer Complaint Database of the Consumer Financial Protection Bureau (CFPB).

The bottom row of each table covers the range of distributed (or decentralised) databases. The distinction here is that there are now many copies of the ledger, and they all have equal standing. Furthermore, anyone who has one can change it, so long as they follow an agreed set of rules. Put another way, participants directly interact with each other. And, as with the centralised systems, there can be two cases: proprietary with limited access, and open and permissionless.

Blockchain technology is designed to implement distributed systems. It does this by providing automatic mechanisms that create trust, ensuring there are no conflicting changes, and preventing malicious actors from making unauthorised or improper changes. It has the potential to record transactions between two parties, maintaining an agreed sequence, without reliance on costly third-party verification.

To prevent people from arbitrary attacking the system, violating trust, and making illegitimate modifications, the ability to alter the ledger is based on a scarce resource. In the closed, permissioned model, the scarce resource is identity– only specific people or institutions with particular attributes are authorised to make modifications. The idea of an open, permissionless system is to make identity irrelevant – anyone can join, leave, and re-join as often as desired. In this second case, the scarce resource that allows one to alter the ledger can be something like computational power or a stake (possibly financial) that someone has in the system.

In the open system, participants are allowed to make changes so long as they follow the rules. Importantly, the rules must be designed to prevent a bad actor from capturing the system. The original Bitcoin protocol, where the scarce resource is computational power, is immune from takeover so long as no one controls more than half of the computing power. But, as has been pointed out repeatedly, Bitcoin is incredibly resource intensive. Electricity cost alone exceeds $3 billion per year. In economic terms, this is a pure deadweight loss. In environmental terms, it is a disaster.

The uncertain future of blockchain technology

Both financial and nonfinancial uses of blockchain technology remain limited, with the obvious exceptions of cryptocurrencies. In the first table, we have listed two possible nonfinancial applications– supply chain inventory management and property title records– but so far as we know, neither of these has yet been implemented on a broad scale.

Where is this all heading? Without a further theoretical breakthrough, open distributed systems appear both costly and slow. Estimates for the Bitcoin protocol, for example, are that speeds cannot exceed seven transactions per second. In contrast, there may be some promise in distributed systems that are proprietary. We suspect that most of the corporate developers working on such projects have this kind of architecture in mind, perhaps in the hopes of creating a profitable monopoly. Unfortunately, a monopolist would be unlikely to lower transactions costs in the way that the advocates of open distributed systems hope. In the world of finance, one proprietary example is CLSNet, a bilateral payment netting solution that lowers foreign exchange transactions costs using distributed ledger technology.

Conceivably, a blockchain system could securely track the ownership of every financial instrument and exposure in the global economy. While this is a very tall order, it would be truly revolutionary. Money laundering and terrorist finance would be much easier to police. Authorities could monitor position concentrations and systemic risk. And, financial market participants could overcome information asymmetries, improving risk pricing and capital allocation.

In practice, we are still a long way off. For example, before we can map the entirety of the financial system, we need to be able to identify both entities and instruments. We have written about the virtues of the Global Legal Entity Identifier(LEI) and the importance of universal adoption (Cecchetti and Schoenholtz 2017b). But a complete mapping also would require global financial instrument identifiers (FII). While the LEI process is now well advanced, as far as we know, no one has plans to implement FIIs.

Ultimately, such a transparent financial system would be a world without privacy. Suppose, for a moment that LEIs and FIIs were all in place and that everything was recorded on a proprietary distributed ledger that the public can view (perhaps for a fee). This would mean that everyone’s balance sheet and transactions will be public. Even if a much less invasive version were to become possible, it would be deeply ironic if blockchain, a technology initially championed by libertarians disenchanted by government and fiat money, ended up by narrowing the range of individual freedoms.

Today, blockchain also faces a major problem of scalability. The fastest proprietary blockchain systems currently can handle no more than several thousand transactions per second.2 To put this into perspective, at its peak, DTCC processes 25,000 equity transactions per second. (This is roughly the level of VISA’s payments processing capacity.) DTCC (2018) points out that any new technology would have to have a maximum capacity of two to three times this peak– that is, it would have to be able to handle at least 50,000 equity transactions per second. For the foreseeable future, given physical constraints on the speed of transmission for such a large volume of information, we see no way that the financial system can escape its reliance on centralised clearing and settlement systems.

Conclusion

All that said, we really have little idea where this will lead. Nearly a decade since the appearance of Nakamoto’s (2008) paper that launched Bitcoin, we have more than one thousand crypto-clones. But where are the broader applications of blockchain technology? As CLSNet suggests, we expect that it will find increased use in the clearing, payments and settlement system (Cecchetti and Schoenholtz 2017a). Perhaps it also will be applied across a range of other activities, such as recording property titles or managing the supply chain both within and across firms or for a variety of accounting and audit functions. Such applications would likely focus on cases with limited numbers of transactions and where speed is less important. But, for now, we anticipate the development and implementation of proprietary systems, not those with open access.

Full link: https://www.weforum.org/agenda/2018/08/finance-and-blockchains