Share – NHỮNG KHÍA CẠNH CƠ BẢN CỦA MÔ HÌNH BERGERET – R. Imassi (2) — Ngách Phân Tâm

Người dịch: Trương Thị Yến Nhi CÁC TỔ HỢP[tr.155] (dựa trên nền phi cấu trúc): • Các tổ hợp lệch lạc: không phải là một cấu trúc. Nó ổn định hơn trạng thái ranh giới, nhưng vẫn mang bản chất của trạng thái ranh giới. Ở đây, lo hãi trầm cảm được tránh né thông […]

via NHỮNG KHÍA CẠNH CƠ BẢN CỦA MÔ HÌNH BERGERET – R. Imassi (2) — Ngách Phân Tâm

  • CÁC TỔ HỢP[tr.155] (dựa trên nền phi cấu trúc):

•  Các tổ hợp lệch lạc: không phải là một cấu trúc. Nó ổn định hơn trạng thái ranh giới, nhưng vẫn mang bản chất của trạng thái ranh giới. Ở đây, lo hãi trầm cảm được tránh né thông qua sự chối bỏ thực tế về giới tính của người phụ nữ, với sự đầu tư quá mức mang tính ái kỷ đối với cái dương vật tượng trưng. Nó hoạt động ở cấp độ thực tế và các tượng trưng biểu tượng. Gắn với sự chối bỏ là một dạng mê sảng xoay quanh phạm vi cảm giác về giới tính của người phụ nữ và sự tượng trưng biểu tượng [?].

Căn nguyên: trước khi Oedipe được tổ chức, trẻ đã “ghê tởm” “bộ phận sinh dục khác biệt”. Mọi sự xuất hiện của hình ảnh sinh dục nữ giới trong phạm vi nhận thức ý thức của chủ thể đều gây nên xúc cảm ghê tởm và một sự trốn chạy vào cái dương vật tượng trưng mang cảm giác an toàn.

Một phần của cái Tôi thừa nhận sự thiến hoạn (thích nghi hoàn toàn với thực tế, dồn nén và các chức năng khác, ngoại trừ giới tính của người phụ nữ), phần còn lại của cái Tôi chối bỏ sự thiến hoạn (chối bỏ tất cả những gì liên quan đến giới tính nữ -> tri giác sai thực tại có giới hạn).

[tr.157] Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải phân biệt giữa các hạt nhân cổ xưa còn sót lại và cái kế thừa các yếu tố được tổ chức và tổ chức. [Về điểm này, lý thuyết của Jean Bergeret mang tính không thể bác bỏ (Karl Popper) và do đó không khoa học, vì sự phân biệt này không thể được thực hiện thông qua giải phẫu. Nó vẫn mang tính trực giác, không có phương pháp khách quan để thiết lập nó. Do đó, một quan điểm không thể nào được áp đặt lên một quan điểm khác bằng cách kiểm tra các sự kiện – tuy nhiên nó vẫn là mô hình phân tâm hoạt động tốt nhất tại thời điểm này].

Chức năng lêch lạc này tương tự như chức năng của chứng loạn tâm tư tưởng (parapsychose) mà sự biểu trưng bị chối bỏ (và ảo tưởng) có thể liên quan đến mọi điểm của thực tế.

Phân biệt: chối bỏ nhận thức về các đối tượng / chối bỏ ý nghĩa xúc cảm của các đối tượng (xem Tổ hợp loạn tính cách).

[tr.158] Trong lệch lạc, có một sự duy trì các vùng khoái cảm bộ phận, những vùng không được hợp nhất bởi cái Tôi và chủ yếu thuộc vùng sinh dục (sự chưa hoàn chỉnh ở trạng thái ranh giới). Cái Siêu Tôi vẫn chưa hoàn chỉnh (vì thiếu trải nghiệm tổ chức Oedipe), khá gần với cái Siêu Tôi của loạn tâm. “Các lệch lạc hoạt động chủ yếu dựa trên một lý tưởng của cái Tôi mang tính ái kỷ, mẫu dưỡng và dương vật tượng trưng (…) lỗ hổng ái kỷ không thể bù đắp được; các quá trình sơ cấp đòi hỏi một cách mạnh mẽ những thỏa mãn liên quan đến các xung năng bộ phận, các đối tượng bộ phận và các vùng khoái cảm bộ phận.”

Lo hãi mất mát đối tượng mang tính đặc thù, nó liên quan đến đối tượng bộ phận (khác với lo hãi bị thiến). Lo hãi này gần với lo hãi phân mảnh loạn tâm.

[tr.159] Phân biệt (tiếp cận khác nhau với các hành vi tương tự):

– Chứng nhìn trộm nhiễu tâm: sự tìm kiếm hình ảnh người mẹ, với nỗi sợ bị trừng phạt và cảm giác tội lỗi

– Chứng nhìn trộm lệch lạc: cơ thể nữ giới bất kỳ, nhu cầu ái kỷ, đôi khi với cảm giác xấu hổ

– Ám ảnh nhiễu tâm: chiến đấu chống lại ham muốn làm ô uế đối tượng Oedipe

– Chứng ưa phân lệch lạc: làm ô uế có chủ ý mọi đối tượng (bộ phận)

– Tính nghệ sĩ nhiễu tâm: tạo ra những hình ảnh khác nhau để thỏa mãn mọi người

– Tính nghệ sĩ lệch lạc: tạo ra những hình ảnh rập khuôn cho khoái cảm cá nhân

– Biểu tượng sinh dục nhiễu tâm: xem xét đối tượng toàn thể

– Ái vật lệch lạc: giới hạn ở đối tượng bộ phận thuộc phái nữ (tập trung vào lý tưởng của cái Tôi)

– Đồng tính nhiễu tâm: phòng vệ chống lại Oedipe chủ động

– Đồng tính loạn tâm: cố gắng củng cố cái Tôi (như trong hoang tưởng)

– Đồng tính lệch lạc: tìm kiếm sự trọn vẹn ái kỷ thông qua trò chơi hình ảnh phản chiếu

•  Tổ hợp loạn tính cách: trên nền tảng trạng thái ranh giới, đây là một tổ hợp gần hơn với nhiễu tâm. Nó bao gồm một sự loại bỏ lo hãi trầm cảm vì sợ mất đối tượng ra bên ngoài. Việc giữ lo hãi này ở bên ngoài đòi hỏi rất lớn các phản ứng ngược, và đôi khi có thể thất bại. Có ba dạng:

– “Nhiễu tâm” tính cách: “bệnh lý về mối quan hệ dựa trên các phản ứng ngược thông qua sự phụ thuộc, dưới sự chiếm ưu thế thành công rõ rệt của đối tượng và sự bắt chước hơn là đồng nhất hóa”. Nó có vẻ giống như nhiễu tâm, nhưng nó không có cấu trúc, lo hãi, quan hệ đối tượng, hay “các triệu chứng thỏa hiệp”.

– “Loạn tâm” tính cách: tương tự. Không có sự xa rời thực tế, nhưng có “sai sót trong đánh giá thực tế về mặt xúc cảm”, đặc biệt gắn với tầm quan trọng của phóng chiếu. Chủ thể thích nghi kém; ít giống với nhiễu tâm.

– “Lệch lạc” tính cách: ở đây có sự chối bỏ liên quan đến quyền tự do ái kỷ của người khác. Các đối tượng (người khác) không có quyền đối với những mối quan tâm riêng của mình, họ phải là các đối tượng ái kỷ mang tính trấn an. Có sự tìm kiếm nhằm giữ đối tượng trong một mối quan hệ bạo dâm-khổ dâm. Thích nghi kém, vì ít được hỗ trợ bởi những người lân cận.

—————————————————————————————–

TÍNH CÁCH

Định nghĩa: đây là “cái biểu lộ” của cấu trúc nền trong đời sống mối quan hệ, là “biểu hiện hữu hình của cấu trúc nền tảng của nhân cách” [tr.178]. Nó có thể được nhận biết trong các khía cạnh mối quan hệ rõ rệt: các phòng vệ, cách xử lý các nhu cầu xung năng, bản chất của sự lựa chọn đối tượng, mức độ của xung đột, trạng thái của những biểu trưng giấc mơ và huyễn tưởng, lo hãi tiềm ẩn. Nó tồn tại trong trường hợp không có sự mất bù. Theo nghĩa này, những tác động của thực tế bên ngoài sẽ quyết định những biểu hiện của tính cách.

  • CÁC TÍNH CÁCH NHIỄU TÂM

(các khía cạnh bình thường trên một cấu trúc nhân cách nhiễu tâm)

•  Tính cách hysteria chuyển dạng

Được xây dựng nhiều nhất ở cấp độ năng lượng tính dục. Sự vắng mặt của các triệu chứng không đồng nghĩa với sự vắng mặt của các căng thẳng tâm lý [tr.181]. Những thay đổi tính khí đột ngột, mà không đi chệch khỏi đối tượng (khác với sự trốn tránh của nhiễu tâm ám sợ và sự kiểm soát xa cách của ám ảnh). Gợi dục hóa các mối quan hệ bình thường, tìm kiếm các đối tượng ấu thơ, kịch tính hóa.

[tr.185] Phân biệt sự đầu tư (và ngôn ngữ) về cơ thể:

– Tính cách hysteria chuyển dạng: “chi phối khía cạnh biểu tượng gợi dục của đầu tư cơ thể, nơi mà sự biểu trưng gắn vào (…) chính cơ thể là cái cất lời, nơi các huyễn tưởng được (…) “hiện thân””.

– Tính cách ái kỷ: đây là chứng nghi bệnh, cơ thể được xem như một đối tượng ái kỷ.

– Tính cách tâm thể: thiếu sự tâm trí hóa, do đó thiếu sự lời nói hóa, chủ thể nói với cơ thể của mình, không có giá trị biểu tượng.

•  Tính cách hysteria ám sợ

[tr.185-186] Phân tích sự khác biệt với ái kỷ-ám sợ: xem phần sau [tr.187] Lo hãi lên xuống vì các lý do bên ngoài và xúc cảm, rối loạn thần kinh thực vật gắn với đời sống mối quan hệ, tình cảm, lý tưởng -> các phản ứng ngược chống lại ham muốn tính dục hoặc gây hấn. Có sự hiện diện của một “lo lắng ái kỷ”, nhưng khác với trạng thái ranh giới, bởi vì tổng thể được tổ chức dưới sự chiếm ưu thế của sinh dục.

•  Tính cách ám ảnh

[tr.190] chúng ta tìm thấy ở đây những nét của tính cách hậu môn, bạo dâm và khổ dâm, nhưng với vai trò là một phòng vệ tiền sinh dục chống lại Oedipe và sinh dục, những cái vẫn là tổ chức nền tảng (-> Sự cần thiết để xung năng tính dục không thể được nhận biết -> xung năng gây hấn được đưa ra, và các phản ứng ngược sẽ che giấu biểu hiện của sự gây hấn Nhưng ở đây, cái Tôi không bị lấn át, nó kết hợp với cái Siêu Tôi để kiềm nén cái Ấy. Sự thích nghi xã hội được duy trì.)

Các phản ứng ngược: trật tự, tiết kiệm, cố chấp.

Những đắn đo và khủng hoảng của ý thức. Sự rụt rè và ức chế. Nhu cầu trật tự, quy tắc và tiết kiệm. Khó khăn trong việc sống với các ham muốn tính dục. Nghi ngờ, tách biệt và tư duy kỳ diệu. – Sức mạnh của ý nghĩ (những ám ảnh tâm trí, những đắn đo -> giả ám sợ?). Những nghi thức trừ tà kín đáo. Suy nghĩ và sự trừu tượng hóa thay thế cho ham muốn tính dục [tr.197], kiểm soát tốt hơn.

– Suy nghĩ nhiều hơn hành động -> “tính bảo thủ” ở cấp độ môi trường và hành động (trái với suy nhược tâm thần: trạng thái ranh giới). Tư duy kỳ diệu -> mê tín.

  • CÁC TÍNH CÁCH LOẠN TÂM

(các khía cạnh bình thường trên một cấu trúc nhân cách loạn tâm)

•  Không tồn tại tính cách trầm uất hoặc hưng trầm cảm, bởi vì các trạng thái bệnh lý trầm uất hoặc hưng trầm cảm là hệ quả của một “sự suy thoái” tâm thần của các tổ chức ranh giới trầm cảm hoặc mang tính chu kỳ [tr.199]. Do đó, các trạng thái này bắt nguồn từ các tính cách ái kỷ [xem các tính cách này].

•  Tính cách phân liệt

“Sự dao động trong điều tiết cảm xúc”.

“Các khía cạnh đặc thù và không thể đoán trước của các quá trình tư duy”.

“Định hướng ái kỷ tàn bạo của các đầu tư”.

“Tính phức tạp hai chiều của các thành phần mối quan hệ âu yếm và thù địch”.

—> Lối cư xử kiểu cách, sự cách biệt, mơ mộng, kỳ quặc, ghen tuông, bất an, thiếu tình cảm, thờ ơ tình dục, dao động giữa tê liệt xúc cảm và tăng quá mức xúc cảm, chủ nghĩa lý tưởng, chống đối xã hội, huyễn tưởng phong phú, hành động ít đầu tư.

—> Các khía cạnh ám sợ, ám ảnh, nghi bệnh hoặc bệnh thái nhân cách được nhận thấy.

—> Đời sống xúc cảm kém thích nghi, không đầy đủ, bởi những xúc cảm đau khổ có mặt, nhưng lại đáp ứng nhiều hơn với những xây dựng mang tính tưởng tượng hơn là với thực tế hay với các mối quan hệ với người khác; sự đầu tư nền tảng hoàn toàn mang tính ái kỷ [tr.203]. Xúc cảm lạnh nhạt và cách biệt là những ấn tượng được nhận thấy; ý nghĩa được gán cho đối tượng khác nhau trong mối quan hệ với một cấu trúc khác. Có một khuynh hướng đầu tư mang tính tự kỷ.

•  Tính cách hoang tưởng

Tính khí gây hấn, hình thức nguyên thủy của trải nghiệm thất vọng hoặc trải nghiệm yêu sách. Sự kích động liên tục, lý sự, yêu sách, thù hằn, duy tâm, không thực tế, cuồng tín, tự đại, đa nghi, lãnh cảm, khả năng phán đoán méo mó.

– Đầu tư hoang tưởng sâu kín điển hình: suy yếu ái kỷ sơ phát + phòng vệ mạnh mẽ chống lại ham muốn đồng tính thụ động (thiếu an toàn trong kiểm soát khoái cảm hậu môn).

– Có sự phóng chiếu (các biểu trưng và xung năng) lên đối tượng sẽ trở thành kẻ truy hại. Đa nghi, truy hại tối thiểu.

– Đánh giá quá cao cái Tôi (đánh mất giới hạn hợp lý của ái kỷ): tự đại, hư vinh và khiêm tốn giả tạo.

– Sai lạc trong đánh giá (biện chứng mang tính tâm trí, không có lý lẽ hợp lý, thiếu thuyết phục).

– Cái tôi trung tâm và giả vị tha (thiếu tinh thần và kỷ luật nhóm): không thích nghi xã hội. Khác với tính cách ái kỷ, tính cách hoang tưởng không có được “một sự hiện diện an tâm trong các nhóm xã hội” [tr.206].

– Vóc dáng cao, khá gầy, không bao giờ biểu lộ sự chán nản về thể lý.

(phân biệt tính cách hoang tưởng / tiến triển khổ dâm [tr.206]).

  • CÁC TÍNH CÁCH ÁI KỶ

Các nét tính cách ái kỷ rời rạc (tổn thương ái kỷ cổ xưa) được nhận thấy trong tất cả các cấu trúc (các tính cách và bệnh lý). Khác với tính cách ái kỷ: một tập hợp các yếu tố có tổ chức, cụ thể là sự thích ứng về mối quan hệ của tổ chức ái kỷ trạng thái ranh giới. (tr.210, Tác giả trích dẫn S. Freud và dạng năng lượng tính dục ái kỷ của ông).

Sự thiếu tính trội sinh dục và hoạt động của cái Siêu Tôi (vắng mặt) -> xung năng của cái Tôi -> gây hấn. Các xung năng cũng có thể bị ức chế + nguy cơ trầm cảm gắn với lo hãi mất mát đối tượng.

•  Tính cách sợ bị bỏ rơi

Mầm mống của cái được gọi là “nhiễu tâm bị bỏ rơi”.

Chúng ta thấy: lo hãi bị bỏ rơi, sự vô giá trịphản ứng gây hấn. Nghi ngờ về khả năng được yêu thương của mình và khả năng đối mặt với người khác. “Mất mát” nhỏ nhất cũng gây ra một trải nghiệm thù địch.

Căn nguyên: những cắm chốt ấu thơ ở thời điểm chia tách (sang chấn thực tế).

•  Tính cách số phận

Tin rằng mình bị đeo bám bởi một số phận đen đủi. Phóng chiếu trên cơ sở một huyễn tưởng vô thức với thành phần xung năng gây hấn. Về cơ bản gần với tính cách bị bỏ rơi, nhưng với niềm tin rằng những “thất bại” này đến từ bên ngoài.

•  Tính cách ái kỷ-ám sợ

(Khác với tính cách hysteria ám sợ). Sự ức chế mang tính ám sợ ở đây gắn với tính hai chiều phụ thuộc-gây hấn (của trạng thái ranh giới), với mối quan hệ đối tượng chống ám sợ dạng ái kỷ (tức là phóng chiếu). Đa cảm quá mức, xúc cảm ồ ạt. Cách cư xử không có tính biểu tượng của hysteria ám sợ.

•  Tính cách dương vật tượng trưng

(Luôn có vấn đề về ái kỷ-phụ thuộc), tìm kiếm sự trấn an trong tình yêu của bản thân hoặc các đối tượng bộ phận đại diện cho bản thân, hoặc các đối tượng toàn thể mà chủ thể đồng nhất hóa. Việc phủ định sự thiến hoạn ái kỷ-dương vật tượng trưng -> tham vọng và cạnh tranh (ở đây sự tự tin được phục hồi).

•  Tính cách trầm cảm

Khuynh hướng trầm cảm trên cấu trúc ranh giới-ái kỷ (tổ chức ái kỷ tiền sinh dục -> tính hai chiều cổ xưa – đấu tranh giữa khuynh hướng âu yếm và thù địch – trên nền tảng khoái cảm môi miệng).

•  Tính cách nghi bệnh

Mối quan tâm sức khỏe về một bộ phận cơ thể (đối tượng bộ phận ái kỷ xấu – cắm chốt trầm cảm). Khác với tính cách hysteria: giá trị biểu tượng sinh dục. Khác với tính cách tâm thể: liên hệ không được tâm trí hóa.

Mối quan hệ phụ thuộc với cơ thể của chính mình. Sự rút đầu tư năng lượng tính dục khỏi đối tượng bên ngoài, và chuyển lên đối tượng ái kỷ bên trong cơ thể. Tương tự, sự đầu tư ái kỷ quá mức cũng có thể mở rộng sang quần áo, xe cộ, nhà cửa hoặc người thân cận [nhưng trong trường hợp này, có gì khác biệt với một đối tượng phụ thuộc đúng nghĩa? Liệu nó vẫn còn là chứng nghi bệnh?].

Nội chiếu nghi bệnh ít nhất tương tự với nội chiếu trầm uất -> thoái lùi môi miệng, gây hấn với đối tượng có nguy cơ đánh mất, dồn nén sự gây hấn này -> đảo ngược sự chê trách chống lại một phần cơ thể của chính mình.

•  Tính cách suy nhược tâm thần

Giống với tính cách ám ảnh, nhưng tổ chức chiếm ưu thế là dạng ái kỷ chứ không phải dạng Oedipe. Hành vi (chủ yếu mang tính trầm cảm):

– Những đắn đo: Nhu cầu cầu toàn ái kỷ (khác với sự hủy bỏ và những cưỡng chế ám ảnh)

– Sự nội quan: trên một nhu cầu thỏa mãn lý tưởng của cái Tôi và lý tưởng cha mẹ (khác với nỗi sợ cái Siêu Tôi; ở đây không có cảm giác tội lỗi).

– Sự cứng nhắc

– Sự trừu tượng hóa.

•  Tính cách thái nhân cách

(xem Các dạng phi cấu trúc – lệch lạc tính cách) [tr.216] “Một sự đầu tư ái kỷ thuần túy mở ra khía cạnh gây hấn của tính phụ thuộc, thay vì ức chế hoặc đảo ngược nó chống lại chính nó, như trong nhiều trường hợp mà chúng ta thấy”. Hành vi chống đối xã hội: nhằm thu hút sự chú ý của đối tượng phụ thuộc, tràn ngập xúc cảm tiền sinh dục. Thường xảy ra tự tử.

•  Tính cách hưng cảm

Sự trốn chạy trong hoạt động chống lại khuynh hướng trầm cảm. Rạn nứt ái kỷ cổ xưa. Đôi khi là “tính cảnh hưng trầm cảm” trong đó hoạt động trầm cảm tiềm ẩn thường tái xuất hiện (nhưng không bệnh lý). [sự mất bù trong trầm cảm nặng?]

•  Tính cách tâm thể

(Rất gần với các tính cách ái kỷ, theo hướng loạn tâm, do đó thoái lùi nhiều hơn – nhưng có thể chỉ mang tính cục bộ; những thoái lùi tâm thể bộ phận).

•  “Tính cách đau nửa đầu”: một dạng che giấu tâm lý thông qua chứng đau nửa đầu có thể xảy ra trên các cấu trúc khác nhau. [và nền tảng hữu cơ?]

[Trình bày ngắn gọn và rõ ràng: tr.217-223].

•  Tính cách lệch lạc

(Không nên nhầm lẫn với “lệch lạc tính cách”, xem phần trên, trong Các tổ hợp loạn tính cách). Trạng thái loạn tính cách về mối quan hệ, thích nghi và không bệnh lý của một trạng thái ranh giới phi cấu trúc theo hướng loạn tâm, “cắm chốt” ở sự chối bỏ thực tế về giới tính của người phụ nữ, và phản ứng với sự thất vọng bằng một sự thoái lùi về tính dục ấu thơ. Các tính cách lệch lạc (đa hình) không đạt được sự giảm căng thẳng mang lại thỏa mãn (của một ham muốn sinh dục). Thỏa mãn được tìm kiếm trong khoái cảm dạo đầu, xung năng bộ phận, đối tượng bộ phận – chứ không thỏa mãn “toàn bộ”. Cái có giá trị đối với chức năng tính dục cũng sẽ có giá trị trong gây hấn và ái kỷ.

Trong các lệch lạc: trạng thái duy nhất, không đổi và cố định trong việc đạt được khoái cảm gắn với một đối tượng bộ phận, một xung năng bộ phận và một khoái cảm bộ phận. Các tính cách lệch lạc chỉ đi đến khía cạnh đa hình của sự kích hoạt khoái cảm. Không nên nhầm lẫn với các “nét lệch lạc rời rạc” có trong tổ chức sinh dục (bổ trợ cho khoái cảm sinh dục).

•  Những nhận xét về các vấn đề về tính cách ở trẻ em [tr.226]: nhắc lại tính không cố định về cấu trúc của trẻ, và các yếu tố tính cách có thể quan sát được -> thận trọng trong chẩn đoán.

•  Liệu có tồn tại một “tính cách động kinh”?

Ở những người mắc chứng động kinh, có thể nhận thấy những hành vi tàn bạo và phá hoại. Tác giả cho rằng không có một cấu trúc riêng, và do đó cũng không có một tính cách như vậy. Chứng động kinh sẽ được xếp chồng lên một cấu trúc, và điều chỉnh khả năng xảy ra của các thành phần loạn tính cách hoặc các bệnh lý thuộc cấu trúc này, đặc biệt là một ngưỡng bệnh lý đã hạ thấp.

Trong mọi trường hợp, chúng ta không tính đến trong khía cạnh tâm thể (theo nghĩa dị ứng hay đau nửa đầu), hoặc theo nghĩa rộng của phép biện chứng giữa thực thể hữu cơ và xúc cảm, mặc dù một tính cách tâm thể có thể xếp chồng lên một chứng động kinh, giống như mọi tính cách hay cấu trúc khác.

——————————————————————————————————

CÁC NÉT TÍNH CÁCH

Định nghĩa: là các khía cạnh mối quan hệ biểu hiện rõ rệt (cách cư xử, v.v.), khác với các khía cạnh biểu lộ “tính cách”, không xuất phát từ cấu trúc nền, mà là cái cá nhân có thể sử dụng khi cần thiết để thích nghi với tình huống. Chủ thể gặp được tiềm lực này tại thời điểm phát triển năng lượng tính dục của mình, mà “cuộc gặp” này không được đầu tư thỏa đáng (và do đó không được tổ chức).

Các nét tính cách mâu thuẫn rõ rệt (với cấu trúc được giả định) và do đó gây hiểu lầm, nhưng không tồn tại các cấu trúc thuần túy [Chính ở điểm này mà mô hình của Jean Bergeret mất đi tính có thể bác bỏ, và do đó mất đi độ tin cậy khoa học.]

Nét tính cách sẽ thoái lùi nhiều hơn (nhưng không phải là duy nhất) vì nó có thể bịt lại một lỗ hổng trong hệ thống phòng vệ bị tổn hại do một sang chấn mạnh mẽ. Ngược lại, nó có thể đem lại lợi ích khi nó phức tạp hơn cấu trúc nền.

Trong khi “tính cách” chỉ là biểu hiện không bệnh lý của một cấu trúc, thì nét tính cách (mặc dù bản thân nó không phải là bệnh lý) có thể là một phần của chức năng bệnh lý.

Các nét tính cách là “những hình thành thỏa hiệp giữa các xung năng và các phòng vệ của cái Tôi” [tr.235]; chúng sẽ là những “thăng hoa” khi chúng tổ chức các xung năng đó, và sẽ là các “phản ứng ngược” khi chúng ngăn chặn các xung năng đó.

– Thăng hoa: sự thỏa mãn xung năng bằng cách tránh dồn nén (từ đó dẫn đến sự cạn kiệt và tiêu thụ năng lượng). Góp phần liên kết các xung năng gây hấn và tính dục (ví dụ như sự tò mò về văn hóa).

– Phản ứng ngược: hỗ trợ cho dồn nén, do đó rất hao tổn và cứng nhắc (tư duy phê phán, hổ thẹn, lịch sự quá mức, v.v.).

Nét tính cách được nhận biết vì nó “riêng biệt và bổ sung” cho tất cả các hành vi đặc trưng cho cấu trúc nền. Nó bổ sung cho các hành vi thích nghi cần thiết.

(Mô tả các nét tính cách về mặt cấu trúc nhiễu tâm, loạn tâm và ái kỷ – với các minh họa làm rõ: tr. 237-238).

Do đó, các nét tính cách của cấu trúc không phản ánh cấu trúc nền, mà tương ứng với các khía cạnh hành vi đặc trưng của một cấu trúc cụ thể.

Mặt khác, các nét tính cách về mặt xung năng là sự phản ánh về mặt hành vi của một xung năng, do đó chỉ xuất phát từ cái Ấy (không có sự can thiệp của cái Tôi, của thực tế, của cái Siêu Tôi hay lý tưởng của cái Tôi), do đó không có cấu trúc mang tính tổ chức. Tác giả nhấn mạnh rằng trong mọi trường hợp, một “tính cách” không thể dựa trên các yếu tố xung năng (tính cách môi miệng, v.v.).

Tác giả phân biệt các nét tính cách tính dục và các nét tính cách gây hấn. Mỗi giai đoạn phát triển xung năng sẽ xác định một phương thức quan hệ loạn tính cách, cái mà sau đó sẽ ít nhiều tô điểm cho nhân cách. [P.241]

– Do đó, các nét tính cách tính dục sẽ được mô tả là mang tính môi miệng, hậu môn, niệu đạo, dương vật tượng trưng, sinh dục (để phân biệt với các nét tính cách nhiễu tâm – tác giả lưu ý rằng “tính cách sinh dục” không tồn tại. Nhưng trong trường lý tưởng, sẽ luôn có di chứng của sự cắm chốt ở các giai đoạn khác nhau).

Định nghĩa siêu tâm lý về sự bình thường [tr.247 – 249]

– Các nét tính cách gây hấn, do đó sẽ được mô tả là mang tính bạo dâm, khổ dâm, tự trừng phạt.

– Các nét tính cách phụ thuộc vào các xung năng của cái Tôi, cái mà chúng ta gọi là “các nét tính cách ái kỷ”, theo ý tưởng của tác giả, không xuất phát từ một cấu trúc ổn định.

—————————————————————————————————

BỆNH LÝ TÍNH CÁCH

Liên quan đến “các tổ chức” trạng thái ranh giới. “Bệnh lý tính cách” chỉ hình thành một sự phóng đại các phản ứng ngược, các phóng chiếu và các chia tách, các hình thức “loạn tính cách” của dạng “ái kỷ ranh giới” [tr.258].

Do đó, có một sự liên tục (continuum) giữa “tính giả bình thường” của “các tổ chức” ranh giới với tính bệnh lý của tính cách, cái ở đây được coi là bệnh lý vì nó mang tính định lượng rõ rệt hơn.

Đó là một bệnh lý của mối quan hệ đối tượng và của trạng thái của đối tượng (hơn là của cái Tôi).

Tác giả phân biệt:

“nhiễu tâm” tính cách

“loạn tâm” tính cách

“lệch lạc” tính cách [tr..260 – 277]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s