Cò quay Nga…

Những canh bạc thắng lớn đưa người chơi một bước thành triệu phú…

Người ta cho rằng Russian Roulette xuất hiện lần đầu trong doanh trại của các binh lính Nga thời Sa hoàng, họ giải trí sau khi thua trận. Đó cũng chính là lý do trò này gọi là “Russian Roulette” dịch sang tiếng Việt là “cò quay Nga” – một trò chơi tàn nhẫn. Khác với các loại trò chơi sử dụng xúc xắc, quân bài, bàn quay roulette bình thường Russian Roulette là trò chơi tử thần với khẩu súng lục ổ xoay và 1 viên đạn; tiền cược chính là tính mạng của người chơi. Luật chơi thì vô cùng đơn giản: những người mạo hiểm tham gia sẽ lần lượt cầm súng chĩa vào đầu mình và bắn sau khi xoay ngẫu nhiên ổ đạn với 1 viên duy nhất, ai đen đủi dính phải lượt có đạn sẽ chết. Trò chơi kết thúc khi chỉ còn 1 người sống sót cuối cùng. Với tính mạo hiểm và kịch tính, trò chơi không chỉ thu hút giới binh nghiệp; đã có một nghệ sĩ thiệt mạng sau khi thử chơi, đó là ca sĩ Calitri, trưởng một ban nhạc Rock ở Chicago. Theo những người chứng kiến, ca sĩ này trước khi chết vẫn còn lẩm bẩm câu “không sao đâu, cái này không có đạn”…

THIRTEEN-jumbo

Ngoài ra cò quay Nga còn được xuất hiện rất nhiều lần trên điện ảnh cũng như truyền hình, điển hình như bộ phim “Đấu thủ số 13” của đạo diễn Géla Babluani – đó cũng chính là hình ảnh lờ mờ hiện ra trong tâm trí người viết sau khi đọc báo cáo về hàng loạt các ngân hàng công bố kết quả hoạt động năm Mậu Tuất. Thêm vào đó, Brand Finance vừa công bố Top 500 thương hiệu ngân hàng mạnh nhất và có giá trị nhất trên thế giới năm 2019 (Brand Finance Banking 500), trong đó, ở khu vực ASEAN, Thái Lan đang góp 7 cái tên trong bảng danh sách này, Indonesia có hơn 10 ngân hàng, Malaysia 8 ngân hàng, Philippines hơn 10 ngân hàng, Singapore 3 ngân hàng,… Nếu so với những nước này, số ngân hàng Việt có mặt trong danh sách quả thực còn rất khiêm tốn. BIDV, VietinBank, Vietcombank là 3 ngân hàng TMCP có vốn chi phối của Nhà nước tiếp tục có mặt trong Top 500 với vị trí được cải thiện đáng kể; trong đó, thứ hạng giá trị thương hiệu VietinBank từ 310 chuyển lên 242, BIDV từ 351 lên 307, Vietcombank từ 368 lên 325 so với 1 năm trước.

Đáng chú ý hơn cả là ngoài 3 “ông lớn” ngân hàng thương mại nhà nước, Top 500 thương hiệu ngân hàng giá trị nhất toàn cầu năm nay lần đầu tiên có sự góp mặt của một ngân hàng tư nhân Việt Nam là VPBank. Thứ hạng của nhà băng này là 361 về giá trị thương hiệu.

Đó là đánh giá từ bên ngoài, nhìn nội tại…

Theo công bố từ Ngân hàng Nhà nước, năm 2018 kết thúc với tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống dự kiến sẽ ở mức thấp nhất trong bốn năm qua, thấp hơn nhiều so với hai năm gần nhất 2016 và 2017, ước tính dưới 16% và chỉ quanh 15,5%.

Với mô hình hoạt động cơ bản truyền thống như hiện nay của các ngân hàng Việt Nam, tín dụng là một cấu phần có ảnh hưởng lớn [nhất] tới lợi nhuận các ngân hàng hàng năm, tuy nhiên năm nay, theo định hướng siết lại của Ngân hàng Nhà nước qua các chỉ tiêu cụ thể được giao, lợi nhuận phần nào bị ảnh hưởng…

Ngay trong nửa đầu tháng 12/2018, với việc hoàn tất thoái vốn tại Ngân hàng Quân đội (MB) và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), một khoản thu lớn sẽ được Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) hạch toán trong năm nay, cùng với kết quả định hình sau 11 tháng, cùng với kết quả thoái vốn, dự kiến lợi nhuận Vietcombank năm nay sẽ tiếp tục tạo kỷ lục mới trên 15.000 tỷ đồng, vượt xa chỉ tiêu kế hoạch của cả năm.

Tương tự tại Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank), sau kết quả 9 tháng, lãnh đạo ngân hàng này cho biết họ tin tưởng sẽ hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận năm, cũng như tiếp tục đặt kế hoạch tăng trưởng lợi nhuận đều đặn trong năm tới. Tăng trưởng tín dụng 2018 đã được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh lên 20%, sau bước tăng mạnh vốn giữa năm nay tạo thêm điều kiện thuận lợi cho ngân hàng này.

Tuy phải đối mặt với sự kiện nguyên lãnh đạo cao cấp bị bắt, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) cũng nhanh chóng cập nhật tình hình kinh doanh với việc cơ bản hoàn thành các mục tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2018 đã được đại hội đồng cổ đông thông qua vào cuối tháng 11/2018, đặc biệt, lợi nhuận tăng trưởng 18%.

Nhưng không phải ngân hàng nào cũng tốt như vậy, ngay sau tuần đầu tiên của tháng 12, khi năm 2018 gần kết thúc, quyết định hạ mạnh chỉ tiêu lợi nhuận và tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank) đã gây ra cú shock cho các nhà đầu tư; dù chỉ tiêu mới được xem là tối thiểu, nhưng với mức lợi nhuận 6.700 tỷ đồng là điều chỉnh rất lớn so với 10.800 tỷ đồng ở kế hoạch đầu năm.

Qua thực tế đánh giá các năm hoạt động gần đây, tại “Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành ngân hàng năm 2019”, ông Phan Đức Tú, Chủ tịch BIDV, đã tiết lộ mức tăng trưởng của chỉ số này năm 2018 vừa qua chỉ đạt [dương] 13% so với 2017; với mức lợi nhuận trước thuế năm 2017 đạt 8.665 tỷ đồng, có thể tính nhanh được mức lợi nhuận năm 2018 xấp xỉ đạt mức 9.800 tỷ. Ông Tú cũng thông tin thêm, năm 2018 ngân hàng này đã nâng tổng tài sản lên 1,283 triệu tỷ đồng, tăng 9,1%; nhờ việc tăng mạnh dư nợ tín dụng nên tỷ lệ nợ xấu tại ngân hàng này đã giảm xuống dưới 1,4% tổng dư nợ so với mức 1,62% hồi đầu năm, điều này cũng ẩn chứa rủi ro vì thường phải cần trải qua một thời gian thì chất lượng tín dụng của một giao dịch mới được khẳng định…

Cũng tại hội nghị này, số tiền lãi trước thuế kỷ lục 7.525 tỷ đồng của Agribank cũng được Chủ tịch ngân hàng, ông Trịnh Ngọc Khánh, công bố. Tuy nhiên, ông Khánh bổ sung thêm, mức tăng trưởng của lợi nhuận năm nay không đến từ tăng lãi suất cho vay vì từ đầu năm Agribank đã giảm lãi suất khá nhiều. Lợi nhuận năm vừa qua chủ yếu đến từ mảng dịch vụ tăng thu trên 20%, và ngân hàng thu hồi được hơn 12.000 tỷ đồng nợ xấu đã xử lý, chiếm 14% tổng nợ đã xử lý. Lần đầu tiên sau nhiều năm, nợ xấu nội bảng tại nhà băng này đã giảm về 1,51% tổng dư nợ, nhưng con số này cũng không tách được tỷ lệ số khoản tín dụng đã cơ cấu lại…

Ở khối ngân hàng thương mại cổ phần, nhiều ngân hàng tính tới cuối tháng 1/2019 còn chưa công bố kết quả kinh doanh cả năm, nhưng qua 3 quý từ đầu, mức lợi nhuận đã gần đạt kế hoạch cả năm, trong khi quý IV theo thông lệ là quý mang về nhiều lợi nhuận nhất cho ngành ngân hàng. Trong những ngân hàng đã công bố, cả Sacombank và TPBank đều đã ước tính con số lợi nhuận thu về năm nay với kết quả tăng mạnh, cùng đạt trên 2.200 tỷ đồng; hay như trường hợp của Maritime Bank MSB, dù chưa công bố thông tin về kết quả kinh doanh năm qua, trong thông báo nội bộ mới đây của nhà băng này đã tiết lộ lần đầu tiên mức lợi nhuận trước thuế ngân hàng đã đạt trên 1.000 tỷ đồng. Trong khi những năm gần đây ngân hàng này chỉ có số tiền lãi quanh mức 160 tỷ đồng vì gánh nặng trích lập dự phòng rủi ro nên việc đột biến về hiệu quả không biết liệu có như ổ đạn xoay…

 

Uỷ ban Giám sát Tài chính Quốc gia đã thực hiện ước tính lợi nhuận của các ngân hàng cũng có những đánh giá lạc quan; cụ thể, theo cơ quan này, tổng lợi nhuận sau thuế của các TCTD năm 2018 sẽ tăng 40% so với năm trước. Đặc biệt, đơn vị này cho biết tin mừng là bên cạnh nguồn thu từ hoạt động tín dụng thì dịch vụ bảo hiểm qua ngân hàng sẽ đóng góp tích cực hơn vào nguồn thu dịch vụ của ngân hàng vốn luôn có tỷ trọng thấp trong hoạt động hiện nay. Để đạt được việc này, doanh thu phí bảo hiểm tăng 25,8% và đã có khá nhiều thỏa thuận hợp tác giữa ngân hàng và doanh nghiệp bảo hiểm được ký kết thời gian qua sẽ giúp mảng này tăng trưởng liên tục. Bên cạnh đó, hoạt động thu hồi và xử lý các khoản nợ xấu đã trích lập đang được thực hiện khá ráo riết giúp các ngân hàng thu hồi vốn và điều chỉnh các tỷ lệ an toàn, đặc biệt là việc đấu giá tài sản đảm bảo để xử ký nợ xấu; việc xử lý được các khoản nợ xấu còn giúp ngân hàng hoàn lại chi phí đã trích lập dự phòng trước đó thành lợi nhuận – đâu đó cũng giống với hoạt động lên (load) đạn vào ổ…

Năm 2018, ngành ngân hàng nổi lên một loạt các hoạt động và vấn đề tồn đọng:

Biến động mới về nhân sự

Áp lực biến động nhân sự từ thay đổi luật thực tế là không quá lớn cho dù nhân sự trong ngành ngân hàng với đặc thù hoạt động luôn là vấn đề nổi cộm. Trong đó, luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật các tổ chức tín dụng vừa có hiệu lực ngày 15/1 đã giới hạn Chủ tịch Hội đồng quản trị của ngân hàng không được đồng thời là Chủ tịch, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc , Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác.

Theo kế hoạch tổ chức ĐHĐCĐ mà một số ngân hàng hé lộ gần đây, mùa đại hội năm nay có thể sẽ chứng kiến điều bất ngờ từ việc bổ sung/ thay thế nhân sự HĐQT như Sacombank, Eximbank bầu bổ sung nhân sự còn SHB sẽ thay thế Phó Chủ tịch Trần Ngọc Linh, VIB dự kiến sẽ bầu thay thế 2 thành viên HĐQT đến từ đối tác chiến lước CBA. Một số ngân hàng có vốn Nhà nước, có nhiều cán bộ là thành viên HĐQT đã đến tuổi nghỉ hưu như Chủ tịch PGBank Bùi Ngọc Bảo, Ủy viên phụ trách HĐQT BIDV Trần Anh Tuấn.

Tuy nhiên, điều luật này sẽ không lập tức gây ra “làn sóng” đổi nhân sự các nhà băng bởi trường hợp người quản lý, điều hành và các chức danh khác không đáp ứng quy sẽ được tiếp tục đảm nhiệm chức vụ đến hết nhiệm kỳ hoặc đến hết thời hạn bổ nhiệm.

Kỳ vọng cổ tức

Một trong các vấn đề được cổ đông quan tâm nhất là chuyện chia cổ tức.

Với kết quả kinh doanh toàn ngành tăng trưởng ước tính theo Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, lợi nhuận chưa phân phối của các nhà băng đã dày thêm nhờ khoản lãi tăng mạnh năm qua. Cùng đó, có thể trong năm nay, các ngân hàng quốc doanh sẽ có thể được trả cổ tức bằng cổ phiếu sau rất nhiều năm buộc trả tiền mặt. Quyết định 1058 của Thủ tướng phê duyệt Đề án tái cơ cấu đã yêu cầu Bộ Tài chính phối hợp cùng NHNN cân đối, bố trí nguồn dành tăng vốn cho các ngân hàng này; nhất là khi các khoản tiền từ thoái vốn, IPO các DNNN bổ sung đáng kể vào ngân sách nhà nước, áp lực đóng góp cổ tức từ các ngân hàng vào nguồn ngân sách quốc gia có thể nhờ đó mà giảm bớt…

Tăng vốn từ áp lực Basel II – Thông tư 41

Cũng theo tính toán của Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia, tới cuối năm 2020, các nhà băng sẽ phải tăng vốn tự có dự kiến gấp 1,8 – 2 lần mới có thể đáp ứng quy định của Basel II mà cụ thể đã được luật hóa tại Việt Nam qua Thông tư 41. Một áp lực khác đến từ chính nhu cầu tăng trưởng tín dụng của ngân hàng với tăng trưởng tín dụng bình quân đề ra cho năm tới là 17%. Để đảm bảo hệ số CAR khi liên tục tăng tài sản có rủi ro, việc tăng vốn là cấp thiết.

Nếu như trước đây, việc tăng vốn của các ngân hàng thường chủ yếu nhờ vào nguồn vốn chủ sở hữu của các ngân hàng (chia cổ phiếu thưởng, trả cổ tức bằng cổ phiếu…) thì năm 2017 và 2018 vừa qua một số ngân hàng đã huy động tiền mới thành công từ các thương vụ phát hành riêng lẻ hay chào bán cho cổ đông hiện hữu.

Nới room và việc đưa cổ phiếu lên sàn được kỳ vọng sẽ là yếu tố thúc đẩy giao dịch thứ cấp cổ phiếu ngân hàng. Nhìn lại một năm trở lại đầy ấn tượng vừa qua, thành công trên thị trường thứ cấp với thiết lập một mặt bằng giá mới cùng mức thanh khoản lên tới hàng triệu cổ phiếu mỗi phiên, qua đó sẽ là bàn đạp cho hoạt động phát hành cổ phiếu. Thời gian chính thức áp dụng Basel II chỉ còn 2-3 năm nữa cũng đồng thời với việc các ngân hàng cần nhanh chân hơn trong cuộc đua này.

Bao giờ cho tới… nới [room]?

Cách đây hơn một năm, trong buổi phỏng vấn với Bloomberg Television, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã bỏ ngỏ việc nới ‘room’ ngân hàng với thời gian sớm nhất là trong năm 2017. Mốc thời gian 2017 đã qua. Câu chuyện nới room thực tế không quá mới, và cũng không lạ khi việc đưa ra một quyết định liên quan đến vấn đề trên cần thời gian xem xét toàn diện bởi ngân hàng vốn là huyết mạch của nền kinh tế.

Cho tới nay nay, room ngoại hiện đã đầy tại nhiều ngân hàng hoặc bản thân nhà băng để dành riêng khoảng 10 -15% vốn điều lệ để dành cho cổ đông chiến lược tương lai.

Theo công ty chứng khoán BSC, sẽ có không ít hơn 9 ngân hàng đăng ký giao dịch và niêm yết trong thời gian tới. Nhiều cổ phiếu lên sàn thời gian gần đây như HDB, VPB đã phản ánh sức hút của các cổ phiếu ngân hàng mới đầy tiềm năng…

Liệu cho vay tiêu dùng có còn là “mỏ vàng”…

Theo số liệu của VDSC, tăng trưởng tín dụng tiêu dùng là cánh cửa cho tăng trưởng tín dụng tại các ngân hàng. Giá trị các khoản vay tín dụng tiêu dụng hiện chủ yếu vẫn tập trung ở các ngân hàng thương mại bởi đây chủ yếu là các khoản vay mua ô tô, sửa chữa nhà… có giá trị lớn, do đó, gần đây, ngân hàng nhà nước (NHNN) cũng đã yêu cầu giám sát chặt vay tiêu dùng nhưng thực chất là để đầu tư, kinh doanh bất động sản, chứng khoán để đảm bảo tính bền vững của thị trường.

Dòng vốn cho vay tiêu dùng qua các công ty tài chính chỉ chiếm khoảng 3,3% hồi năm 2016 nhưng đang mở rộng khá nhanh tiếp tục giúp các công ty tài chính trở thành “gà đẻ trứng vàng” cho các ngân hàng sở hữu. FECredit đóng góp khoảng 50% trong tổng lợi nhuận trước thuế hợp nhất 8.100 tỷ đồng của VPBank. Còn HD Saison cũng đóng góp 380 tỷ đồng trong riêng 9 tháng 2017. Dư địa tăng trưởng lĩnh vực này vẫn còn rất rộng mở trong trung hạn khi quy mô hiện chỉ khoảng 19% GDP năm 2017. Tuy nhiên, rủi ro tiềm ẩn từ cho vay tiêu dùng không phải là không có – đó là việc dòng vốn chảy lệch sang các tài sản đầu cơ hay khả năng các nhà băng đánh giá cao mức độ tín nhiệm của người vay do tài sản thế chấp tăng giá trị.

Sự gia tăng của nguồn thu phi tín dụng

Bên cạnh nguồn thu từ tín dụng là kênh thu chủ yếu truyền thống chiếm tỷ trọng chi phối, nhiều ngân hàng đã gia tăng đáng kể nguồn thu phi tín dụng. Thậm chí, một vài ngân hàng bắt đầu rục rịch áp dụng biểu phí mới, những cái bắt tay hợp tác phân phối bảo hiểm qua kênh ngân hàng (bancassurance), kênh thanh toán đang ngày càng trở nên phổ biến nhờ những điều chỉnh trong thói quen tiêu dùng, phát triển của thương mại điện tử hay quy định hạn chế giải ngân vốn vay bằng tiền mặt mới đây của NHNN. Các yếu tố này là những động cơ để thúc đẩy các nguồn thu phi tín dụng của các ngân hàng.

Thu hồi nợ xấu và những quả ngọt từ “trái đắng”

Nợ xấu không phải của riêng ngành ngân hàng, liên quan tới nghĩa vụ trả nợ của người đi vay. Bên cạnh khoản vay đối với ngân hàng, thường phải có tài sản cầm cố để đảm bảo cho khoản vay nhưng lại nằm ở ngoài hạch toán sổ sách thông thường, bởi vậy, khi nhiều khoản nợ bên đi vay không còn khả năng chi trả, các ngân hàng buộc sử dụng lợi nhuận của mình để bù đắp cho những rủi ro mất vốn này – trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu. Khi nợ xấu trở thành nợ không thể thu hồi được vì lý do này hay lý do khác thì ngân hàng phải “xuất toán” tài sản để đấu giá thu hồi khoản nợ, hoặc nếu khách hàng phục hồi khả năng kinh doanh mà hoàn trả lại khoản nợ thì ngân hàng sẽ hạch toán ghi nhận khoản thu này, và bởi vậy lợi nhuận sẽ được cải thiện thêm.

Nhìn lại thời gian từ khi Nghị quyết 42 có hiệu lực, nhiều ngân hàng liên tục ra thông báo thu giữ và rao bán tài sản đảm bảo hay ghi nhận “trái đắng” là phần thu hồi nợ xấu từ các khoản nợ đã xử lý vào lãi hoạt động khác; hơn nữa, nhờ tích cực trích lập, gánh nặng dự phòng cho các khoản nợ xấu cũ các năm tới sẽ giảm đáng kể.

Bước chuyển mới trong tái cơ cấu ngân hàng

Cùng với 3 ngân hàng 0 đồng, Sacombank và DongABank là 5 ngân hàng thuộc diện trọng tâm tái cơ cấu năm 2017-2018. Nhìn từ phía tích cực, tái cơ cấu các ngân hàng này đồng thời cũng mở ra cánh cửa cho các nhà đầu tư mới bước chân vào ngành hay các nhà băng khác mở rộng quy mô. Nhiều thương vụ M&A kỳ vọng được nổ ra trong các năm tới…

Cụ thể, tại ba ngân hàng 0 đồng, nhiều thay đổi khá tích cực đặc biệt về nợ xấu đã diễn ra sau 2-3 năm mua lại bắt buộc. CBBank xử lý được 5.000 tỷ đồng; GPBank báo cáo giá khoản nợ đã bán VAMC và các khoản phải thu đến cuối năm 2017-2018 đã giảm mạnh; OceanBank được xem là điển hình xử lý nợ xấu tốt nhất trong 3 ngân hàng được NHNN mua lại, thêm vào đó, OceanBank đang tiến gần hơn đến một thỏa thuận bán chuyển nhượng 100% vốn cho một đối tác nước ngoài.

Quy trình xử lý đối với ngân hàng được mua bắt buộc đã chính thức được quy định trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật các tổ chức tín dụng hồi cuối tháng 11/2017, theo đó, việc chuyển nhượng sẽ được thỏa thuận trực tiếp với giá không thấp hơn giá trị thực của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ và theo cơ chế giá thị trường.

Trong những ngày cuối cùng của năm 2018, không ít những kỷ lục được xác lập với những chỉ tiêu kinh doanh bứt phá và cải thiện tỉ lệ an toàn, tỉ lệ nợ xấu giảm – đã thể hiện qua 10 điểm ghi nhận theo đây:

Thứ nhất, tài sản ước tính của các tổ chức tín dụng: Theo báo cáo tổng quan thị trường tài chính năm 2018 của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (NFSC), trong năm 2018, tổng tài sản hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) tăng khoảng 11,5% so với cuối năm 2017. Theo đó tổng tài sản ước tính hiện tại khoảng 11.152.000 tỉ đồng; với tổng tín dụng ước tăng khoảng 14-15% (năm 2017 tăng 17,6%) – mức tăng trưởng thấp nhất trong 3 năm gần đây.

Thứ 2, tăng trưởng lợi nhuận của các tổ chức tín dụng: Cũng theo ước tính của Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia, lợi nhuận sau thuế của TCTD năm 2018 ước tính tăng khoảng 40% so với năm 2017 (năm 2017 tăng 52,3%). Các chỉ tiêu sinh lời tiếp tục được cải thiện, ROA ước đạt 0,9% (năm 2017: 0,73%), ROE ước đạt 13,6% (năm 2017: 11,22%).

Thứ 3, huy động vốn từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng trưởng ổn định: Báo cáo tổng quan thị trường cũng cho biết, nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng trưởng ổn định so với năm 2017, trong đó vốn huy động ước tăng 15% so với năm 2017 (năm 2017 tăng 14,6%); đáng chú ý là năm 2018, tình hình huy động vốn ngoại tệ tăng mạnh khoảng 17% (năm 2017: 2,1%), chiếm 9,9% tổng vốn huy động. Vốn huy động VND tăng khoảng 14,3%, chiếm 90,1% tổng vốn huy động.

Thứ 4, tăng trưởng tín dụng: Theo số liệu chính thức của Tổng cục Thống kê, tính đến 20/12, tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế ước tính đạt 13,3% so với cùng kỳ năm 2017 (năm 2017 đạt 16,96%), đây là mức tăng trưởng tín dụng thấp nhất trong những năm gần đây.

Thứ 5, tỉ lệ nợ xấu: Sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về xử lý nợ xấu, hệ thống TCTD xử lý được khoảng 30% nợ xấu xác định tại thời điểm 15/8/2017 – theo nhận định của NFSC. Cụ thể hơn, tỷ lệ nợ xấu năm 2018 giảm nhẹ ở mức 2,4% so với cuối năm 2017 (năm 2017: 2,5%). Dự phòng rủi ro tín dụng tăng khoảng 30,1% so với cuối năm 2017; trong đó, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng so với nợ xấu báo cáo cải thiện lên mức 78,2% (năm 2017: 65,4%).

Thứ 6, ngân hàng tất toán nợ xấu VAMC: Giá trị xử lý nợ xấu năm 2018 tăng khoảng 30% so với năm 2017 không bao gồm các khoản nợ bán cho VAMC; trong đó, sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng chiếm 59,8%; thu nợ từ khách hàng chiếm 33,2%; bán phát mại tài sản chiếm 3%, còn lại bằng các hình thức khác. Một số ngân hàng thương mại đã tất toán toàn bộ nợ xấu đã bán cho VAMC (Vietcombank, Techcombank, Vietinbank, MBbank, VIB) hoặc chủ động mua lại các khoản nợ đã bán cho VAMC để tự xử lý.

Thứ 7, ngân hàng đạt chuẩn BASEL II: Trên toàn hệ thống (khoảng 100 tổ chức tín dụng, gồm trên 30 ngân hàng thương mại) hiện nay duy nhất mới chỉ có 3 đơn vị đạt chuẩn basel II được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận áp dụng từ năm 2019 là OCB, Vietcombank, VIB. Như vậy, năm 2020 là thời điểm để 10 ngân hàng thí điểm là Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Techcombank, ACB, VPbank, MBbank, Maritimebank và Sacombank áp dụng phương pháp này.

Thứ 8, kiều hối kỷ lục: Cũng theo thông lệ hàng năm, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam ngày càng tăng mạnh vào cuối năm. Ước tính đến thời điểm này, lượng kiều hối gửi về nước là 18,9 tỷ USD, chiếm 6,6% GDP cả nước. Các ngân hàng cho biết, lượng kiều hối chuyển về vào dịp Tết thường tăng khoảng 20 – 25% so với các tháng trong năm. 2018, do Tết Nguyên đán đến sớm, gần với Noel và Tết Dương lịch, kiều bào tập trung gửi tiền về dịp năm mới cho người thân ăn Tết, lì xì và mừng tuổi. Vì thế, lượng kiều hối đã có những đột biến khác với những năm trước.

Thứ 9, vốn hóa ngân hàng niêm yết: Tính đến 29/12, vốn hóa của 17 ngân hàng đang niêm yết đạt hơn 731 nghìn tỉ đồng. Trong đó, đứng đầu danh sách là Vietcombank, tiếp ngay sau là BIDV.

Thứ 10, số lượng ngân hàng niêm yết: Tính đến cuối năm 2018, có 17 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán; trong đó, 10 ngân hàng niêm yết trên sàn chứng khoán TP.HCM, 4 ngân hàng trên sàn chứng khoán Hà Nội và 3 ngân hàng trên sàn UPCoM.

bank

Để ổn định và phục vụ tăng trưởng kinh tế tới 2022, dự báo tăng trưởng tín dụng trong 3-5 năm tới sẽ duy trì ở mặt bằng khoảng 14%/năm, thấp hơn so với giai đoạn 2015-2017 (trung bình 18,1%) xuất phát từ cả cung và cầu tín dụng. Theo đó, về phía cầu tín dụng, tăng trưởng kinh tế được dự báo chậm lại với GDP năm 2019 dự báo ở mức 6,4-6,5%. Kinh tế tăng trưởng được đánh giá là sẽ chậm lại sẽ đi đôi với nhu cầu vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh từ phía doanh nghiệp cũng có thể giảm tốc tương ứng. Ngoài ra, lãi suất được dự báo tăng nhẹ 0,25-0,5% trong năm 2019 cũng sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốn của khách hàng.

Về phía cung tín dụng, nguồn cung tín dụng bất động sản đang bị siết lại thông qua quy định nâng hệ số rủi ro đối với các khoản cho vay kinh doanh bất động sản lên 200% vào đầu 2018 và 250% vào đầu 2019, đồng thời giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn xuống 40% vào đầu 2019.

Bên cạnh đó, với việc áp dụng Basel II, nhu cầu vốn ước tính để đáp ứng được mức tăng trưởng tín dụng 14-15%/năm ở các ngân hàng niêm yết là khoảng 237.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2018-2019. Nhu cầu vốn lớn nhất tập trung ở Vietinbank, LienVietPostBank và Sacombank với mức tăng vốn bình quân hàng năm trong giai đoạn tới lần lượt là 22%, 16% và 13%/năm.

Trong 2018, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin – NIM) các ngân hàng tăng bình quân 0,16% do lãi suất đầu ra tăng mạnh hơn so với lãi suất đầu vào và tỷ lệ chỉ số huy động/cho vay (LDR) tăng.

Đối với 2019, các chuyên gia đánh giá ngành ngân hàng có thể đạt mức cao do tỷ lệ LDR tại hầu hết các ngân hàng vẫn đang ở dưới mức quy định theo Thông tư 36 và quyền thương lượng (bargaining power) của ngân hàng vẫn ở vị thế cao hơn so với khách hàng, nhờ đó có thể thay đổi lãi suất đầu ra theo biến động lãi suất đầu vào, duy trì chênh lệch có lợi cho ngân hàng.

Báo cáo ngành ngân hàng 2019 của CTCP Chứng khoản Bảo Việt (BVSC) mới đây nhận định ngành ngân hàng có thể đạt NIM (tỷ lệ thu nhập lãi cận biên) ở 3,2%, tương đương 2018. Trong đó, hai yếu tố tác động tiêu cực tới NIM là việc đưa tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn phải về 40% vào 1/1/2019 và nguồn vốn giá rẻ từ Kho bạc Nhà nước có thể sẽ giảm trong 2019 do tình hình giải ngân đầu tư công tốt hơn so với 2018. Tuy nhiên, tiền gửi kho bạc nhà nước chỉ ảnh hưởng đến ba ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước là BIDV, VietinBank, Vietcombank và những ngân hàng đang có thể có tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn quanh 40% gồm có VIB, TPBank, LienVietPostBank, Eximbank và Bac A Bank.

Bên cạnh những yếu tố lạc quan, thách thức lớn nhất mà hệ thống ngân hàng đối mặt trong năm 2019 được TS. Nguyễn Trí Hiếu – Chuyên gia tài chính chỉ ra chính là những biến động bất thường từ thị trường tài chính toàn cầu xuất phát từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung và lộ trình thắt chặt tiền tệ của FED.

Lợi ích kép từ chính sách tín dụng thắt chặt

Cũng cùng trong Báo cáo Tổng quan về thị trường tài chính năm 2018 của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, tổng tài sản hệ thống các TCTD tăng khoảng 11,5% so với cuối năm 2017; trong đó, tổng tín dụng ước tăng khoảng 14-15% giảm nhẹ so với năm 2017 (17,6%). “Đây là mức tăng trưởng thấp nhất trong ba năm gần đây, nhưng phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế”, Cơ quan này đánh giá; nhưng,

nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư của hệ thống tăng trưởng ổn định, ước tăng 15% so với năm 2017 (năm 2017 tăng 14,6%), qua đó vốn huy động tăng trưởng ổn định trong khi tín dụng tăng thấp hơn so với các năm trước nên thanh khoản của hệ thống TCTD năm 2018 duy trì ổn định. Đáng chú ý hơn cả là tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung và dài hạn bình quân đã giảm đáng kể, xuống còn 28,7% cho thấy các NHTM đã chủ động cơ cấu lại kỳ hạn huy động và cho vay để đáp ứng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn dưới 40% vào thời hạn 1/1/2019.

Các ngân hàng được dự báo sẽ tiếp tục đẩy mạnh số hóa trong năm 2019

Thêm vào đó, TS. Lê Xuân Nghĩa – Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia đánh giá, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong năm 2018 đã có sự cải thiện rõ nét; nhưng đánh giá cao và ấn tượng hơn cả chính là việc kiểm soát chặt cung tiền, tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động bất thường, sức ép lạm phát gia tăng, cho thấy sự chủ động và linh hoạt của NHNN trong việc điều hành chính sách tiền tệ.

Việc khống chế tăng trưởng tín dụng theo quan điểm của Ông được coi là van an toàn quan trọng nhất giúp cho NHNN đạt được mục tiêu kép, chặn đứng nguy cơ tạo ra khủng hoảng từ cung tiền, tăng trưởng tín dụng mà ở Việt Nam đã xảy ra nhiều lần trong quá khứ. Qua đó, dòng vốn chảy nhiều hơn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế…

Không chỉ vậy, biện pháp này còn tạo sức ép cho các ngân hàng tăng vốn. Vì muốn tăng tín dụng, buộc các ngân hàng phải tăng vốn; nếu không sẽ bị siết lại đảm bảo tổng tín dụng chỉ ở mức 14-15%. “Trong thời gian tới có thể NHNN áp dụng giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng theo mức độ an toàn vốn, khả năng đáp ứng chuẩn Basel II”, TS. Nghĩa bổ sung và đánh giá, với cách quản lý điều hành bài bản như hiện nay cho thấy tính chuyên nghiệp trong điều hành chính sách tiền tệ ngày càng cao hơn, đúng phong cách và vị thế của một Ngân hàng trung ương.

Bức tranh sẽ tiếp tục sáng, nhưng…

Bên cạnh đó, vẫn còn thách thức lớn nhất mà hệ thống ngân hàng đối mặt trong năm 2019 được TS. Nguyễn Trí Hiếu chỉ ra là những biến động bất thường từ thị trường tài chính toàn cầu xuất phát từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung và lộ trình thắt chặt tiền tệ của FED. Bên cạnh đó, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới, theo đó mức độ chịu ảnh hưởng sẽ tăng lên tương ứng; nếu tình hình kinh tế thế giới xấu đi, khó khăn đối với hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng sẽ nổi lên như những hiệu ứng đầu tiên. Cùng với hội nhập, sức ép từ các chương trình hợp tác như Hiệp định CTPPP đối với ngân hàng cũng lớn dần khi xuất hiện thêm các yếu tố nước ngoài, tham gia sâu, rộng hơn, cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng trong nước.

Đồng quan điểm, TS. Lê Xuân Nghĩa đánh giá, những thay đổi chính sách từ bên ngoài chắc chắn tác động đến kinh tế Việt Nam nhất là chính sách lãi suất của FED. Do neo vào đồng USD, nên khi đồng USD tăng giá thì đồng VND cũng sẽ bị ảnh hưởng và có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam trong năm tới. “Việc FED tăng lãi suất làm cho việc điều hành tỷ giá của chúng ta phải thận trọng hơn. Nếu muốn duy trì tỷ giá hối đoái ổn định như hiện nay sẽ gây sức ép tăng lãi suất đối với đồng VND. Điều này trở thành hiện thực khi thời gian qua các ngân hàng đã liên tục điều chỉnh tăng lãi suất huy động VND. Và một khi tăng lãi suất đầu vào sẽ khó để tránh tăng lãi suất đầu ra”, Ông Nghĩa bổ sung thêm quan ngại về chính sách.

Bên cạnh yếu tố vĩ mô khách quan, các vấn đề nội tại trong hệ thống ngân hàng vẫn còn tồn đọng nhiều vấn đề chưa được xử lý rốt ráo như xử lý nợ xấu, quản trị rủi ro vẫn còn chưa đáp ứng quy định thông lệ quốc tế sẽ làm trầm trọng thêm hiệu ứng bất lợi; trong đó, tăng vốn là một áp lực lớn vừa đồng thời là động lực để các ngân hàng quyết tâm thay đổi và lớn mạnh, nhất là các ngân hàng yếu kém nếu không muốn vị thế cạnh tranh của họ ngày càng suy giảm…

Trong khi phải duy trì được lợi nhuận để đáp ứng yêu cầu của cổ đông, các ngân hàng buộc phải tiết giảm tối ưu chi phí hoạt động, đồng thời đẩy mạnh các dịch vụ thu phí. Như vậy, các NHTM cần phải sớm phát triển công nghệ, đi sâu vào số hoá để tiết giản chi phí quản trị vận hành,… “Ngân hàng nào nhanh tay trong việc đổi mới công nghệ số hoá hoạt động từ đào tạo nhân lực đến quản trị thì ngân hàng đó sẽ chiến thắng”, chuyên gia bình luận thêm…

… sẽ là không thể biết khi nào đèn tắt – là thời điểm để các đầu thủ nổ súng; cái đáng sợ không phải là ở tiếng đếm chầm chậm của người trọng tài, vã mồ hôi là cái “sát na” đèn chợt tắt chợt bật lên, tất cả vỏn vẹn trong 1 giây, 1 phát nổ…

Áp lực tăng dần cả từ trong và ngoài với cái lạnh lẽo của thép nòng súng tỏa ra cùng cái nồng nực của hơi nóng mồ hôi… cũng như trong bối cảnh kinh tế nóng chật và phẳng; áp lực cạnh tranh ngày một tăng, giữa những cái ngổn ngang nội tại cần xử lý trong một bối cảnh không gian hữu hạn…

Để tồn tại, không chỉ cần sự may mắn, cần lắm một bản lĩnh và “không run  tay”…

Xxx – NPL

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s