Share – Phân tâm học (Psychoanalysis) là gì? — Exploring Psychology – Khám Phá Tâm Lý Học

Phân tâm học được định nghĩa là một chuỗi các học thuyết và kỹ thuật trị liệu tâm lý có nguồn gốc từ những công trình và học thuyết của Sigmund Freud. Ý tưởng chủ đạo của phân tâm học chính là niềm tin cho rằng tất cả mọi người đều sở hữu những suy […]

via Phân tâm học (Psychoanalysis) là gì? — Exploring Psychology – Khám Phá Tâm Lý Học

Phân tâm học được định nghĩa là một chuỗi các học thuyết và kỹ thuật trị liệu tâm lý có nguồn gốc từ những công trình và học thuyết của Sigmund Freud. Ý tưởng chủ đạo của phân tâm học chính là niềm tin cho rằng tất cả mọi người đều sở hữu những suy nghĩ, cảm xúc, ham muốn, và ký ức ẩn sâu trong vô thức. Bằng cách chuyển những nội dung vô thức sang vùng ý thức, con người ta sẽ có thể trải nghiệm sự “thanh tẩy” tâm trí và hiểu sâu sắc hơn về trạng thái tâm lý hiện tại của bản thân. Qua quá trình này, con người ta sẽ có thể tìm thấy sự giải thoát khỏi những sự khó chịu và vướng bận về mặt tâm lý.

Psychoanalysis is defined as a set of psychological theories and therapeutic techniques that have their origin in the work and theories of Sigmund Freud. The core idea at the center of psychoanalysis is the belief that all people possess unconscious thoughts, feelings, desires, and memories. By bringing the content of the unconscious into conscious awareness, people are then able to experience catharsis and gain insight into their current state of mind. Through this process, people are then able to find relief from psychological disturbances and distress.

psychoanalysis-animated-word-cloud-kinetic-typography_rep-5xymg_thumbnail-full08.png

Một số nguyên lý cơ bản của phân tâm học. Some of the Basic Tenets of Psychoanalysis

– Cách ứng xử của chúng ta bị tác động bởi những thôi thúc trong vô thức. The way that people behave is influenced by their unconscious drives

– Sự phát triển của tính cách bị ảnh hưởng cực lớn bởi sự kiện trong những năm đầu đời; Freud cho rằng nền móng tính cách phần lớn được tạo xong khi lên năm tuổi. The development of personality is heavily influenced by the events of early childhood; Freud suggested that personality was largely set in stone by the age of five.

– Mang thông tin từ vùng vô thức đến vùng ý thức có thể đưa đến sự thanh tẩy tâm trí và cho phép chúng ta giải quyết vấn đề. Bringing information from the unconscious into consciousness can lead to catharsis and allow people to deal with the issue

– Chúng ta đều sử dụng nhiều cơ chế tự vệ tâm lý để bảo vệ bản thân khỏi sự tác động của những thông tin trong vô thức. People utilize a number of defense mechanisms to protect themselves from information contained in the unconscious

– Những vấn đề cảm xúc và tâm lý như trầm cảm và lo âu thường có gốc rễ từ những xung đột giữa vô thức và ý thức. Emotional and psychological problems such as depression and anxiety are often rooted in conflicts between the conscious and unconscious mind

– Một nhà trị liệu có năng lực có thể giúp mang một số thông tin từ vô thức sang vùng ý thức của chủ thể bằng cách sử dụng nhiều chiến lược phân tâm như phân tích giấc mơ hoặc liên tưởng tự do. A skilled analyst can help bring certain aspects of the unconscious into awareness by using a variety of psychoanalytic strategies such as dream analysis and free association

Lược sử Phân tâm học. A Brief History of Psychoanalysis

Sigmund Freud là cha đẻ của ngành phân tâm học và phương pháp tiếp cận tâm động học trong tâm lý học. Trường phái tư tưởng này nhấn mạnh ảnh hưởng của tâm trí vô thức lên hành vi. Freud tin rằng tâm trí con người được tạo lập từ 3 thành tố: Bản năng, bản ngã và siêu ngã.

Sigmund Freud was the founder of psychoanalysis and the psychodynamic approach to psychology. This school of thought emphasized the influence of the unconscious mind on behavior. Freud believed that the human mind was composed of three elements: the id, the ego, and the superego.

Học thuyết của Freud về các giai đoạn phát triển tâm lý tính dục, tâm trí vô thức, và ý nghĩa tượng trưng của giấc mơ vẫn đang là chủ đề được nhiều người quan tâm, cả các nhà tâm lý học lẫn giới không chuyên, thực tế là công trình của ông vẫn còn bị nhiều người hoài nghi cho đến ngày nay.

Freud’s theories of psychosexual stages, the unconscious, and dream symbolism remain a popular topic among both psychologists and lay persons, despite the fact that his work is sometimes viewed with skepticism by many today.

Nhiều quan sát và học thuyết của Freud dựa vào những ca lâm sàng và nghiên cứu ca bệnh, khiến những phát hiện của ông rất khó để khát quát hóa cho nhóm dân số lớn hơn. Dù vậy, học thuyết của Freud đã làm thay đổi cách ta suy nghĩ về tâm trí và hành vi con người, để lại một dấu ấn khó phai trong tâm lý học và văn hóa.

Many of Freud’s observations and theories were based on clinical cases and case studies, making his findings difficult to generalize to a larger population. Regardless, Freud’s theories changed how we think about the human mind and behavior and left a lasting mark on psychology and culture.

Một nhà tư tưởng khác cũng có liên quan trong phân tâm học là Erik Erikson. Erikson mở rộng học thuyết của Freud và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phát triển theo thời gian trong suốt cuộc đời. Học thuyết phát triển tâm lý xã hội của tính cách do Erikson khởi xướng vẫn gây ảnh hưởng lên cách ta hiểu về sự phát triển của con người cho đến ngày nay.

Another theorist associated with psychoanalysis is Erik Erikson. Erikson expanded upon Freud’s theories and stressed the importance of growth throughout the lifespan. Erikson’s psychosocial stage theory of personality remains influential today in our understanding of human development.

Theo Hiệp Hội Phân Tâm Học Hoa Kỳ, phân tâm học giúp con người ta hiểu được bản thân bằng cách khám phá ra những thôi thúc ẩn giấu trong khu vực vô thức nên thường khó mà nhận ra. Ngày nay, phân tâm học không chỉ chứa đựng hình thức trị liệu phân tâm mà còn cả phân tâm học ứng dụng (tức ứng dụng những nguyên lý phân tâm học trong bối cảnh và tình huống đời thực) cũng như phân tâm học thần kinh (tức thần kinh học ứng dụng vào những chủ đề phân tâm như giấc mơ và sự đè nén).

According to the American Psychoanalytic Association, psychoanalysis helps people understand themselves by exploring the impulses they often do not recognize because they are hidden in the unconscious. Today, psychoanalysis encompasses not only psychoanalytic therapy but also applied psychoanalysis (which applies psychoanalytic principles to real-world settings and situations) as well as neuro-psychoanalysis (which applied neuroscience to psychoanalytic topics such as dreams and repression).

Mặc dù cách tiếp cận của học thuyết Freud truyền thống có lẽ đã không còn được người ta yêu thích nữa nhưng những cách tiếp cận hiện đại trong phân tâm trị liệu vẫn phổ biến, nhấn mạnh thái độ không phán xét và thấu cảm.

While traditional Freudian approaches may have fallen out of favor, modern approaches to psychoanalytic therapy emphasize a nonjudgmental and empathetic approach.

Khách hàng có thể cảm thấy an lòng khi họ khám phá ra những cảm xúc, ham muốn, ký ức và yếu tố gây căng thẳng có thể dẫn đến những trở ngại tâm lý. Nghiên cứu cũng mô tả rằng phương pháp tự đánh giá sử dụng trong quá trình phân tâm có thể góp phần cho sự phát triển cảm xúc về lâu dài.

Clients are able to feel safe as they explore feelings, desires, memories and stressors that can lead to psychological difficulties. Research has also demonstrated that the self-examination utilized in the psychoanalytic process can help contribute to long-term emotional growth.

Những mốc thời gian quan trọng trong lịch sử Phân tâm học. Important Dates in the History of Psychoanalysis

1856  Sigmund Freud ra đời. Sigmund Freud was born

1886  Freud lần đầu tiên thực hiện trị liệu. Freud first began providing therapy

1892  Josef Breuer mô tả ca bệnh của Anna O cho Freud. Josef Breuer described the case of Anna O to Freud

1895  Anna Freud ra đời. Anna Freud was born

1900  Sigmund Freud xuất bản cuốn sách “Giải mã giấc mơ” của mình. Sigmund Freud published his book The Interpretation of Dreams

1896  Sigmund Freud lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Phân tâm học”. Sigmund Freud first coined the term psychoanalysis

1907  Hiệp hội Phân tân học Vienna được thành lập. The Vienna Psychoanalytic Society was formed

1908  Hội nghị quốc tế đầu tiên về phân tâm học được tổ chức. The first international meeting of psychoanalysts was held

1909  Freud có chuyến thăm đầu tiên và duy nhất đến Hoa Kỳ. Freud made his first and only trip to the United States

1913  Jung tách ra khỏi Freud và phân tâm học. Jung broke from Freud and psychoanalysis

1936  Hiệp hội Phân tâm học Vienna được đổi tên thành Hiệp Hội Phân Tâm Học Quốc Tế. The Vienna Psychoanalytic Society was renamed and became the International Psychoanalytic Association

1939  Sigmund Freud qua đời tại London sau một thời gian dài chiến đấu với bệnh ung thư miệng. Sigmund Freud died in London following a long battle with mouth cancer

Những nhà tư tưởng lớn trong Phân tâm học. Major Thinkers in Psychoanalysis

Freud_and_other_psychoanalysts_1922.jpg

Sigmund Freud là cha đẻ của phân tâm học, nhưng những nhà tư tưởng khác bao gồm cháu gái của ông Anna Freud cũng để lại dấu ấn nổi bật trong quá trình hình thành và lớn mạnh của ngành học này. Một số nhà tư tưởng quan trọng bao gồm Erik Erikson, Erich Fromm, và Carl Jung. Những tên tuổi chủ chốt khác trong phân tâm học còn có Karl Abraham, Otto Rank, John Bowlby, Melanie Klein, Karen Horney, và Sabina Spielrein.

Sigmund Freud was the founder of psychoanalysis, but other thinkers including his own daughter Anna Freud also left a significant mark of the field as it grew and evolved. Some of these important theorists included Erik Erikson, Erich Fromm, and Carl Jung. The names of some other key psychoanalysts included Karl Abraham, Otto Rank, John Bowlby, Melanie Klein, Karen Horney, and Sabina Spielrein.

Những tư tưởng chính trong Phân tâm học. Key Ideas In Psychoanalysis

Phân tâm học cũng bao gồm nhiều thuật ngữ và ý tưởng khác nhau liên quan đến tâm trí, tính cách và điều trị.

Psychoanalysis also involves a number of different terms and ideas related to the mind, personality and treatment.

Nghiên cứu ca bệnh. Case Studies

Nghiên cứu ca bệnh được định nghĩ là nghiên cứu có chiều sâu về một con người. một số ca bệnh nổi tiếng nhất của Freud bao gồm ca bệnh của Dora, Hans bé, và Anna O. Những ca bệnh này đều có sức ảnh hưởng mạnh mẽ lên sự phát triển học thuyết phân tâm của Freud.

A case study is defined as an in-depth study of one person. Some of Freud’s most famous case studies include Dora, Little Hans, and Anna O. and had a powerful influence on the development of his psychoanalytic theory.

Trong một nghiên cứu ca bệnh, nhà nghiên cứu nỗ lực đào sâu vào từng khía cạnh trong cuộc sống của một người. Bằng cách cẩn trọng nghiên cứu cặn kẽ về một người, nhà nghiên cứu hy vọng mình có thể hiểu cặn kẽ cách mà những trải nghiệm trong quá khứ góp phần hình thành hành vi của họ hiện tại. Mặc dù các nhà khoa học hy vọng những hiểu biết có được từ một nghiên cứu ca bệnh có thể áp dụng cho người khác nhưng việc khát quát hóa kết quả thường tỏ ra khó khăn vì các nghiên cứu ca bệnh co xu hướng mang tính chủ quan cao.

In a case study, the researcher attempts to look very intensely at every aspect of an individual’s life. By carefully studying the person so closely, the hope is that the researcher can gain insight into how that person’s history contributes to their current behavior. While the hope is that the insights gained during a case study might apply to others, it is often difficult to generalize the results because case studies tend to be so subjective.

Vô thức và ý thức. The Conscious and Unconscious Mind

Tâm trí vô thức bao gồm tất cả những thứ ngoài phạm vi ý thức. Nó có thể bao hàm cả những ký ức thời thơ ấu, những ham muốn bí mật và những động lực giấu kín. Theo Freud, vô thức chứa đựng những thứ có thể khá khó chịu hay thậm chí là khó được xã hội chấp nhận. Vì những thứ này có thể gây đau đơn hoặc xung đột nên chúng bị chôn sâu trong vùng tâm trí vô thức.

The unconscious mind includes all of the things that are outside of our conscious awareness. These might include early childhood memories, secret desires and hidden drives. According to Freud, the unconscious contains things that may be unpleasant or even socially unacceptable. Because these things might create pain or conflict, they are buried in the unconscious.

Mặc dù những suy nghĩ, ký ức và thôi thúc này có thể ở ngoài vùng ý thức nhưng chúng vẫn sẽ tiếp tục ảnh hưởng lên cách ta tuy duy, hành động và cư xử. Trong một số trường hợp, những thứ nằm ngoài ý thức có thể ảnh hưởng tiêu cực lên hành vi và đưa đến những trạng thái tâm lý khó chịu.

While these thoughts, memories, and urges might be outside of our awareness, they continue to influence the way that we think, act and behave. In some cases, the things outside of our awareness can influence behavior in negative ways and lead to psychological distress.

Ý thức bao gồm tất cả những gì nằm trong vùng nhận thức của chúng ta. Những nội dung trong vùng ý thức là những thứ chúng ta nhận thức được hoặc có thể dễ dàng mang lại về ý thức.

The conscious mind includes everything that is inside of our awareness. The contents of the conscious mind are the things we are aware of or can easily bring into awareness.

courtesy_of_tim_bower

Bản năng, bản ngã và siêu ngã. The Id, Ego, and Superego

– Bản năng: Freud tin rằng nhân cách hình thành từ 3 thành tố chính. Cái xuất hiện đầu tiên chính là bản năng. Bản năng chứa đựng tất cả những thôi thúc vô thức, ban sơ và cơ bản.

Id: Freud believed that personality was composed of three key elements. The first of these to emerge is known as the id. The id contains all of the unconscious, basic and primal urges.

– Bản ngã: Khía cạnh thứ hai của nhân cách xuất hiện là bản ngã. Đây là phần nhân cách phải xử lý những đòi hỏi từ thực tế. Nó giúp kiểm soát những thôi thúc của bản năng và khiến chúng ta hành xử một cách vừa thực tế, vừa được xã hội công nhận. Thay vì thực hiện những hành vi làm thỏa mãn những ham muốn và nhu cầu của bản thân thì bản ngã buộc chúng ta phải đáp ứng những nhu cầu của mình một cách thực tế và được xã hội chấp nhận. Bên cạnh kiểm soát nhu cầu của bản năng, bản ngã còn giúp chủ thể cân bằng được những thôi thúc cơ bản, những lý tưởng và thực tế.

Ego: The second aspect of personality to emerge is known as the ego. This is the part of the personality that must deal with the demands of reality. It helps control the urges of the id and makes us behave in ways that are both realistic and acceptable. Rather than engaging in behaviors designed to satisfy our desires and needs, the ego forces us to fulfill our needs in ways that are socially acceptable and realistic.  In addition to controlling the demands of the id, the ego also helps strike a balance between our basic urges, our ideals, and reality.

– Siêu ngã: Siêu ngã là khía cạnh nhân cách xuất hiện cuối cùng và bao hàm tất cả những lý tưởng và giá trị của chúng ta. Những giá trị và niềm tin mà cha mẹ và xã hội truyền cho chúng ta là nguồn sức mạnh dẫn dắt của siêu ngã và siêu ngã luôn cố khiến chúng ta hành xử theo những chuẩn mực đạo đức này.

Superego: The superego is the final aspect of personality to emerge and it contains our ideals and values. The values and beliefs that our parents and society instill in us are the guiding force of the superego and it strives to make us behave according to these morals.

Cơ chế phòng vệ của bản ngã. The Ego’s Defense Mechanisms

Cơ chế phòng vệ là một chiến lược bản ngã sử dụng để bảo vệ bản thân khỏi lo âu. Những công cụ phòng vệ này hoạt động như một người bảo vệ ngăn những thứ khó chịu hay đau buồn của vô thức đi vào vùng ý thức. Khi có một thứ gì đó quá sức chịu đựng hay thậm chí là không phù hợp thì cơ chế phòng vệ sẽ ngăn thông tin này đi vào ý thức để giảm thiểu sự khó chịu nó gây ra.

A defense mechanism is a strategy that the ego uses to protect itself from anxiety. These defensive tools act as a safeguard to keep the unpleasant or distressing aspects of the unconscious from entering awareness. When something seems too overwhelming or even inappropriate, defense mechanisms help keep the information from entering consciousness in order to minimize distress.

26zen.1-500.jpg

Một số điểm yếu của phân tâm học. Some Weaknesses of Psychoanalysis

Phân tâm học phát triển tầm ảnh hưởng của mình trong suốt những năm đầu thế kỷ XX, nhưng cũng không thiếu những phê bình dành cho nó.

Psychoanalysis grew in its influence over the course of the early twentieth-century, but it was not without its critics.

– Các học thuyết của Freud quá đặt nặng tâm trí vô thức, tình dục, sự hung hăng và trải nghiệm thời thơ ấu.

Freud’s theories overemphasized the unconscious mind, sex, aggression and childhood experiences.

– Nhiều quan niệm do các nhà phân tâm học đưa ra rất khó để đo lường và định lượng.

Many of the concepts proposed by psychoanalytic theorists are difficult to measure and quantify.

– Hầu hết các ý tưởng của Freud đều dựa vào các nghiên cứu ca bệnh và quan sát tại phòng khám thay vì nghiên cứu khoa học, thực nghiệm.

Most of Freud’s ideas were based on case studies and clinical observations rather than empirical, scientific research.

Điểm mạnh của Phân tâm học. Strengths of Psychoanalysis

– Mặc cho những chỉ trích thì phân tâm học vẫn đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của tâm lý học. Nó ảnh hưởng lên cách ta tiếp cận điều trị cho các vấn đề sức khỏe tâm thần và tiếp tục ảnh hưởng lên tâm lý học trong thời điểm hiện tại.

Despite its critics, psychoanalysis played an important role in the development of psychology. It influenced our approach to the treatment of mental health issues and continues to exert an influence in psychology to this day.

– Mặc dù hầu hết các thuyết tâm động học đều không dựa trên nghiên cứu thực nghiệm nhưng những phương pháp và học thuyết trong tư duy phân tâm học đóng góp vào sự phát triển của tâm lý học thực nghiệm.

While most psychodynamic theories did not rely on experimental research, the methods and theories of psychoanalytic thinking contributed to the development of experimental psychology.

– Nhiều học thuyết nhân cách được phát triển bởi các nhà tư tưởng tâm động học vẫn còn sức ảnh hưởng đến tận ngày nay, bao gồm học thuyết các giai đoạn phát triển tâm lý xã hội của Erikson và học thuyết phát triển tâm lý tính dục của Freud.

Many of the theories of personality developed by psychodynamic thinkers are still influential today, including Erikson’s theory of psychosocial stages and Freud’s psychosexual stage theory.

– Phân tâm học mở ra góc nhìn mới về bệnh lý tâm thần, nêu rõ rằng nói chuyện về vấn đề với một người chuyên gia có thể giúp giảm bớt các triệu chứng tâm lý khó chịu.

Psychoanalysis opened up a new view on mental illness, suggesting that talking about problems with a professional could help relieve symptoms of psychological distress.

Phân tâm học vẫn còn ứng dụng cho ngày nay? Is Psychoanalysis Still Relevant Today?

Khi bạn hỏi mọi người liệt kê những thứ hiện ra trong đầu khi nghĩ về tâm lý học, Sigmund Freud và phân tâm học thường sẽ hiện ra ngay. Không có gì để bàn cãi khi cho rằng phân tâm học, vừa là một phướng pháp trị liệu vừa là một quan điểm lý thuyết, chắc chắn đã lưu dấu ấn khó phai trong mảng tâm lý học.

When you ask people to list the things that spring to mind when they think about psychology, Sigmund Freud and psychoanalysis pop up quite frequently. There is no question that psychoanalysis, both as a therapeutic approach and theoretical outlook, has certainly left its mark on psychology.

Hiện có rất ít người còn theo quan điểm phân tâm học thuần túy khi xem xét hành vi con người. Hầu hết các nhà tâm lý học hiện nay đều có hướng tiếp chiết trung hơn trong ngành tâm lý học.

There are a few people still left who take a purely psychoanalytical point of view on human behavior. Most psychologists today employ a more eclectic approach to the field of psychology.

Trong thực tế, nhiều nhà tâm lý học đương thời nhìn nhận phân tâm học với thái độ hoài nghi. Một số thậm chí còn cảm thấy nực cười thay cho trường phái tư tưởng của Freud. Nhưng như vậy liệu có công bằng không? Trong thế giới tâm lý học nơi các quá trình nhận thức, và tâm lý sinh học đang thống trị, liệu còn chỗ đứng nào cho phân tâm học?

In fact, many contemporary psychologists view psychoanalysis with skepticism. Some even feel derision for Freud’s school of thought. But is this fair? In a world of psychology where cognitive processes, neuroscience, and biopsychology dominates, is there still room for psychoanalysis?

Liệu phân tâm học còn giá trị trong thế giới ngày nay? Is Psychoanalysis Still Relevant in Today’s World?

Có một số ít báo cáo gần đây đề cập sự đi xuống chung của phân tâm học truyền thống:

There have been a few recent reports on the general decline of traditional psychoanalysis:

Một báo cáo do Hiệp Hội Phân Tâm Hoa Kỳ xuất bản đã thấy rằng các khoa, phòng tâm lý thường coi phân tâm học đơn thuần chỉ là một thứ được tạo tác trong lịch sử, những môn như nghệ thuật, văn học và những bộ môn xã hội nhân văn khác có thể dạy phân tâm học như một chủ đề liên tục và vẫn có liên quan.

A report published by the American Psychoanalytic Association found that psychology departments typically treat psychoanalysis purely as a historical artifact, while subjects such as art, literature, history, and other humanities subjects were more likely to teach psychoanalysis as an ongoing and relevant topic.

Năm 2007, một bài báo trên tờ New York Times cũng ghi nhận tình trạng suy giảm của phân tâm học trong mảng tâm lý học.

A 2007 article in The New York Times also noted the decline of psychoanalysis within psychology.

Vậy tạo sao phân tâm – một chủ đề học thuật – lại rơi ra rìa trong tâm lý học? Một phần của vấn đề này, theo một số người, nảy sinh từ thất bại của phân tâm học trong việc kiểm tra tính hiệu quả của liệu pháp và những thất bại ban đầu trong việc tạo căn cứ vững chắc để áp dụng nguyên lý này vào thực tiễn thực chứng.

So why has psychoanalysis fallen by the wayside as an academic topic within psychology? Part of the problem, some suggest, stems from psychoanalysis’s failure to test the validity of its therapeutic approach and earlier failures to ground the discipline in evidence-based practices.

Ủng hộ và chỉ trích dành cho phân tâm học. Support and Criticism of Psychoanalysis

Các ý kiến chỉ trích phân tâm học: Criticisms aimed at psychoanalysis:

Một số người cho rằng phân tâm học không có hiệu quả điều trị như các liệu pháp khác. Một phần lý do khiến nhiều người còn hoài nghi về phân tâm học ngày nay đó là vì bằng chứng ủng hộ tính hiệu quả của nó thường bị coi là khá yếu.

Some suggest that psychoanalysis is not as effective as other treatments. Part of the reason many are so skeptical of psychoanalysis today is that the body of evidence supporting its effectiveness has often been viewed as weak.

Tuy nhiên, một số nghiên cứu về tính hiệu quả của phân tâm học đã dấy lên làn sóng ủng hộ cho phương thức điều trị này. Một nghiên cứu phân tích tổng hợp đã thấy rằng phân tâm học có thể có hiệu quả như các phương pháp khác. Một số nghiên cứu khác cho rằng phân tâm học có thể điều trị hiệu quả trầm cảm, lệ thuộc chất gây nghiện, và rối loạn hoảng sợ.

However, some of the research on the effectiveness of psychoanalysis has yielded support for this treatment modality. One meta-analysis found that psychoanalysis could be as effective as other therapy approaches. Other studies suggest that psychoanalysis may be effective in the treatment of depression, drug dependence, and panic disorder.

Trong một bài tổng quan xem xét tính hiệu quả của phân tâm học, nhà nghiên cứu và nhà phân tâm học Peter Fonagy cho rằng liệu pháp tâm động học có thể có hiệu quả trong điều trị trầm cảm, rối loạn ăn uống, rối loạn triệu chứng thực thể, và một số rối loạn lo âu.

In one recent review looking at the effectiveness of psychoanalysis, researcher and psychoanalyst Peter Fonagy suggested that that psychodynamic therapy could be effective in the treatment of depression, eating disorders, somatic disorders, and some anxiety disorders.

Phân tâm học thường đòi hỏi sự đầu tư về thời gian, tiền bạc và công sức. Một vấn đề khác là phân tâm học nói chung là một nhiệm vụ lâu dài. Chúng ta đang sống trong một thời đại nơi con người ta tìm kiếm kết quả một cách nhanh chóng và những phương pháp đưa đến hiệu quả được tính theo ngày, tuần hay tháng – trị liệu phân tâm học thường đòi hỏi khách hàng và trị liệu viên phải khám phá vấn đề trong khoảng thời gian nhiều năm.

Psychoanalysis often requires an investment of time, money, and effort. Another issue is that psychoanalysis is generally a long-term proposition. We live in a time when people seek fast-results and approaches that yield an effect in days, weeks or months – psychoanalytic therapy often involves a client and therapist exploring issues over a period of years.

Nhà tâm lý học Susan Krauss Whitbourne phát biểu trong một bài báo trên trang Psychology Today, “Nếu sử dụng hệ thống phân loại dành cho điều trị dựa trên bằng chứng, trong thực tế, bản thân phân tâm học truyền thống không được công nhận là một liệu pháp điều trị cho nhóm lớn các rối loạn tâm lý. Tuy nhiên, bác bỏ đóng góp của Freud cho ngành tâm lý học, như (bài báo trên tờ New York Times) đã nói, là lối suy đơn giản hóa quá mức.”

“Using the criteria established for evidence-based treatment, traditional psychoanalysis alone does not, in fact, pass muster as a method of therapy for the large majority of psychological disorders,” suggested psychologist Susan Krauss Whitbourne in an article for Psychology Today. “However, to dismiss Freud’s contributions as irrelevant to psychology, as [the New York Times article] implies, is an oversimplification.”

Phân tâm học  Ngày ấy, bây giờ? Psychoanalysis Then and Now

Nhiều ý tưởng của Freud đã không còn được ưa chuộng trong tâm lý học nữa, nhưng chắc chắn điều đó không có nghĩa là công trình của ông không có công cán gì.

Many of Freud’s ideas have fallen out of favor in psychology, but that certainly does not mean that his work is without merit.

Hướng tiếp cận trị liệu của ông – cho rằng bệnh lý tâm thần có thể chữa được và nói chuyện về các vấn đề có thể giúp khách hàng thấy khá hơn – là một khái niệm mang tính cách mạng, ghi dấu ấn vững bền lên cách ta tiếp cận điều trị các bệnh lý tâm thần.

His approach to therapy – the suggestion that mental illness was treatable and that talking about problems could bring relief – was a revolutionary concept that left a lasting mark on how we approach the treatment of mental illness.

Và nghiên cứu cũng ủng hộ ít nhất một vài ý tưởng ban đầu của Freud. Peter Fonafy đã giải thích trong một bài báo xuất bản trên tờ Tâm thần học Thế giới, “Những quan điểm tổng hợp gần đây về khoa học thần kinh xác nhận rằng nhiều quan sát đầu tiên của Freud, đặc biệt là sự tác động xâm lấn của các quá trình vô thức và cơ cấu chức năng của cảm xúc đối với suy nghĩ thực sự đã được xác nhận bằng các thí nghiệm nghiên cứu.”

And research has supported at least some of Freud’s original ideas. “Recent reviews of neuroscientific work confirm that many of Freud’s original observations, not least the pervasive influence of non-conscious processes and the organizing function of emotions for thinking, have found confirmation in laboratory studies,” explained Peter Fonagy in an article published in World Psychiatry.

Ta cũng cần nhớ rằng bản thân Sigmund Freud cũng là một sản phẩm của thời đại ông ấy sống. Mặc dù ông còn được biết đến với những học thuyết táo bạo (được coi là đặc biệt gây sốc suốt thời kỳ Victoria), quan điểm của ông về thế giới được tô màu bởi thời đại của chính ông. Vậy nếu Freud sống ở thời nay thì phân tân học sẽ hướng theo con đường nào?

It is also important to remember that Sigmund Freud was also very much a product of his time. While he was known for his oftentimes audacious theories (considered especially shocking during the Victorian period), his view of the world was colored by the time in which he lived. So what path would psychoanalysis take today if Freud were alive in our time?

Fonagy viết, “Nếu Freud sống ở thời nay, ông sẽ cực kỳ quan tâm đến những kiến thức mới về chức năng não bộ, như việc mạng lưới neuron phát triển có tác động như thế nào lên chất lượng những mối quan hệ thời kỳ đầu, vị trí của những năng lực cụ thể bằng kỹ thuật chụp quét chức năng não, khám phá di truyền phân tử và bộ gen hành vi, và ông hẳn cũng không bỏ rơi Dự án về Tâm lý học khoa học mà ông ấp ủ, đây là công trình chết yểu mà ở đó, ông nỗ lực xây dựng một mô hình thần kinh của hành vi.

“If Freud were alive today,” writes Fonagy, “he would be keenly interested in new knowledge about brain functioning, such as how neural nets develop in relation to the quality of early relationships, the location of specific capacities with functional scans, the discoveries of molecular genetics and behavioral genomics and he would surely not have abandoned his cherished Project for a Scientific Psychology, the abortive work in which he attempted to develop a neural model of behavior.”

Whitbone lưu ý một điều quan trọng là mặc dù phân tâm học có thể thất thế, nhưng nó không có nghĩa là quan điểm tâm động học đã chết. Bà viết, “Các nhà tâm lý học ngày nay nói về tâm động học, không phải quan điểm phân tâm. Nói một cách chính xác, quan điểm này tập trung vào các động lực trong tính cách, sự chuyển biến của nó phần lớn nằm ở các nền tảng các hành vi quan sát được. Phân tâm học là thuật ngữ hẹp hơn khi nói về những nội dung do Freud khởi xướng, cho rằng để hiểu được và điều trị được những hành vi bất thường thì ta phải giải quyết được những xung đột trong vô thức.

One important thing to note, explains Whitbourne, is that while psychoanalysis might be on the decline, it does not mean that the psychodynamic perspective is dead. “Psychologists today talk about the psychodynamic, not the psychoanalytic perspective,” she writes, “As such, this perspective refers to the dynamic forces within our personalities whose shifting movements underlie much of the basis for our observable behavior. Psychoanalysis is a much narrower term referring to the Freudian-based notion that to understand, and treat, abnormal behavior, our unconscious conflicts must be worked through.”

Phân tâm học theo hình dung của Freud, có thể đang thất thế, nhưng điều đó không có nghĩ rằng quan điểm tâm động học đã biến mất hoặc nó bị xóa bỏ trong thời gian tới.

Psychoanalysis as Freud conceived it might certainly be on the decline, but that doesn’t mean that the psychodynamic perspective has disappeared or that it will be going anywhere soon.

Tương lai của phân tâm học. The Future of Psychoanalysis

Vậy phân tâm học có thể làm gì để đảm bảo sự tồn tại có giá trị của mình trong giới tâm lý học?

So what can psychoanalysis do to ensure its continued relevance in the world of psychology?

Theo Fonagy, chìa khóa chính là phải nhấn mạnh vào khoa học.

According to Fonagy, an emphasis on science is the key.

Nghiên cứu thực nghiện và điều trị dựa trên bằng chứng cần được đào sâu hơn nữa.

Empirical research and evidence-based treatments need to be explored in greater depth.

Fonagy cũng cho rằng phương pháp thu thập dữ liệu được cải tiến, cân nhắc những cách khả thi khác để giải thích hành vi, chủ động phối hợp với các chuyên gia sức khỏe tâm thần có thể giúp cải thiện tính hợp pháp và tầm ảnh hưởng của các phương pháp phân tâm học.

Fonagy also suggests that improved data-gathering methods, consideration of other possible explanations for behavior, and active collaboration with other mental health professionals can improve the legitimacy and relevance of psychoanalytic methods.

Hiện tại vẫn có một số nỗ lực tái sinh phân tâm học tập trung vào các khái niệm của phân tâm mang tính thực chứng hơn (như học thuyết gắn bó) hoặc chú trọng vào kết nối các ý tưởng của Freud về tâm trí vô thức vào khoa học thần kinh hiện đại.

Some current efforts to revitalize psychoanalysis focus on psychoanalytic concepts that are more evidence-based (such as attachment theory) or on connecting Freud’s idea of the unconscious to modern neuroscience.

Rõ ràng là dấu ấn của Freud lên tâm lý học vẫn còn đến ngày nay. Liệu pháp trò chuyện có thể là đặc sản của phân tâm học, nhưng các nhà trị liệu thường sử dụng kỹ thuật này trong nhiều phương pháp điều trị bao gồm liệu pháp lấy khách hàng làm trọng tâm và liệu pháp nhóm. Phân tâm học có thể không phải là thế lực thống trị như thời điểm năm 1910, nhưng các học thuyết của Freud có một tâm ảnh hưởng lâu dài lên cả ngành tâm lý học và văn hóa đại chúng.

Clearly, Freud’s mark on psychology is still being felt today. Talk therapy may be best associated with psychoanalysis, but therapists often utilize this technique in a range of other treatment approaches including client-centered therapy and group therapy. Psychoanalysis might not be the force it was back in 1910, but Freud’s theories have had a lasting influence on both popular culture and psychology.

Tham khảo. Article Sources

Fonagy, P. The effectiveness of psychodynamic psychotherapies: An update. World Psychiatry. 2015;14(2): 137-150. doi:  10.1002/wps.20235.

Paris, J. Is psychoanalysis still relevant to psychiatry? Can J Psychiatry. 2017;62(5):308-312. doi:10.1177/0706743717692306.

Whitbourne, SK. (2012). Freud’s Not Dead; He’s Just Really Hard to Find. Psychology Today.

Nguồn: https://www.verywellmind.com/what-is-psychoanalysis-2795246

Như Trang.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s