Article – Suy thoái – bóng ma chu kỳ…

Người ta nói tới khủng khoảng cũng giống như khi đề cập tới bóng ma với đầy đủ sự run rẩy và sợ hãi… bóng ma này không chỉ “dọa suông” mà nó còn mang theo “bệnh dịch” và đã có những thời kỳ mà ảnh hưởng của nó là xuất phát điểm cho những cuộc chiến đẫm máu…

brain.jpeg

Thuở xa xưa, khi xã hội còn ở giai đoạn phong kiến, những cuộc chiến kéo dài dai dẳng qua nhiều thập kỷ không chỉ xảy ra ở liên lục địa Á – Âu mà còn ở châu Âu và nội tại các quốc gia châu Á, dù ở Trung Quốc hay ở Nhật Bản, có xuất phát điểm từ khủng khoảng lương thực, hay khủng khoảng nguồn gỗ, sắt, hoặc nguồn nước ngọt… – cũng đúng khi Hàn Phi Tử (đại diện phái pháp trị) cho rằng chiến tranh sẽ là điểm cuối cùng xử lý khủng khoảng, bắt đầu từ dân số và tái phân bổ các nguồn lực xã hội…

Trong thời hiện đại, bóng ma khủng hoảng xuất hiện theo một chu kỳ tương đối rõ nét, điểm qua một số dấu ấn thế kỷ 20 tại Hoa Kỳ – nền kinh tế dẫn đầu toàn cầu:

  • ĐẠI KHỦNG HOẢNG – Xảy ra từ tháng 8 năm 1929 đến tháng 3 năm 1933; Đại khủng hoảng được các chuyên gia đánh giá là cuộc suy thoái tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Kéo dài tổng cộng 43 tháng, GDP giảm xuống -26,7%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt lên 24,9%. Cuộc Đại khủng hoảng xảy ra do: Sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán toàn cầu, hệ thống các ngân hàng thường mại Mỹ, và sự nổi lên của những loại thuế quan mới lặp đi lặp lại theo một chu kỳ xoáy trôn ốc.
  • SUY THOÁI KINH TẾ TỪ NĂM 1937 ĐẾN NĂM 1938
  • SUY THOÁI KINH TẾ NĂM 1945
  • SUY THOÁI KINH TẾ NĂM 1949
  • SUY THOÁI KINH TẾ NĂM 1953
  • SUY THOÁI KINH TẾ NĂM 1958
  • SUY THOÁI KINH TẾ TỪ NĂM 1960 ĐẾN NĂM 1961
  • SUY THOÁI KINH TẾ TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1970
  • SUY THOÁI KINH TẾ TỪ NĂM 1973 ĐẾN NĂM 1975
  • SUY THOÁI KINH TẾ NĂM 1980
  • SUY THOÁI KINH TẾ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẬP NIÊN 80
  • SUY THOÁI KINH TẾ TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẬP NIÊN 90, và
  • ĐẠI SUY THOÁI 2008, tái lập với sự suy sụp nền kinh tế từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 6 năm 2009 là một trong những giai đoạn tăm tối nhất trong lịch sử phát triển nền kinh tế Mỹ trong thế kỷ vừa qua. GDP giảm xuống còn -5,1%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp tăng lên đến 10%. Nguyên nhân lớn nhất của Cuộc đại suy thoái này là vì khủng hoảng cho vay thế chấp bất động sản dưới chuẩn. Điều này, cùng với việc tăng giá lương thực và giá dầu, đã góp phần gây ra cuộc khủng hoảng tiền tệ toàn cầu. Kết quả là, một số định chế tài chính nổi tiếng như Lehman Brothers, AIG, Freddie Mac, Fannie Mae và Bear Stearns đều sụp đổ; dẫn đến, Gói kích thích tài chính trị giá USD 787 tỷ và cứu trợ ngân hàng trị giá USD 700 tỷ là cái giá mà chính phủ phải trả để giải quyết cuộc suy thoái 18 tháng.

Nhưng,

ảnh hưởng của đại suy thoái 2008 còn kéo dài tới nhiều năm sau này, trong đó, một trong những thách thức mà các nền kinh tế lớn nhất thế giới phải đối mặt là chính sách thắt chặt tiền tệ của một số nước sau một thập kỷ tiến hành các biện pháp kích thích kinh tế sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Các ngân hàng trung ương tại Mỹ, Anh, Khu vực sử dụng đồng Euro (Eurozone), Nhật Bản…, đã áp dụng chính sách nới lỏng tiền tệ với mức lãi suất thấp và mua tài sản quy mô lớn để thúc đẩy hoạt động chi tiêu và hỗ trợ nền kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay một số ngân hàng trung ương đã bắt đầu dừng chính sách kể trên. Mối lo ngại về đà giảm tốc của kinh tế toàn cầu, việc thắt chặt chính sách tiền tệ của các ngân hàng cùng với các yếu tố khác đã khiến các thị trường chứng khoán lao dốc, trong đó, Mỹ đã cho dừng chương trình nới lỏng định lượng (QE) vào cuối năm ngoái và tăng lãi suất 4 lần trong năm 2018 ngay khi nền kinh tế cho một dấu hiệu khả quan; Ngân hàng Trung ương châu Âu trong tháng 12/2018 đã khẳng định sẽ kết thúc QE và chấm dứt chương trình mua trái phiếu 15 tỷ Euro (17 tỷ USD)/tháng. Tuy nhiên, trong năm 2018, từ những ảnh hưởng có tính khách quan như chiến tranh thương mại, các chỉ số chứng khoán Mỹ ghi nhận năm hoạt động tồi tệ nhất kể từ năm 2008, trong khi chỉ số tổng hợp xuyên châu Âu Stoxx 600 cũng chứng kiến năm tệ nhất trong một thập niên.

Các chuyên gia nhận định bất ổn xuất phát từ những thay đổi chính sách ở các nền kinh tế lớn cũng ảnh hưởng xấu đến thị trường tài chính và hoạt động kinh tế trên toàn thế giới. Ngân hàng đầu tư UBS cảnh báo các nhà đầu tư cần chuẩn bị ứng phó với những tác động đối với thị trường do tranh chấp thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc – cuộc chiến thương mại dường như chưa có hồi kết và được dự kiến sẽ còn kéo dài. Liên minh châu Âu (EU) cảnh báo rằng hệ thống thương mại đa phương đang xáo động trong một “cuộc khủng hoảng sâu sắc” và Mỹ đang ở “tâm chấn“…

Khối nợ công đột biến cũng là một thách thức khác mà kinh tế thế giới phải đối mặt. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Đức Olaf Scholz nhận định: khởi phát của vấn đề đã tồn tại từ cuộc khủng khoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và đến nay vẫn chưa hoàn toàn cải thiện, đó là khối nợ công khổng lồ tại nhiều quốc gia và đồng hành là tình trạng thất nghiệp gia tăng tại một số nước. Ông nhấn mạnh nhiệm vụ cấp bách hiện nay là giảm nợ công, tăng cường sự minh bạch và tiếp tục cuộc thánh chiến chống gian lận thuế.

Nguy cơ tiểm ẩn…

Không chỉ đánh giá từ S&P và UBS, trong báo cáo triển vọng kinh tế mới nhất, tổ chức OECD đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu vào năm 2019. OECD dự kiến tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2019 sẽ đạt 3,5%, giảm so với mức dự báo 3,7% được đưa ra hồi tháng 9/2018. Cụ thể, tổ chức này điều chỉnh giảm tăng trưởng kinh tế Trung Quốc là 6,3% đối với 2019 do hoạt động xuất khẩu và đầu tư vào cơ sở hạ tầng giảm. OECD cũng hạ dự báo tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản trong năm 2019 từ mức 1,2% xuống còn 1% trong bối cảnh dự kiến áp tăng thuế tiêu dùng của chính phủ nước này từ 10/2019 dẫn tới khả năng tác động mạnh đến nhu cầu tiêu dùng. Trong khi đó, kinh tế khu vực Eurozone dự kiến tuy tăng 1,8% vào năm 2019, nhưng giảm nhẹ so với các dự báo trước đó.

Đối với nhận định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), dự báo tăng trưởng toàn cầu đạt mức cao 3,7% trong năm 2019, nhưng hai nền kinh tế đứng đầu là Mỹ và Trung Quốc đã có dấu hiệu giảm tốc. IMF cảnh báo căng thẳng thương mại Mỹ-Trung leo thang có thể khiến tăng trưởng của toàn cầu giảm 0,8 điểm phần trăm – thương mại vẫn là động lực chính của tăng trưởng. IMF dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ trong năm tới sẽ giảm từ 2,9% xuống 2,5%, nhịp độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc giảm 0,5 điểm phần trăm. Một số nhà sản xuất Trung Quốc đã cảm nhận áp lực từ căng thẳng thương mại qua việc chi phí xuất khẩu tăng và tình trạng dư thừa công suất; trong đó, các nhà kinh tế của ngân hàng đầu tư UBS nhận định kinh tế Trung Quốc đối mặt với sức ép từ hàng rào thuế của Mỹ và nhiệm vụ tái cân bằng kinh tế. Tại Eurozone, UBS cho rằng nhu cầu nội địa vững sẽ không đủ để bù đắp sự sụt giảm tăng trưởng xuất khẩu. Đối với các nước đang phát triển, 2019 dự báo sẽ là năm khó khăn. Mức tăng của thương mại toàn cầu có thể chỉ đạt 2,99% trong năm 2018, giảm so với mức tăng trưởng của năm trước đó. Dự đoán tương lai của 193 quốc gia và vùng lãnh thổ đến năm 2033 cho thấy, con đường tăng trưởng sẽ gập ghềnh hơn trong trung hạn so với dự báo trước đó – đánh giá của Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và thương mại (CEBR).

Trong những thập kỷ qua, toàn cầu hóa nền kinh tế đã mang đến nhiều cơ hội cũng như thách thức cho tất cả các quốc gia trên thế giới; trong đó, các rào cản thương mại không còn là phương pháp đúng đắn để giải quyết những thách thức này. Các chuyên gia cảnh báo kinh tế toàn cầu có thể còn hứng chịu những cú sốc mới khắc nghiệt hơn trong năm 2019. Thậm chí, nguy cơ suy thoái đã được nhắc tới khi giới phân tích lo ngại về kịch bản tái diễn khủng hoảng kinh tế toàn cầu theo chu kỳ 10 năm sau các cuộc khủng hoảng năm 1987, 1997 và 2008.

Hoa Kỳ – đầu tàu kinh tế thế giới…

Theo bài viết trên Washington Post, hơn 30% số các chuyên gia kinh tế hàng đầu cho rằng nền kinh tế Mỹ sẽ bắt đầu “đuối” từ giữa năm 2019 và có thể rơi vào suy thoái vào năm 2020 khi Mỹ tiến hành cuộc bầu cử Tổng thống. Đối với Tổng thống đương nhiệm Donald Trump cùng đảng Cộng hòa của ông, nền kinh tế đóng vai trò là lực đẩy quan trọng trong cuộc bầu cử giữa kỳ vừa qua, thế nhưng nó có thể sẽ là lực cản trong cuộc bầu cử sắp tới…

Hiện nay, ngày càng có nhiều dự đoán tiêu cực về viễn cảnh của nền kinh tế Mỹ với hơn 1/3 các nhà dự đoán hàng đầu về kinh tế cho rằng nền kinh tế Mỹ sẽ bắt đầu suy thoái vào năm 2020. Các chuyên gia cho rằng có rất nhiều nguyên nhân cản trở sự phát triển nền kinh tế Mỹ, trong đó, có:

  • chi phí vay cao;
  • đồng USD mạnh;
  • nền kinh tế toàn cầu suy yếu;
  • cuộc chiến thuế quan leo thang; và
  • những gói kích thích tài chính như cắt giảm thuế…

đã không còn phát huy tác dụng thúc đẩy sự bùng nổ trong đầu tư kinh doanh, thị trường nhà đất cũng chậm lại với số lượng người mua ít đi, cùng với việc tăng các khoản chi tiêu của chính phủ.

Hiện các nhà lãnh đạo kinh doanh và các nhà đầu tư phố Wall mong muốn chính quyền Tổng thống Trump đưa ra một giải pháp nhanh chóng cho cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc và một dự luật về cơ sở hạ tầng nhằm thu hút thêm vốn thúc đẩy nền kinh tế vào cuối năm nay, đồng thời hy vọng Tổng thống Trump sẽ đưa ra các lực đẩy nền kinh tế vào năm 2019. Tuy nhiên, cho tới thời điểm này Tổng thống Trump vẫn “án binh bất động” và tập trung đổ lỗi cho bà Nancy Pelosi, người có khả năng trở thành Chủ tịch Hạ viện sau bầu cử giữa kỳ, khiến chương trình nghị sự của ông bị trì trệ hay Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Jerome H.Powell tăng lãi suất quá nhanh gây ảnh hưởng tới sự tăng trưởng kinh tế.

Các nhà phân tích cho rằng, nền kinh tế thường đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc bầu cử ở Mỹ. Trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vừa qua, nền kinh tế Mỹ đã “lột xác” ngoạn mục với những thành tựu nổi bật, như tăng trưởng ổn định, tỷ lệ thất nghiệp đạt mức thấp nhất trong gần 50 năm qua, bình quân thu nhập đầu người (GDP) tăng 3,5% trong quý III năm 2018, tạo thêm nhiều việc làm cho người dân, tiền lương của người lao động tăng và thị trường chứng khoán cũng tăng trong bối cảnh lợi nhuận của các công ty tăng vọt, nhưng các thách thức cốt lõi trước mắt vẫn còn đó… Ông Stephen Moore, cố vấn kinh tế cho chiến dịch của Tổng thống Trump nhận định: “Nếu Tổng thống Trump có thể đạt được một thỏa thuận thương mại với Trung Quốc với các nhượng bộ thực sự, tôi nghĩ các bạn sẽ thấy thị trường tăng trưởng ở mức độ cao và nền kinh tế sẽ phát triển. Tất cả những ai cho rằng nền kinh tế không thể tiếp tục phát triển cho tới năm 2020 sẽ phải hối tiếc vì nhận định đó”…

Tính quy luật “1 thập kỷ” là một điều đáng lo ngại…

Dự báo về suy thoái được đưa ra vào đúng dịp tròn 1 thập kỷ kể từ ngày ngân hàng đầu tư Lehman Brothers sụp đổ và châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến sự suy thoái dài hạn. Rạng sáng ngày 15 tháng 9 năm 2008, ngân hàng Lehman Brothers đã nộp đơn lên tòa xin phá sản và yêu cầu bảo vệ trước các chủ nợ. Động tác phá sản của ngân hàng đầu tư lớn thứ tư của Mỹ đã thành điểm khởi đầu của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, sau đó phát triển thành suy thoái toàn cầu. Nguồn gốc của nó gắn với hàng loạt yếu tố thông thường: Chuỗi phát triển kinh tế chung và khủng hoảng chu kỳ trên thị trường thế chấp Mỹ trong năm 2007. Kể từ đó, các nhà tài chính thiết lập những mô hình khác nhau nhằm dự báo về thời điểm và mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính tiếp theo mà thế giới sẽ hứng chịu, xác định chu kỳ tần suất lặp lại của nền kinh tế.

Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) có trụ sở tại Basel, được biết đến như là một “ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung ương” nhận định quá trình hồi phục sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 đã “rất thiếu cân bằng” với việc các nền kinh tế đang lên phải chịu đặc biệt nhiều áp lực. Nhà kinh tế trưởng tại BIS ông Claudio Borio cho hay, các ngân hàng trung ương toàn cầu đã dùng “toa nặng” “lãi suất thấp và kéo dài bất thường” liên tục trong nhiều năm liền để kiềm chế khủng hoảng. Toa thuốc này đã giúp thúc đẩy các hoạt động kinh tế, nhưng nó chỉ phù hợp cho một giai đoạn “cấp” nhất định và kèm theo “những tác dụng phụ không thể tránh khỏi”.

Các nhà đầu tư trở nên thụ động và khủng hoảng thanh khoản…

Chiến lược gia Marko Kolanovic của JPMorgan Chase cho rằng, sự dịch chuyển mạnh mẽ khỏi hoạt động quản lý tài sản chủ động sang quản lý tài sản thụ động – thông qua xu hướng nổi lên của các quỹ chỉ số (index fund), quỹ giao dịch hoán đổi (ETF) và các chiến lược giao dịch dựa trên định lượng, đã làm gia tăng mức độ nguy hiểm của sự gián đoạn thị trường. JPMorgan chỉ ra rằng, sự suy giảm thanh khoản trên thị trường chứng khoán Mỹ vẫn ở vào khoảng 2/3 dưới mức trước khủng hoảng. Tính thanh khoản trên các thị trường thu nhập cố định đã xấu đi, bởi vì các ngân hàng đang đóng một vai trò nhỏ hơn so với các nhà điều tiết thị trường. “Các sự kiện thị trường sau cú sốc 2008 đã dẫn đến sự suy giảm thanh khoản trên thị trường tài chính toàn cầu, vấn đề này có thể trở thành một nhân tố chính gây ra cuộc khủng hoảng tiếp theo” – các nhà phân tích của ngân hàng cho biết. Sự suy giảm thanh khoản cùng với sự tăng trưởng của đầu tư thụ động làm suy yếu khả năng phòng ngừa sụt giảm [đột biến – lớn] của thị trường, trong trường hợp phát sinh gia tăng biến động, các chuyên gia tài chính giải thích thêm.

Các nhà phân tích cho rằng, việc thay đổi cấu trúc của thị trường cho vay thế chấp tại Mỹ chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro tiềm tàng, cụ thể: tỷ lệ các khoản vay thế chấp phi ngân hàng tăng đến 80% (trước cuộc khủng hoảng chỉ chiếm ít hơn 20%). Nguyên nhân là do các tổ chức tín dụng phi ngân hàng thường ít vốn hơn so với các ngân hàng; ngoài ra, yếu tố quan trọng là không có một cơ chế rõ ràng để xác định ai có thể đảm nhận vai trò nhà cung cấp dịch vụ phi ngân hàng nếu các tổ chức tín dụng này rời khỏi hoạt động kinh doanh.

Tăng lãi suất và cuộc chiến của các cuộc chiến – chiến tranh thương mại…

Khi nào sẽ bắt đầu cuộc khủng hoảng tiếp theo?

Trong cuộc phỏng vấn với kênh truyền hình CNBC của Mỹ, chiến lược gia Marko Kolanovic nói, xác suất của một cuộc khủng hoảng trong nửa cuối năm 2019 vẫn khá thấp và có thể sẽ diễn ra vào năm 2020. Theo ông, mức độ nguy cơ tái diễn khủng hoảng có thể được xác định chủ yếu bằng việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất, cùng với đó là việc Ngân hàng Trung ương châu Âu ECB sẽ kết thúc chương trình kích thích kinh tế vào cuối năm 2018.

Trên thực tế, trước đây các chuyên gia của Ngân hàng Mỹ Merrill Lynch cũng đã cảnh báo rằng, lãi suất tăng có thể châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mới. Trong suốt năm 2018, các nhà đầu tư đang bán chứng khoán của các thị trường mới nổi. Lý do chính mà họ làm vậy là do FED tăng lãi suất để củng cố đồng dollars. Theo các nhà phân tích của ngân hàng, tình hình hiện nay rất giống với những gì đã xảy ra hai thập kỷ trước, khi các nhà đầu tư ồ ạt rút vốn khỏi các thị trường mới nổi. Còn Bank of America coi chính sách trừng phạt kinh tế do vấn đề chính trị và chính sách bảo hộ kinh tế của Washington là mối đe dọa lớn đối với sự ổn định kinh tế thế giới.

Các cuộc chiến thương mại với các ông lớn như Trung Quốc sẽ gây ra những tổn thất lớn cho thương mại quốc tế, ảnh hưởng đến giá cả và khả năng tiếp cận các sản phẩm trong chuỗi cung ứng, gây tổn hại lớn cho nền kinh tế toàn cầu. Cuộc chiến thương mại với Trung Quốc và cấm vận thương mại với Nga sẽ góp phần làm suy thoái kinh tế Mỹ, gây tác động xấu đến nền kinh tế thế giới. Do đó, cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, sự trừng phạt kinh tế đối với Nga cũng có thể kích động hoặc là trì hoãn cuộc khủng hoảng, nhà phân tích nhận xét.

Chiến lược gia phân tích đầu tư nổi tiếng của Mỹ là ông James Rickards cho rằng, sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế Mỹ và châu Âu có thể dẫn đến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, tương tự như những gì đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng năm 1929, và sau đó, sự suy thoái kinh tế kéo dài trên thế giới là không thể tránh khỏi.

Xã hội biến đổi…

Các chuyên gia của JPMorgan Chase cảnh báo rằng, khác với cuộc khủng hoảng 10 năm trước, cuộc khủng hoảng mới mặc dù không gây thiệt hại kinh tế nhiều như trước, nhưng sẽ gây ra tình trạng bất ổn quy mô lớn, đặc biệt là ở Mỹ. Tình trạng như vậy không được ghi nhận trong nửa thế kỷ qua, kể từ năm 1968. Theo chiến lược gia Kolanovic, góp phần vào điều đó là sư lan truyền thông tin – cả thông tin đúng và thông tin thất thiệt, cùng với đó là các luồng ý kiến trái chiều và thông tin kích động trên mạng Internet và các mạng xã hội, nơi những nhóm khác nhau được hình thành.

Ngoài ra, các sự kiện chính trị, ví dụ như cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ và Brexit, chỉ đổ thêm dầu vào lửa, bởi chính những hỏa mù thông tin do các nước tung ra vì mục đích chính trị, hoặc những tư tưởng dân tộc cực đoan, ly khai…, cũng khiến bất ổn xã hội gia tăng. Sự kết hợp giữa thảm họa kinh tế và các bất ổn xã hội có thể dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội mới trên phạm vi toàn cầu.

Các nhà phân tích nói rằng, nếu các ngân hàng trung ương tìm được giải pháp để ngăn chặn sự suy giảm mạnh giá trị tài sản, thì có lẽ, sẽ giảm bớt phần nào hậu quả nặng nề về kinh tế, từ đó, tránh những tác động xấu gây ra biến động xã hội.

Nếu không đạt được những thành công này, thế giới sẽ phải đối mặt tình trạng bất ổn và “những thay đổi mang tính phá hủy”, tiếp sau hai chu kỳ khủng hoảng kinh tế 10 năm là cuộc khủng hoảng tiền tệ tại khu vực châu Á năm 1997 là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008.

Tại Việt Nam,

nhìn lại ảnh hưởng 2008, nền kinh tế có những ảnh hưởng nhất định tuy không nặng nề như các nước láng giềng châu Á nhưng cũng phải chịu nhiều khó khăn, phần nào cũng nhờ độ mở của nền kinh tế thời kỳ đó còn hạn chế… 2018 là năm đạt được nhiều thành tựu lớn, cùng với mức độ tính hợp nhất định vào nền kinh tế chung toàn cầu, Việt Nam cũng cần có những nỗ lực vượt bậc riêng để duy trì ổn định…

Theo Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia (NCIF) thuộc Bộ KH&ĐT mới đây dự báo: Tăng trưởng GDP giai đoạn 2019 – 2020 trong khoảng 6,9 – 7,1%; trong đó, kinh tế Việt Nam sang năm 2019 tiếp tục được hưởng lợi nhờ đà tăng trưởng của năm 2018 cùng các yếu tố tích cực nội tại, đồng thời phần nào cùng hỗ trợ từ tăng trưởng kinh tế, thương mại toàn cầu. Tính toán cho thấy, chu kỳ của nền kinh tế trong ngắn hạn đang tiếp tục xu hướng phục hồi từ giữa năm 2017, báo hiệu tăng trưởng khả quan trong năm 2018 và các tháng đầu năm 2019, tuy kết quả quý 1 thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái 2018. Đặc biệt, với những chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ theo tinh thần Nghị quyết 01/NQ-CP, diễn biến tích cực của hoạt động sản xuất dự báo tiếp tục kéo dài sang năm 2019, sẽ hỗ trợ đáng kể cho tăng trưởng. TS Đặng Đức Anh – Trưởng ban Phân tích và Dự báo (NCIF) chỉ ra, nếu tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, thu hút FDI, đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế và thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA) sẽ hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế. Tình hình trong nước có vẻ tích cực hơn khi thương mại được thúc đẩy thông qua tham gia vào các FTA, phần nào giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ chiến tranh thương mại Mỹ-Trung; tái cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh được tăng cường; tiêu dùng gia tăng… Theo các chuyên gia, 2019 là năm có ý nghĩa bản lề nên được Chính phủ xác định rõ mục tiêu tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2019: “giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2018, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế và các ngành, lĩnh vực…

Nhưng bên cạnh những yếu tố thuận lợi, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng, nền kinh tế năm 2019 dự báo vẫn còn rất nhiều rủi ro cần phải lường trước, đòi hỏi sự thận trọng trong điều hành. TS Trần Toàn Thắng – Trưởng ban Ban Kinh tế Thế giới (NCIF) nhận định, nguy cơ các nền kinh tế chủ chốt gia tăng cạnh tranh về kinh tế, tài chính, tăng lãi suất, thắt chặt tiền tệ cũng là thách thức được dự báo. Nền kinh tế Việt Nam đang phải chịu nhiều tác động như biến động về tỷ giá cũng như trên thị trường chứng khoán. Đáng chú ý, diễn biến thương mại trên thế giới phức tạp phần nào đã, đang và sẽ tác động đến nền kinh tế Việt Nam, như thâm hụt thương mại của Mỹ tiếp tục tăng, dòng chảy FDI từ Trung Quốc không rõ ràng, quá trình Brexit…

Giai đoạn 2019 – 2020, Việt Nam đứng trước những rủi ro khi tăng trưởng kinh tế ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào khu vực FDI. Đáng lo hơn là độ mở tài chính quốc gia đang cao hơn trình độ phát triển của nền kinh tế. Tỷ lệ nợ công cao và nghĩa vụ trả nợ lớn (trong 2 năm 2019 – 2020 có nhiều khoản nợ đến hạn) cũng ảnh hưởng đến điều hành kinh tế vĩ mô cũng như khả năng giảm mặt bằng lãi suất. Từ 2019 Việt Nam sẽ phải thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đã ký, nhất là các cam kết về mở cửa thị trường, cắt giảm thuế, sở hữu trí tuệ… mang lại cơ hội thu hút các nguồn lực từ nước ngoài nhưng đồng thời cũng là áp lực không nhỏ đối với khu vực kinh tế trong nước. Trong khi đó, trình độ thay đổi công nghệ của các DN nội còn yếu và phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay. Đặc biệt, các DN nhỏ của Việt Nam đang dần rơi vào thế yếu…

Những căn cứ cơ sở cho những lo ngại về một cuộc khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam thông qua những yếu tố: độ mở rất lớn của nền kinh tế (tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bằng 193% GDP năm 2017); nền tảng và nguồn lực tăng trưởng trong nước có xuất hiện các vấn đề cần chú ý;

những mâu thuẫn của nền kinh tế nằm ở sự chia tách giữa các khu vực như FDI và trong nước, kinh tế phụ thuộc tỷ trọng lớn vào FDI, cho dù hội nhập nhưng việc tận dụng, khai thác chuyển giao, học hỏi còn kém; dịch chuyển dòng tiền từ thị trường sản xuất đổ vào thị trường tài sản đầu cơ (đất đai, chứng khoán) dẫn đến nguy cơ bong bóng tài sản; ngay khi thị trường trở nên quá nóng, bong bóng đổ vỡ kéo theo sự khủng hoảng của nền kinh tế. Tuy nhiên, trên thực tế, các căn cứ đều khá chung chung không thể hiện rõ nét một phần qua việc quản lý còn nặng điều hành hành chính; bởi vậy, không thể tiên lượng được khủng hoảng liệu có nổ ra trong năm 2019 hay bất cứ thời điểm nào sau đó.

Như vậy, nếu chỉ căn cứ vào yếu tố độ mở tính theo kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP thì chưa thể kết luận được tính mong manh, dễ vỡ của nền kinh tế; chỉ tiêu này ở khía cạnh khác, còn phản ánh một giác độ là một điểm trung chuyển hàng hóa; bởi vậy, Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ khi đã có hiện tượng hàng hóa nước ngoài “ẩn” dưới hàng Việt Nam xuất đi các nước thứ 3 khác. Cụ thể hơn, nếu nói về độ mở lớn của nền kinh tế để lo ngại khả năng đổ vỡ thì cần lưu ý rằng trên thế giới có không ít quốc gia hoặc nền kinh tế mà tổng kim ngạch xuất nhập khẩu/GDP còn lớn hơn gấp nhiều lần Việt Nam như Hong Kong (373 % GDP năm 2016), Luxembourg (407%), Malta (268%), Singapore (318%), Slovak (186%), Các Tiểu vương quốc Ả rập (205%), so với mức 185% của Việt Nam năm 2016 –  số liệu của Ngân hàng Thế giới. Thêm vào đó, không có chuẩn mực nào hay một trường hợp thực tế nào để đánh giá nếu độ mở này tiếp tục tăng cao hơn nữa như các nước trên đây thì nền kinh tế Việt Nam sẽ gặp rủi ro.

Liên quan tới nền tảng và nguồn lực tăng trưởng trong nước có vấn đề và sự chia tách nền kinh tế thành 2 khu vực (giữa FDI và trong nước), đây là một thực tế trong quá trình chuyển đổi. Nhưng, tương tự như cách tiếp cận đối với độ mở, đâu sẽ là điểm ngưỡng để dẫn đến tình trạng “quá mù ra mưa” nếu những bất cập này tiếp tục tồn tại và phát triển thành điểm bùng phát của một cuộc khủng hoảng vào thời điểm nào trong tương lai, năm sau hay là đâu đó ở những năm sau nữa?

Về bong bóng tài sản để dẫn đến khủng hoảng kinh tế, đây cũng là một thực tế đã được chứng minh ở nhiều quốc gia trên thế giới; có điều, để nói rằng Việt Nam đang chứng kiến bong bóng bất động sản hay chứng khoán thì e rằng là hơi khiên cưỡng. Bên cạnh việc cần phải có nhiều dữ liệu và phân tích thấu đáo hơn để làm rõ khu vực địa lý, phân khúc thương mại, thì việc quản lý hành chính thay vì thả nổi theo thị trường lại khá phát huy tác dụng trong việc xử lý tình huống cấp bách trong lĩnh vực này… Đối với thị trường chứng khoán, sau những lạc quan và hào hứng mấy tháng trước, chỉ số và giao dịch chứng khoán đã quay trở lại giai đoạn lình xình, điều chỉnh mạnh trong mấy tuần gần đây. Trong khi đó, nguồn “dinh dưỡng” quan trọng nhất cho cả 2 thị trường này bùng nổ là tín dụng ngân hàng thì đã bị siết lại từ 2, 3 năm nay, với tăng trưởng tín dụng chung cũng chậm lại đáng kể so với mấy năm trước. Toàn thị trường đa số chỉ còn dựa vào dòng tiền của nhà đầu tư nước ngoài, chủ yếu dịch chuyển giữa các thị trường…

Ngoài các yếu tố được nêu ra bên trên, một số căn cứ khác thường khác có thể bổ sung thêm để dùng đánh giá liệu một nền kinh tế có phải là đang trong trạng thái tăng trưởng nóng để rồi chắc chắn sau đó sẽ rơi vào trạng thái đóng băng và khủng hoảng hay không, mà có thể áp dụng cho trường hợp của Việt Nam.

Căn cứ bổ sung đầu tiên là lạm phát. Một thực tế là lạm phát ở Việt Nam cao hơn ở mức “ổn định” đáng kể so với các quốc gia trong khu vực và thế giới; tuy nhiên, cần ghi nhận là Việt Nam đã khá thành công trong kiềm chế lạm phát trong hai thập kỷ qua. Đặc biệt là lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn 2015-2019 thậm chí còn tương đồng hoặc thấp hơn cả của các nhóm quốc gia so sánh. Nói cách khác, kể cả lạm phát tuy có xu hướng tăng lên ở Việt Nam trong năm nay và năm sau thì về tổng thể, lạm phát của Việt Nam cũng không phải là ngòi nổ làm bùng phát một cuộc khủng hoảng, ít nhất là trong vài năm tới;

Căn cứ bổ sung thứ hai là tốc độ tăng trưởng đầu tư. So với các quốc gia trong khu vực và thế giới, đầu tư đã tăng trưởng chậm lại ở Việt Nam trong thập kỷ hiện nay so với 10 năm trước, đặc biệt trong giai đoạn 5 năm từ 2015-2019. Như vậy, một trong những yếu tố dẫn đến tăng trưởng kinh tế nóng và có thể làm sụp đổ một nền kinh tế là tăng trưởng đầu tư cao đã không còn là nguy cơ ở Việt Nam, nhất là trong nửa sau của thập niên này;

Cuối cùng, chỉ số xuất/nhập siêu hoặc cán cân vãng lai là yếu tố dựa vào để biết một nền kinh tế có rơi vào tình trạng nóng sốt hay không; nếu nhập siêu và/hoặc thâm hụt cán cân vãng lai là hiện tượng điển hình kinh niên thì nền kinh tế dễ bị tổn thương bởi nợ nước ngoài tăng cao được dùng để bù đắp thâm hụt vãng lai; tuy nhiên, số liệu của IMF cũng cho thấy cán cân vãng lai của Việt Nam chỉ bị thâm hụt trong 2 năm của thập kỷ này là vào các năm 2010 và 2015. Do đó, có thể loại bỏ thâm hụt vãng lai như một yếu tố tiềm tàng gây ra khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn này.

Như vậy, các yếu tố trên đây cho thấy, tuy nền kinh tế Việt Nam vẫn chứa đựng nhiều bất ổn nhưng chưa có cơ sở xác đáng nào để lo ngại xảy ra một cuộc khủng hoảng kinh tế trong năm 2019 ở quy mô và cấp độ như đã từng được chứng kiến trong 3 thập kỷ trước.

Ở tầm vĩ mô, Việt Nam cần tăng sức chống chọi các cú sốc bên ngoài, ổn định chính sách tiền tệ, tỷ giá linh hoạt, tái cấu trúc tài chính ngân hàng theo hướng minh bạch hơn. Quan trọng hơn nữa chính là cải cách thể chế, con người gắn với hội nhập. Dù kịch bản nào thì cải cách, bắt nhịp phải đi cùng xu hướng, phải phòng thủ và học hỏi.

Với căng thẳng do leo thang chiến tranh thương mại của hai nền kinh tế lớn thế giới, ảnh hưởng sẽ là điều không thể tránh khỏi, nhất là khi nền kinh tế Việt Nam đang phụ thuộc lớn vào dòng đầu tư FDI;

  • thứ nhất, leo thang đối đầu thương mại sẽ tăng đến lúc nào đó rất khó kiểm soát, có thể nổ ra chiến tranh thương mại.
  • thứ hai, khi cuộc chiến trở nên lan rộng, vì quan hệ thương mại của hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, trước áp lực của dư luận quốc tế, kinh tế thế giới hoặc bản thân không muốn đi quá xa thì đến lúc hai bên cần ngồi lại đàm phán các giải pháp cứu vãn. Do vậy, cuộc chiến thương mại giữa Mỹ với Trung Quốc xảy ra sẽ khiến cả đôi bên, thậm chí là kinh tế thế giới đều chịu thiệt hại.

Trong việc áp tăng thuế lên vài trăm tỷ USD giữa hai cường quốc sẽ tác động trực tiếp, gián tiếp, ngắn và trung hạn tới Việt Nam. Với thế mạnh của Mỹ là hàng công nghệ, Trung Quốc là nông sản; những ảnh hưởng cuộc chiến trực tiếp đến Việt Nam là điều khó có thể tránh khỏi. Khởi đầu là sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư với cả yếu tố thuận và nghịch. Nhà đầu tư của Mỹ và Trung Quốc sẽ cần tìm kiếm thị trường mới như Việt Nam vốn ổn định và bắt đầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới cho các sản phẩm của mình; nhưng về lâu dài, nếu cuộc đối đầu leo thang tạo ra vòng xoáy, các quốc gia tăng cường bảo hộ thương mại, ảnh hưởng đến Việt Nam sẽ trở nên nặng nề; nhất là khi kinh tế Việt Nam có độ mở cùng tỷ trọng xuất khẩu cao, đặc biệt là bắt đầu chịu phụ thuộc lớn vào các doanh nghiệp FDI.

TS Huỳnh Thế Du trong một đánh giá cho rằng: Chính phủ cần phải chú ý đến và tiếp tục việc đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh, đặc biệt cần lưu ý chu kỳ khủng hoảng 10 năm; “Tôi tin nếu đà này giữ được thì những kết quả khả quan sẽ chờ đón ở phía trước. Tuy nhiên, thực tế hơn bốn thập kỷ qua, cái “dớp” khủng hoảng và chu kỳ trục trặc 10 năm đã luôn xảy ra (khi nhìn lại những năm có đuôi số 9: 1979; 1989; 1999; 2009)…”, ông Du nhận xét.

Cần hết sức thận trọng để tránh sự lạc quan thái quá dẫn đến trục trặc, tránh những bất ổn kinh tế vĩ mô có thể xảy ra. Trong vòng hai năm tới, vấn đề này nên là một trong những ưu tiên hàng đầu của Việt Nam” – TS Huỳnh Thế Du nhấn mạnh…

Xxx – NPL

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s