Article – Basel II hay cò quay Nga…

Những canh bạc thắng lớn đưa người chơi một bước thành triệu phú…

Russian Roulette hay “cò quay Nga” – một trò chơi tàn nhẫn, khác với các loại trò chơi sử dụng xúc xắc, quân bài, bàn quay roulette bình thường, Russian Roulette là trò chơi tử thần với khẩu súng lục ổ xoay và 1 viên đạn; tiền cược chính là tính mạng của người chơi. Trò chơi kết thúc khi chỉ còn 1 người sống sót cuối cùng…

MeltUp

Hình ảnh “cò quay Nga” trong bộ phim “Đấu thủ số 13” của đạo diễn Géla Babluani dường như phần nào khắc họa tiến trình đầy kịch tính thực hiện Basel II tại Việt Nam kéo dài cơ hồ cả chục năm qua… với hàng loạt điều chỉnh từ thông tư 02, 13, 41, và công văn 780…

… sẽ là không thể biết khi nào đèn tắt – thời điểm để các đầu thủ nổ súng; cái đáng sợ ở đây không phải là ở tiếng đếm chầm chậm của người trọng tài, làm vã mồ hôi chính là cái “sát na” đèn chợt tắt chợt bật lên, tất cả vỏn vẹn trong 1 giây, 1 phát nổ…

Áp lực tăng dần cả từ trong và ngoài bởi cái lạnh lẽo từ thép nòng súng tỏa ra cùng cái nồng nực của hơi nóng mồ hôi… cũng như trong bối cảnh kinh tế nóng chật và phẳng; áp lực cạnh tranh ngày một tăng không chỉ tới từ trong nước, giữa những cái ngổn ngang nội tại cần xử lý trong một bối cảnh không gian hữu hạn…

Tiến trình xây dựng một ngành ngân hàng Việt Nam lành mạnh đã ghi nhận được những bước tiến đáng kể trong việc tái cấu trúc ngành ngân hàng, giảm số lượng ngân hàng yếu kém, nâng cao năng lực đặc biệt là về chất lượng tài sản, khả năng sinh lời, hệ số an toàn và năng lực quản trị. Trong bối cảnh chung đó, Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) đã xây dựng lộ trình áp dụng Basel II đối với hệ thống NHTM rất sớm từ năm 2014.

Basel II là phiên bản thứ hai của Hiệp ước Basel, trong đó đưa ra các nguyên tắc chung và các chuẩn mực của ủy ban Basel về giám sát ngân hàng dựa trên 3 trụ chính, được ban hành từ tháng 6/2004. Ngân hàng trung ương Singapore, ngay trong năm 2005 đã dự thảo lộ trình triển khai Basel II trên toàn hệ thống cùng với thông cáo “Mục tiêu của Basel II là giúp tăng cường thực tiễn quản trị rủi ro cho các ngân hàng Singapore, từ đó đóng góp vào một hệ thống tài chính an toàn và lành mạnh và tăng cường năng lực cạnh tranh dài hạn cho các ngân hàng Singapore” ngày 14/12/2007; Basel II chính thức đi vào áp dụng tại Singapore từ 1/1/2008. Tương tự Singapore, 9/2005 Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) Hồng Kông cũng đánh giá “với những lợi ích thiết thực của việc áp dụng Basel II đối với sự an toàn và ổn định của hệ thống ngân hàng và đối với uy tín của Hồng Kông với vai trò là một trung tâm tài chính quốc tế, Hồng Kông đã nhanh chóng và chủ động đưa các yêu cầu của Basel II vào hệ thống quy định của ngành ngân hàng”  …

Tại Việt Nam, sau khi đã đánh giá năng lực thực tế của hệ thống, NHNN đã quyết định chọn 10 ngân hàng để thí điểm chuẩn mực tính toán vốn theo phương pháp tiêu chuẩn của Basel II. Các ngân hàng được chủ động thực hiện, triển khai, cho tới năm 2018 đã có ngân hàng thành công trong việc hoàn tất triển khai Basel II theo phương pháp tiêu chuẩn. Các ngân hàng này tạo một tấm gương thực tế để các ngân hàng còn lại trong danh sách thí điểm Basel II và tất cả các ngân hàng còn lại nhanh chóng thực hiện các hành động để tuân thủ Basel II.

Hãng xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings đã ra báo cáo đánh giá về nhu cầu vốn ngắn hạn của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Theo đánh giá của Fitch, hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể phải đối mặt với mức thiếu hụt vốn gần 20 tỷ USD (tương đương 9% GDP) để đáp ứng việc triển khai tiêu chuẩn Basel II, dự kiến sẽ áp dụng từ 1/1/2020.

Theo Fitch, các ngân hàng cần phải đẩy mạnh phát hành tăng vốn trong 18 tháng tới, điều này có thể cải thiện hồ sơ tín dụng của các ngân hàng được xếp hạng nếu tăng vốn thành công. Tuy nhiên, thị trường vốn trong nước thiếu chiều sâu có thể là rào cản cho việc này, đặc biệt khi một số ngân hàng có tỷ lệ sở hữu nước ngoài đã gần tới mức giới hạn. Rào cản với việc tăng vốn của hệ thống ngân hàng là thị trường huy động vốn trong nước chưa tương xứng. Tổng tài sản hệ thống ngân hàng đạt hơn 200% GDP vào cuối năm 2017, trong khi tổng giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán của Sở HoSE chỉ khoảng 45% GDP. Mức vốn hóa của phần giao dịch tự do trên thị trường còn thấp hơn nữa, chỉ khoảng 15% GDP. Điều này khiến các ngân hàng sẽ phải phụ thuộc vào những nhà đầu tư nước ngoài để có thể tăng vốn. Tuy nhiên, đối với một số nhà băng đã tiến gần tới giới hạn 30% sở hữu nước ngoài như VietinBank hay ACB, việc tăng vốn trở nên thử thách.

Việc trả cổ tức bằng cổ phiếu có khả năng giảm áp lực vốn phần nào đối với một số nhà băng, tuy nhiên theo đánh giá của Fitch, ảnh hưởng này sẽ không nhiều. Ngoài biện pháp này, các ngân hàng có thể tăng vốn cấp 2 như một biện pháp ngắn hạn để đáp ứng các yêu cầu về vốn tối thiểu theo quy định, nhưng quy mô vốn cấp 2 cũng bị giới hạn tỷ lệ căn cứ theo vốn cấp 1.

Basel II có 3 trụ cột.

Trụ cột thứ nhất là khung quy định [pháp lý], theo đó gắn yêu cầu vốn tối thiểu (CAR) sát hơn với mức độ rủi ro thực tế của ngân hàng, gồm các rủi ro về tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Như vậy, trụ cột luật lệ của Basel II tương tự như của Basel I, với khác biệt ở phương pháp tính rủi ro bình quân gia quyền.

Về rủi ro tín dụng, có 2 phương pháp tính.

Phương pháp thứ nhất là phương pháp đánh giá khá cảm tính truyền thống, áp dụng bởi các ngân hàng nhỏ, không có khả năng tự xây dựng các mô hình đánh giá rủi ro tín dụng và các hoạt động sản phẩm tín dụng không mấy phức tạp.

Phương pháp tính rủi ro tín dụng thứ hai là phương pháp dựa trên đánh giá tín dụng nội bộ (IRB). Theo đó, lượng vốn ngân hàng cần phải duy trì đối với mỗi một khoản vay sẽ là một hàm số của rủi ro tín dụng ước tính trên khoản vay đó. Trong đó, rủi ro tín dụng ước tính được xác định dựa trên 4 biến số, gồm: xác suất mất khả năng thanh toán (PD), lượng vốn bị mất khi xảy ra mất khả năng thanh toán (LGD), khoản cho vay tại thời điểm mất khả năng thanh toán (EAD), và kỳ hạn (M). Phương pháp này hầu như đảm bảo các ngân hàng sẽ đủ khả năng để hấp thụ hoàn toàn thiệt hại từ việc khách hàng mất khả năng thanh toán.

Trụ cột thứ hai của Basel II là giám sát, nhằm xử lý các rủi ro còn lại mà chưa được trụ cột thứ nhất xử lý hoặc nằm ngoài phạm vi. Các thanh tra [nội bộ], giám sát viên sẽ xem xét sự đánh giá rủi ro nội bộ của ngân hàng để đưa ra kết luận liệu sự đánh giá nội bộ này đã phù hợp chưa và các ngân hàng đã nắm giữ đủ vốn tương ứng với mức rủi ro thực tế của họ hay chưa. Như vậy, trụ cột thứ hai này khuyến khích các ngân hàng tự xây dựng mô hình đánh giá rủi ro phù hợp.

Trụ cột thứ ba của Basel II là quy định vận hành thị trường, thông qua việc công khai và minh bạch thông tin, nhằm đảm bảo vận hành thị trường hữu hiệu là một con mắt giám sát nữa bên cạnh các thanh tra, giám sát viên.

Như vậy, so với Basel I, Basel II phức tạp hơn và nhạy cảm với rủi ro và có độ bao phủ rộng hơn rất nhiều. Do đó, để thực thi hữu hiệu Basel II đòi hỏi phải có sự thông hiểu của cơ quan chức năng cũng như của hệ thống ngân hàng thương mại về tổng quát các vấn đề, thách thức và tác động của nó lên chính nền kinh tế quốc gia. Hàng loạt các quốc gia trên thế giới đã lên kế hoạch áp dụng Basel II ngay sau khi Basel II ra đời, tuy với lộ trình khác nhau, bắt đầu hoặc với biến thể “cơ bản” của phương pháp đánh giá tín dụng nội bộ IRB, hoặc “tiên tiến”, hoặc cả hai tùy vào từng thực trạng kinh tế;

Với Việt Nam, Basel II được áp dụng thí điểm vào năm 2016 cho thấy sự khá chậm chễ; nhưng, khách quan mà nói, sự chậm chễ này có nguyên nhân từ một số trở ngại và thách thức.

Bên cạnh tính chất phức tạp và độ bao phủ rộng hơn Basel I làm cho việc thực thi nó trở nên khó khăn hơn nhiều so với Basel I, việc áp dụng thành công Basel II trước tiên đòi hỏi quốc gia áp dụng phải có một hệ thống tài chính phát triển tương đối đầy đủ và đủ [năng] lực. Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF cảnh báo việc áp dụng sớm Basel II ở những nước có nguồn lực hạn chế sẽ làm phân tán các nguồn lực dành cho các ưu tiên cấp bách thay vì củng cố sự giám sát. Điều quan trọng là phải có đủ khả năng củng cố hệ thống tài chính và tập trung vào đạt được ở mức độ cao hơn việc tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi của Basel. Việt Nam có lẽ đã chọn theo đuổi phương châm tiến chậm nhưng chắc, chỉ tiến hành áp dụng Basel II sau khi đã có sự chuẩn bị đầy đủ, bắt đầu bằng việc vá các lỗ hổng trong chính hệ thống tài chính của mình.

Thứ hai, áp dụng thành công Basel II đòi hỏi phải có số liệu chính xác, đáng tin cậy và kịp thời. Nếu rủi ro không được dự phóng hết, hay bị phóng đại hoặc đánh giá không đúng mức có thể làm vô hiệu hóa tác dụng tích cực của Basel II; mà vấn đề này ở Việt Nam vẫn còn là một thách thức lớn, thách thức chưa biết bao giờ có thể khắc phục được.

Thứ ba, cùng một nguồn số liệu, trình độ và nhận thức của đội ngũ liên quan đến Basel II sẽ là đối tượng chính quyết định hình thức cũng như nội dung diễn giải những số liệu này; bởi vậy, một nhân tố quan trọng để áp dụng thành công Basel II là công tác đào tạo nhân lực nhằm trang bị đầy đủ kĩ năng và kiến thức phổ quát và cập nhật dành cho những người thực thi. Và đây cũng là một vấn đề lớn của Việt Nam khi mà nhân sự các ngân hàng thương mại không ổn định và thường di chuyển qua lại giữa các ngân hàng.

Thứ tư, ở Việt Nam, mới chỉ có các ngân hàng là đối tượng phải áp dụng Basel II, trong khi các chủ thể khác của thị trường tài chính như công ty tài chính, chứng khoán, và bảo hiểm không bị ràng buộc áp dụng yêu cầu này. Sự phân biệt này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới toàn bộ nỗ lực củng cố thị trường tài chính vì những chủ thể này cùng với mối liên kết với các ngân hàng trong bối cảnh thị trường tài chính tổng thể sẽ quyết định sự ổn định của hệ thống. Vấn đề bất đối xứng về nghĩa vụ này còn được khuyếch đại bởi sự bất đối xứng về giám sát. Trong khi ngân hàng thương mại và công ty tài chính được giám sát trực tiếp bởi Ngân hàng Nhà nước thì công ty chứng khoán và bảo hiểm lại được giám sát bởi Bộ Tài chính; dẫn tới, sự phối hợp hợp tác giữa các cơ quan chức năng này là mắt xích quan trọng và hiện nay, còn phải cải thiện hơn nữa.

Thứ năm, thực thi Basel II sẽ không hề rẻ. Với gánh nặng phải tuân thủ các chuẩn mực Basel II, chỉ có các ngân hàng lớn ở Việt Nam mới có đủ khả năng theo đuổi cuộc chơi tốn kém mang tên Basel II.

Cuối cùng, Basel II sẽ dẫn đến sự phân biệt giữa các đối tượng tín dụng là doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp nhỏ, trong đó, doanh nghiệp nhỏ thường được xem là có độ rủi ro cao hơn các doanh nghiệp lớn. Bởi vậy, cơ quan chức năng cũng phải có giải pháp để cân bằng mặt hạn chế này của Basel II.

Theo quy định tại Thông tư, ngân hàng không có công ty con, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thường xuyên duy trì tỷ lệ an toàn vốn xác định trên cơ sở báo cáo tài chính của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tối thiểu 8%; đối với các ngân hàng có công ty con, thông tư quy định ngân hàng đó phải có tỷ lệ an toàn vốn xác định trên cơ sở báo cáo tài chính của ngân hàng tối thiểu 8%; đồng thời, tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất xác định trên cơ sở báo cáo tài chính hợp nhất của ngân hàng tối thiểu 8%. Trường hợp ngân hàng có công ty con là công ty kinh doanh bảo hiểm thì tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất được xác định trên cơ sở báo cáo tài chính hợp nhất của ngân hàng nhưng không hợp nhất công ty con là công ty kinh doanh bảo hiểm theo nguyên tắc hợp nhất của pháp luật về kế toán và báo cáo tài chính đối với tổ chức tín dụng. Như vậy, tỷ lệ an toàn vốn tối thiếu theo quy định tại Thông tư trên là 8%, thấp hơn so với mức 9% quy định tại Thông tư số 13/2010/TT-NHNN đang được áp dụng hiện tại. Thông tư này sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2020, tuy nhiên, các ngân hàng có khả năng thực hiện tỷ lệ an toàn vốn trước thời hạn này có thể gửi văn bản đăng ký áp dụng trước.

Động thái giảm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ mức 9% xuống mức 8% của NHNN là nhằm mở đường cho việc áp dụng chuẩn Basel II vào hệ thống các ngân hàng thường mại, bởi theo quy định của chuẩn Basel II, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8%.

Theo một báo cáo mới đây của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG), tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của toàn hệ thống năm 2018 ước tính là 11,3%. Toàn hệ thống có 4/92 ngân hàng thương mại có tỷ lệ CAR dưới 9% và 10/118 tổ chức tín dụng âm vốn tự có. Nếu loại trừ các tổ chức tín dụng bị âm vốn tự có thì CAR của toàn hệ thống là 12,6%. Tuy nhiên, kết quả áp dụng tiêu chuẩn an toàn vốn theo Basel II tại 10 ngân hàng thí điểm cho thấy hệ số CAR giảm mạnh so với số báo cáo hiện tại, chủ yếu do tài sản có quy đổi rủi ro tăng; trong đó, đối với 4 ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước, tỷ lệ CAR theo báo cáo hiện tại đã gần tiệm cận mức 9%. Nếu hệ thống áp dụng Basel II, tỷ lệ này còn giảm xuống dưới 8%. Yêu cầu đáp ứng Basel II tuy đã được đặt ra tại Việt Nam từ nhiều năm trước; đã từng xác định 10 thành viên thí điểm, manh nha từ 2015, đến 2016, dự kiến từ 2017, nhưng với thực trạng hiện nay, có lẽ sẽ phải chờ đến 2020 mới có thể thực hiện được.

Theo kết quả nghiên cứu của Ủy ban Basel cho thấy, công thức tổng quát khi tỷ lệ an toàn vốn tăng thêm 1% thì chênh lệch lãi suất cho vay và chi phí đi huy động vốn cần tăng tương ứng lên 1,3%. Tuy nhiên, có thể sử dụng một số biện pháp gồm tăng lợi nhuận ngoài lãi để bù đắp phần lợi nhuận ròng mất đi, như: phí, hoa hồng… hoặc tăng hiệu quả quản trị để giảm chi phí hoạt động. Theo nghiên cứu của Elliot (2009, 2010), nếu các ngân hàng không sử dụng được các phương thức bù đắp này thì lãi suất cho vay có thể tăng lên 0,8% trong trung dài hạn. Từ những phân tích này, các chuyên gia đi tới kết luận rằng NHNN nên đưa ra thời hạn áp dụng từ đầu năm 2020 để các NHTM có thêm thời gian để có giải pháp tăng thu từ dịch vụ, giảm chi phí hoạt động … để giảm chi phí huy động vốn, bởi nếu không có giải pháp thì ngân hàng sẽ bị mất khách hàng. Ngoài ra, các ngân hàng cũng cần phải dành ít nhất 3 năm để chuẩn bị cho việc áp dụng tỷ lệ CAR mới, vì các lý do:

Thứ nhất, với quản trị rủi ro: Cần phải thiết lập hệ thống quản trị rủi ro tập trung và hiệu quả. Bên cạnh các mô hình quản trị rủi ro cần định lượng và phát triển, công tác quản trị rủi ro ở rất nhiều các phòng ban, chi nhánh, phòng giao dịch, thậm chí đến từng nhân viên cần phải được thúc đẩy.

Thứ hai, hệ thống thông tin cần tin cậy và chính xác: Sự thành công của Basel II phụ thuộc vào độ chính xác, tin cậy và chất lượng của nguồn dữ liệu. Việc đầu tư cho thông tin báo cáo là vô cùng tốn kém.

Thứ ba, đầu tư lớn về tài chính: Việc thiết lập hệ thống quản trị rủi ro, chi phí cho hệ thống IT, thuê các nhân viên IT mới có trình độ kỹ thuật cao hơn… đòi hỏi các ngân hàng phải đầu tư chi phí lớn khi áp dụng Basel II; chi phí hoạt động tăng cao.

Về mặt thông tin chính thức, hiện duy nhất mới chỉ Ngân hàng Phương Đông (OCB) tuyên bố đã hoàn tất triển khai Basel II, tuy rằng, tuyên bố này không hẳn là thông điệp rằng Việt Nam hiện mới chỉ có một trường hợp đủ sức nâng được mức tạ này.

Trả lời VnEconomy gần đây, một lãnh đạo của Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) khẳng định họ đã áp dụng các chuẩn mực Basel II trong hoạt động một năm qua, nhưng còn chưa công bố. Bởi vì, vị lãnh đạo giải thích, công bố thời điểm này có thể khiến khách hàng, nhà đầu tư hiểu nhầm theo hướng không tích cực; do các chuẩn mực Basel II không được áp dụng trên một mặt bằng tiêu thức chung cho cả hệ thống hiện nay, dẫn đến dị biệt về số liệu mà cảm quan đơn giản có thể dẫn tới việc hiểu sai. Ví dụ như, ngân hàng đang có tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là 12%, cao hơn nhiều theo mức tối thiểu 9% mà Ngân hàng Nhà nước quy định; nhưng nếu áp dụng theo Basel II, tỷ lệ đó bị giảm xuống còn khoảng 10 – 10,5%; và nếu công bố lại có thể bị nhầm lẫn là “kém” so với những thành viên khác chưa áp dụng do các tiêu thức quy đổi tài sản rủi ro; hay như tại Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank), lãnh đạo chuyên trách cũng cho biết ngân hàng đã triển khai xong mô hình theo Basel II từ cuối năm 2016, từ năm 2017 đã bắt đầu chạy, nhất là sau khi đã tất toán xong các khoản nợ xấu từng bán cho Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) từ giữa năm 2017; như với Vietcombank, mô hình đã sẵn sàng, các đề án đã chuẩn bị, là thành viên đầu tiên xóa sạch nợ xấu tại VAMC, nhưng để nâng mức tạ trên lại cần phải tiếp tục gia cố tỷ lệ CAR. Trở ngại đảm bảo tỷ lệ CAR theo chuẩn Basel II cũng là thực tế chung tại các ngân hàng thương mại nhà nước (Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank). Vì nhóm này đã khoảng ba năm qua vẫn chưa tăng mạnh được vốn điều lệ, trong khi vẫn phải thúc đẩy mở rộng tín dụng, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm.

Đây cũng là những thành viên có trong nhóm 10 ngân hàng thương mại Việt Nam đầu tiên được xác định thí điểm Basel II, nhưng đến nay, bên cạnh hạn chế về tăng vốn ở một số trường hợp, có thành viên thực tế cũng đã thay đổi lớn về tình hình sức khỏe so với thời điểm xác định trước đây, thậm chí phải có cơ chế hỗ trợ tái cơ cấu… Theo đó, cũng như theo mục tiêu đề án tái cơ cấu hệ thống, dự kiến phải đến năm 2020 Việt Nam mới có thể có những đánh giá mở rộng hơn, toàn diện hơn về kết quả cuối cùng những thành viên nào thực sự thực hiện toàn diện Basel II.

Trong năm 2018, thị trường mua bán sáp nhập (M&A) ngân hàng tương đối im ắng. Câu hỏi đặt ra là liệu năm 2019, M&A ngân hàng có sôi động hơn khi “NHNN tiếp tục thúc đẩy việc mua bán, sáp nhập trên cơ sở tự nguyện các tổ chức tín dụng thành các định chế có quy mô lớn và quản trị tốt hơn”, đó là một trong những giải pháp cơ cấu lại ngân hàng được nêu ra tại Đề án 1058 về cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020 đã được Chính phủ phê duyệt.

Một trong những vấn đề then chốt của hệ thống ngân hàng năm 2019 sẽ là tăng vốn. Với việc gia tăng về dự phòng rủi ro, khả năng cao là không ít ngân hàng sẽ có tỷ lệ an toàn vốn tính theo Thông tư 41 dưới 8%, thậm chí thấp hơn. Đây là rủi ro của cả hệ thống, và cũng là thời điểm mà các ngân hàng buộc phải có phương án tăng vốn để đảm bảo hệ số CAR theo quy định mới. Như vậy, việc các ngân hàng phải áp dụng theo chuẩn mực vốn của Basel II là áp lực rất lớn, nhưng cũng là động lực để nhiều nhà băng phải nghĩ tới bài toán sáp nhập để lớn mạnh hơn.

Từ cách đây vài năm, cơ quan điều hành đã có gợi ý tới khả năng toàn hệ thống chỉ cần 15 – 17 ngân hàng có quy mô tương đối lớn và có sức khoẻ tài chính vững vàng là đủ. Trên thực tế, hiện nay số lượng ngân hàng trong hệ thống vẫn còn khá nhiều. Câu chuyện tuân thủ theo các chuẩn mực an toàn vốn của Basel II, chỉ cần nghiêm túc thực hiện đúng lộ trình đã đề ra, chắc chắn sẽ khiến hệ thống tự động có sự sàng lọc, mà không cần tới biện pháp hành chính. Những ngân hàng nhỏ không đủ nội lực đáp ứng được yêu cầu về vốn sẽ phải tính tới phương án sáp nhập.

M&A trong lĩnh vực ngân hàng thường mại hiện nay ở Việt Nam còn đang rất giới hạn. Pháp luật Việt Nam quy định các NHTM chỉ được phép sáp nhập, hợp nhất; nếu thực hiện mua lại một tổ chức tín dụng khác thì NHTM chỉ được mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, mà không được mua lại một ngân hàng khác.

Trong khi đó, ở nhiều quốc gia khác, pháp luật không có giới hạn về điểm này khi cho phép các loại hình doanh nghiệp khác được phép mua một phần hay toàn bộ cổ phần của các ngân hàng (với sự cho phép của Thống đốc NHTW Canada như trường hợp luật của Canada). Và có lẽ đây cũng là thời điểm để cân nhắc những thay đổi phù hợp với điều kiện của Việt Nam, một trong số đó là việc xem xét và tính toán để ngân hàng không nhất thiết phải sáp nhập 100%, mà có thể nhận sáp nhập từng phần, tương tự như tại quy định của pháp luật của nhiều quốc gia khác.

Nếu trong một giao dịch ngân hàng A mua ngân hàng B – có quy mô nhỏ hơn: hoạt động tín dụng của ngân hàng B không thật sự tốt thì ngân hàng A sẽ tạm thời bỏ qua, nhưng mảng thu dịch vụ phát triển tốt thì ngân hàng A có thể ưu tiên sáp nhập mảng dịch vụ trước, sau đó mới thực hiện tái cấu trúc dần để nhận sáp nhập hoàn toàn ngân hàng B, không cần phải thực hiện cùng lúc tại một thời điểm. Tương tự, cuối năm 2017, Ngân hàng MTV ANZ Việt Nam chính thức hoàn thành xong thương vụ bán lại mảng bán lẻ – retail banking tiếp sau loạt động thái của ANZ tại nhiều quốc gia khác. Vào thời điểm đó, có ít nhất 5 nhà đầu tư ngỏ ý mua lại nhưng đối tác cuối cùng đáp ứng được các yêu cầu về giá, chính sách với nhân viên… là Shinhan Bank. Khoản thu nhập khác mà ANZ Việt Nam ghi nhận từ thương vụ này là hơn 825 tỷ đồng.

Việc M&A từng phần sẽ giúp đẩy nhanh tốc độ của hoạt động M&A và gia tăng giá trị của mỗi giao dịch M&A. Khi vận hành theo đúng cơ chế thị trường, hoạt động M&A sẽ sôi động và các ngân hàng quy mô nhỏ sẽ có cơ hội để cải thiện sức khoẻ của mình…

Để tồn tại, không chỉ cần sự may mắn, cần lắm một bản lĩnh và “không run  tay”…

Xxx – NPL

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s