Share – Bé lười ăn thịt, mẹ đừng lo hãy làm ngay món thịt viên rim mặn ngọt đảm bảo không bé nào chê! — Ngon 24h

Bạn cần chuẩn bị những nguyên liệu sau cho món thịt viên rim mặn ngọt: 500g thịt lợn (cả mỡ lẫn nạc) 8 củ năng (củ mã thầy) 5 gốc hành 1 quả trứng Phần gia vị ướp thịt: 1 thìa hạt nêm vị gà, 15ml dầu hào, 1 thìa bột ngọt, 15ml rượu nấu […]

via Bé lười ăn thịt, mẹ đừng lo hãy làm ngay món thịt viên rim mặn ngọt đảm bảo không bé nào chê! — Ngon 24h

Bạn cần chuẩn bị những nguyên liệu sau cho món thịt viên rim mặn ngọt:

500g thịt lợn (cả mỡ lẫn nạc)

8 củ năng (củ mã thầy)

5 gốc hành

1 quả trứng

Phần gia vị ướp thịt: 1 thìa hạt nêm vị gà, 15ml dầu hào, 1 thìa bột ngọt, 15ml rượu nấu ăn, 1 thìa tinh bột, một ít muối, hạt tiêu, nước cốt gừng

Phần gia vị rim thịt: 2 lát gừng, 2 gốc hành, một ít đường phèn hoặc đường cát, một ít muối, 30ml nước tương, một ít bột năng.

Chế biến:

Thịt rửa sạch, có thể băm nhỏ hoặc thái nhỏ dạng hạt lựu. Gốc hành thái nhỏ, củ năng gọt vỏ rồi băm nhỏ.

thit-vien-rim-man-ngot-1

Cho thịt vào bát, thêm củ năng, gốc hành thái nhỏ, sau đó đập trứng vào. Cuối cùng thêm phần gia vị ướp thịt vào trộn đều.

thit-vien-rim-man-ngot-2

Viên thịt thành từng viên tròn vừa ăn rồi chiên trong dầu nóng cho đến khi xém vàng rồi vớt ra. Để lại một chút dầu ăn trong chảo, cho đường phèn vào đun đến khi đường chuyển màu vàng nâu thì thêm gừng, hành cùng lượng nước vừa phải vào đun sôi.

thit-vien-rim-man-ngot-3

Thêm phần gia vị rim vào nồi (trừ bột năng) sau đó cho thịt viên đã chiên vào rim nhỏ lửa cho đến khi nước trong nồi cạn dần. Hòa bột năng với chút nước lọc rồi đổ vào nồi thịt khuấy đều cho sánh lại rồi tắt bếp.

thit-vien-rim-man-ngot-4

Thành phẩm:

Món thịt viên rim mặn ngọt là một món ăn lý tưởng vào những ngày mưa, món ăn mềm ngon lại có vị mặn ngọt vừa phải rất hấp dẫn. Đặc biệt nhà có trẻ nhỏ hoặc người già thì quá thích hợp luôn!

thit-vien-rim-man-ngot-6

Chúc bạn thành công và ngon miệng với món thịt viên rim mặn ngọt này nhé!

(Nguồn: sohu)

Share – Văn hóa tập thể trong góc nhìn tâm lý học văn hóa — Exploring Psychology – Khám Phá Tâm Lý Học

Văn hóa tập thể nhấn mạnh nhu cầu và mục tiêu của cả nhóm hơn là những nhu cầu và mong muốn của từng cá nhân. Trong các nền văn hóa này, mối quan hệ với thành viên khác của nhóm và sự liên kết giữa mọi người đóng vai trò quan trọng quyết định […]

via Văn hóa tập thể trong góc nhìn tâm lý học văn hóa — Exploring Psychology – Khám Phá Tâm Lý Học

Văn hóa tập thể nhấn mạnh nhu cầu và mục tiêu của cả nhóm hơn là những nhu cầu và mong muốn của từng cá nhân. Trong các nền văn hóa này, mối quan hệ với thành viên khác của nhóm và sự liên kết giữa mọi người đóng vai trò quan trọng quyết định bản dạng của mỗi cá nhân. Các nền văn hóa Châu Á, Trung-Nam Mỹ, và Châu Phi thường mang tính tập thể.

Collectivistic cultures emphasize the needs and goals of the group as a whole over the needs and desires of each individual. In such cultures, relationships with other members of the group and the interconnectedness between people play a central role in each person’s identity. Cultures in Asia, Central America, South America, and Africa tend to be more collectivistic.

2016-12-social-metrics-485x278.jpg

Đặc tính của nền văn hóa tập thể. Collectivistic Culture Traits

Một số đặc tính chung của những nền văn hóa tập thể: A few common traits of collectivistic cultures include:

– Các quy tắc xã hội tập trung vào thúc đẩy thái độ sống vì người khác và đặt nhu cầu cộng đồng lên cao hơn nhu cầu cá nhân. Social rules focus on promoting selflessness and putting the community needs ahead of individual needs

– Làm việc theo nhóm và hỗ trợ người khác là tối quan trọng. Working as a group and supporting others is essential

– Khuyến khích mọi người làm điều tốt đẹp nhất cho xã hội. People are encouraged to do what’s best for society

– Gia đình và cộng đồng có vai trò trung tâm. Families and communities have a central role

culture1-1-d8ec27d5cbb74029

Trong những nền văn hóa tập thể, con người ta được xem là “tốt” nếu họ hào phóng, hay giúp đỡ người khác, biết trông cậy vào nhau và chú ý đến những nhu cầu của người khác. Điều này trái ngược với các nền văn hóa cá nhân khi người ta thường đặt trọng tâm hơn vào những đặc tính cá nhân như sự quyết đoán và tính độc lập.

In collectivistic cultures, people are considered “good” if they are generous, helpful, dependable, and attentive to the needs of others. This contrasts with individualistic cultures that often place a greater emphasis on characteristics such as assertiveness and independence.

Một vài quốc gia được xem là có nền văn hóa tập thể là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Venezuela, Guatemala, Indonesia, Ecuador, Argentina, Brazil và Ấn Độ.

A few countries that are considered collectivistic include Japan, China, Korea, Taiwan, Venezuela, Guatemala, Indonesia, Ecuador, Argentina, Brazil, and India.

Sự khác biệt giữa nền văn hóa tập thể và Văn hóa cá nhân. How Collectivist Cultures Differ From Individualist Cultures

Văn hóa tập thể thường trái ngược với văn hóa cá nhân. Khi chủ nghĩa tập thể nhấn mạnh sự quan trọng của cộng đồng thì chủ nghĩa cá nhân lại hướng nhiều hơn vào quyền và mối quan tâm của từng người. Sự thống nhất và vô vị kỷ là những đặc tính được coi trong ở các nền văn hóa tập thể; sự độc lập và bản dạng riêng của cá nhân lại được đề cao hơn ở nền văn hóa cá nhân.

Collectivist cultures are usually contrasted with individualistic cultures. Where collectivism stresses the importance of the community, individualism is focused on the rights and concerns of each person. Where unity and selflessness are valued traits in collectivist cultures, independence and personal identity are highly stressed in individualistic cultures.

Những khác biệt văn hóa này cực kỳ phổ biến và có thể ảnh hưởng lên nhiều khía cạnh trong vận hành chức năng xã hội. Cách con người ta mua sắm, ăn mặc, học tập và làm kinh doanh có thể đều bị tác động từ việc họ đến từ nền văn hóa cá nhân hay tập thể. Ví dụ, công nhân sống ở một nền văn hóa tập thể có thể sẽ hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình cho lợi ích lớn lao hơn của nhóm. Những người đến từ nền văn hóa cá nhân, mặt khác, lại cảm thấy cuộc sống và mục tiêu của chính mình mới là cái cần đặt nặng.

These cultural differences are pervasive and can influence many aspects of how society functions. How people shop, dress, learn and conduct business can all be influenced by whether they are from a collectivist or individualist culture. For example, workers who live in a collectivist culture might strive to sacrifice their own happiness for the greater good of the group. Those from individualistic cultures, on the other hand, may feel that their own well-being and goals carry a greater weight.

Văn hóa tập thể ảnh hưởng như thế nào lên hành vi? How Collectivist Cultures Influence Behavior

Các nhà tâm lý học văn hóa nghiên cứu sự ảnh hưởng của những khác biệt văn hóa lên nhiều khía cạnh khác nhau của hành vi. Các nghiên cứu cũng cho thấy văn hóa ảnh hưởng lên cách hành xử cũng như cách con người ta tự quan niệm về bản thân. Những người đến từ nền văn hóa cá nhân có thể tự mô tả mình dựa theo những đặc trưng tính cách và đặc tính cá nhân, như kiểu, “Tôi là một người thông minh, hài hước, tử tế và yêu thể thao.” Còn những người đến từ nền văn hóa tập thể sẽ nói về bản thân mình dựa trên những vai trò và mối quan hệ xã hội, như kiểu “Tôi là một đứa con, một người anh trai và một người bạn tốt.”

Cross-cultural psychologists study how these cultural difference impact various aspects of behavior. Studies suggest that culture influences how people behave, as well as their self-concept. Those in individualistic cultures might describe themselves in terms of personality traits and characteristics, e.g., “I am smart, funny, athletic, and kind.” Those from collectivist cultures would more likely describe themselves in terms of their social relationships and roles, e.g., “I am a good son, brother, and friend.”

Nền văn hóa tập thể cũng có liên quan đến cái gọi là tính biến động mối quan hệ thấp, một thuật ngữ dùng để mô tả số cơ hội hình thành mối quan hệ mà một cá nhân có với người họ chọn lựa. Tính biến động mối quan hệ thấp nghĩa là những người đó có mối quan hệ ổn định, mạnh mẽ và dài lâu. Những mối quan hệ này thường được hình thành do bởi những yếu tố như gia đình và khu vực địa lý hơn là lựa chọn cá nhân. Trong một nền văn hóa tập thể, rất khó để xây dựng những mối quan hệ với những người mới, một phần vì nói chung là ta khó mà gặp được họ. Người lạ sẽ vẫn mãi là người lạ đối với những ai đến từ nền văn hóa tập thể so với những người đến từ nền văn hóa cá nhân.

Collectivist cultures are also associated with low relational mobility, a term to describe how many opportunities individuals in a society have in forming relationships with people of their choosing. Low relational mobility means that the relationships people have are stable, strong, and long-lasting. These relationships are usually formed due to factors such as family and geographical area rather than personal choice. In a collectivist culture, it’s difficult to build relationships with new people, partly because it’s generally more difficult to meet them. Strangers are more likely to remain strangers to those from a collectivistic culture than they would be to people from individualistic cultures.

Ngoài ra, duy trì sự hòa hợp trong các mối quan hệ với người khác là điều quan trọng bậc nhất trong một nền văn hóa tập thể. Điều này có thể là bởi những mối quan hệ này kéo dài quá lâu và cực kỳ khó thay đổi, đến mức mà việc không giữ được hòa khí chính là thể hiện sự bất hạnh cho tất cả mọi người trong mối quan hệ đó.

Additionally, maintaining harmony within interpersonal relationships is of utmost importance in a collectivistic culture. This is likely because these relationships are so long-lasting and extremely difficult to change that to not keep peace can mean unhappiness for everyone involved.

1471270897-pencil-index.jpg

Sự khác biệt về văn hóa cũng ảnh hưởng lên động lực dám đứng lên để khác biệt hoặc ngồi lại để hòa hợp với nhóm. Trong một thí nghiệm, tham dự viên từ Nhật Bản và Mỹ được yêu cầu phải chọn lựa một cây bút. Hầu hết các cây bút đều cùng màu, chỉ có một vài cây là có màu khác nhau. Hầu hết các tham dự viên người Mỹ đều chọn những màu hiếm hơn. Tham dự viên Nhật Bản, mặt khác, lại chọn nhiều các cây đồng màu, dù cho họ có hơi thích các cây màu thiểu số. Một lý do khác giải thích cho hiện tượng này có thể là vì người Nhật đến từ một nền văn hóa tập thể nên họ cứ tự nhiên mà coi trọng sự hòa hợp đồng thuận với người khác thay cho những sở thích cá nhân và vì vậy họ chấp chấp nhận chọn những cây viết màu phổ biến để những lại những cây màu hiếm hơn cho những ai thực sự muốn.

Cultural differences also influence the motivation to either stand out or fit in with the rest of the group. In one experiment, participants from American and Japanese cultures were asked to select a pen. Most of the pens were the same color, with a few options in different colors. Most American participants chose the rarer colored pens. The Japanese participants, on the other hand, were much more likely to choose the most common colored pen, even though they preferred the minority pens. Another reason for this may have been because, coming from a collectivistic culture, the Japanese participants instinctively valued interpersonal harmony above personal preference and thus chose the unoffensive behavior of leaving the rarer pens for others who might want them.

hands012015-800x500.jpg

Tham khảo. View Article Sources

Kito M, Yuki M, Thomson R. Relational Mobility and Close Relationships: a Socioecological Approach to Explain Cross-Cultural Differences. Personal Relationships. March 2017;24(1):114-130. doi:10.1111/pere.12174.

Yamagishi T, Hashimoto H, Schug J. Preferences Versus Strategies as Explanations for Culture-Specific Behavior. Psychological Science. 2008;19:579584. doi:10.1111/j.1467-9280.2008.02126.x.

Nguồn: https://www.verywellmind.com/what-are-collectivistic-cultures-2794962

Như Trang.

Share – Freud: Bản năng sống (Eros) và bản năng chết (Thanatos) — Exploring Psychology – Khám Phá Tâm Lý Học

Học thuyết về động cơ của Freud đã thay đổi và biến hóa trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của ông. Ban đầu ông mô tả một nhóm các động cơ có tên là bản năng sống và tin rằng những động cơ này chịu trách nhiệm phần nhiều cho hành vi của chúng […]

via Freud: Bản năng sống (Eros) và bản năng chết (Thanatos) — Exploring Psychology – Khám Phá Tâm Lý Học

Học thuyết về động cơ của Freud đã thay đổi và biến hóa trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của ông. Ban đầu ông mô tả một nhóm các động cơ có tên là bản năng sống và tin rằng những động cơ này chịu trách nhiệm phần nhiều cho hành vi của chúng ta.

Sigmund Freud’s theory of drives evolved throughout the course of his life and work. He initially described a class of drives known as the life instincts and believed that these drives were responsible for much of our behavior.

Nhưng cuối cùng, ông lại tin rằng một mình bản năng sống không thể giải thích tất cả các hành vi của con người. Trong cuốn sách “Beyond the Pleasure Principle” (Vượt ngoài Nguyên tắc lạc thú) xuất bản năm 1920, Freud đã kết luận rằng tất cả mọi bản năng đều được chia thành hai nhóm: bản năng sống và bản năng chết.

Eventually, he came to believe that life instincts alone could not explain all human behavior. With the publication of his book Beyond the Pleasure Principal in 1920, Freud concluded that all instincts fall into one of two major classes: life instincts or death instincts.

c3ee05717da5b3fd-AnnaTrundle_Layout_Lores

Bản năng sống (Eros). Life Instincts (Eros)

Bản năng sống, đôi khi còn được gọi là bản năng tính dục, là những bản năng liên quan đến sinh tồn cơ bản, sự thỏa mãn và sinh sôi nảy nở. Những bản năng này là cần thiết để duy trì sự sống của một con người cũng như duy trì của giống nòi. Mặc dù ta có xu hướng nghĩ về bản năng sống theo hướng sinh sản tình dục nhưng nhóm xung năng này còn bao gồm những thứ như cơn khát, cơn đói và tránh để bị đau. Năng lượng do những bản năng này tạo ra còn có tên gọi là dục năng.

Sometimes referred to as sexual instincts, the life instincts are those which deal with basic survival, pleasure, and reproduction. These instincts are essential for sustaining the life of the individual as well as the continuation of the species. While we tend to think of life instincts in term of sexual procreation, these drives also include such things as thirst, hunger, and pain avoidance. The energy created by the life instincts is known as libido.

Trong những học thuyết đầu tiên về phân tâm học, Freud phát biểu rằng Eros đi nghịch với những nguồn sức mạnh của bản ngã (phần tinh thần thực tế, có tổ chức của một người có nhiệm vụ điều tiết các ham muốn). Sau này, ông xác nhận lại rằng bản năng sống đối nghịch với bản năng chết, tức bản năng tự hủy hoại bản thân, có tên gọi là Thanatos.

In his early psychoanalytic theory, Freud proposed that Eros was opposed by forces of the ego (the organized, realistic part of a person’s psyche which mediates between desires). In this later views, he maintained that life instincts were opposed by the self-destructive death instincts, known as Thanatos.

Những hành vi thường có liên quan đến bản năng sống bao gồm tình yêu, sự hợp tác và những hành vi thuận xã hội khác.

Behaviors commonly associated with the life instincts include love, cooperation, and other prosocial actions.

Bản năng sống tập trung vào bảo tồn sự sống, cả ở cấp độ cá nhân và giống loài. Loại động cơ này thúc đẩy con người ta thực hiện những hành động giúp duy trì sự sống của bản thân, như chăm sóc sức khỏe và chăm lo an toàn. Và bằng xung năng tình dục, nó thúc đẩy con người ta kiến tạo và nuôi dưỡng những mầm sống mới.

The life instincts are focused on the preservation of life, both of the individual and of the species. This drive compels people to engage in actions that sustain their own lives, such as looking after their health and safety. It also exerts itself through sexual drives, motivating people to create and nurture new life.

Những cảm xúc tích cực như yêu, thương, các hành động thuận xã hội và hợp tác với người khác thuộc về nhóm bản năng sống. Những hành vi này hỗ trợ cho cả cuộc sống của cá nhân và cả sự tồn tại hòa hợp của một xã hội lành mạnh, tương thân tương ái.

Positive emotions such as love, affection, prosocial actions, and social cooperation are also associated with the life instincts. These behaviors support both individual well-being and the harmonious existence of a cooperative and healthy society.

Bản năng chết (Thanatos). Death Instincts (Thanatos)

Khái niệm về bản năng chết được mô tả lần đầu trong cuốn “Beyond the Pleasure Principle”, trong đó Freud có phát biểu rằng “Mục đích của tất cả mọi sự sống đều là cái chết”. Freud tin rằng con người ta về cơ bản đều hướng đến việc thể hiện những bản năng chết này ra bên ngoài. Ví dụ, sự hung hăng là cái sinh ra từ bản năng chết. Tuy nhiên, đôi khi nhóm bản năng hướng đế sự hủy diệt này có thể được hướng vào bên trong, gây ra những hành vi tự làm hại bản thân hoặc tự sát.

The concept of the death instincts was initially described in Beyond the Pleasure Principle, in which Freud proposed that “the goal of all life is death.” Freud believed that people typically channel their death instincts outwards. Aggression, for example, arises from the death instincts. Sometimes these instincts towards destruction can be directed inwards, however, which can result in self-harm or suicide.

Để hỗ trợ cho học thuyết này, Freud đã lưu ý rằng người nào trải nghiệm một sự kiện gây sang chấn có thể sẽ thường xuyên tái diễn lại trải nghiệm đó. Từ đây, ông kết luận rằng những người đang nắm giữ những ham muốn vô thức rằng mình muốn chết bà bản năng sống của họ đang vất vả “cân” lại ham muốn này.

In support of his theory, Freud noted that people who experience a traumatic event would often reenact that experience. From this, he concluded that people hold an unconscious desire to die but that the life instincts largely temper this wish.

Freud đã dựa trên một số các trải nghiệm then chốt để xây dựng nên học thuyết này:

Freud based his theory on a number of key experiences:

Khi làm việc với cựu binh sau Thế chiến thứ I, Freud quan sát thấy rằng những đối tượng của ông thường tái diễn lại những trải nghiệm thời chiến và cho biết “những giấc mơ mang tính sang chấn có đặc điểm là liên tục đưa người bệnh quay trở về lại tình huống lúc họ bị thương.”

In working with soldiers after World War I, Freud observed that his subjects often re-enacted their battle experiences and noted that “dreams occurring in traumatic have the characteristic of repeatedly bringing the patient back into the situation of his accident.”

Freud cũng lưu ý thấy hành vi tương tự ở Ernest, đứa cháu trai 18 tháng tuổi của mình. Cậu bé luôn chơi một trò chơi có tên gọi Fort/Da khi mẹ đi vắng. Để đối phó với lo âu, cậu bé sẽ ném đi một ống cuộn có dây cột vào cũi của mình và hô “fort” (nghĩa là “đằng kia”) mỗi khi cuộn dây biến mất và hô “da” (nghĩa là “đằng này”) khi cậu chàng cuộn nó lại. Freud tự hỏi “Làm sao mà việc lặp đi lặp lại trải nghiệm khó chịu như một trò chơi lại có điểm nào phù hợp với nguyên tắc thỏa mãn khoái lạc?”

Freud noted similar behavior in his 18-month-old grandson, Ernest, who played a game called Fort/Da whenever his mother was away. To deal with his anxiety, the toddler would toss out a spool tied to a string in his cot and say “fort” (meaning away) whenever the spool disappeared and say “da” (or here) whenever he reeled it in. Freud wondered how “repetition of this distressing experience as a game fit in with the pleasure principle?”

Cuối cùng, trong nhóm các bệnh nhân của mình, Freud thấy nhiều người có trải nghiệm sang chấn đang đè nén có khuynh hướng “lặp đi lặp lại thứ đang bị đè nén, hình thành một trải nghiệm mang tính tạm thời” thay vì nhớ lại nó hay coi nó là một thứ gì đó thuộc về quá khứ.

Finally, in his own patients, Freud noted that many who had repressed traumatic experiences had the tendency to “repeat the repressed material as a contemporary experience” rather than remembering it as something belonging to the past.

Theo quan điểm của Freud, sự thôi thúc, cưỡng chế phải lặp lại hành vi là “một thứ gì đó khá nguyên thủy, cơ bản, thuộc về bản năng hơn là nguyên tắc thỏa mãn mà nó chà đạp.” Ông cũng đề xuất thêm rằng bản năng chết là sự mở rộng hiện tượng này, nơi tất cả mọi sinh vật sống đều có một “niềm thoải mãn đối với cái chết” hết sức bản năng. Và nhóm bản năng này đi ngược lại hoàn toàn với bản năng sống tồn, sinh sôi nảy nở và thỏa mãn các ham muốn.

In Freud’s view, the compulsion to repeat was “something that would seem more primitive, more elementary, more instinctual than the pleasure principle which it overrides.” He further proposed that the death instincts were an extension of that compulsion wherein all living organisms have an instinctive “pressure toward death” which stands in stark contrast to the instinct to survive, procreate, and satisfy desires.

Hơn nữa, Freud xác nhận rằng, khi nguồn năng lượng được hướng thể hiện ra bên ngoài với người khác thì nó sẽ được thể hiện dưới hình hài của sự hung hăng và bạo lực.

Moreover, when this energy is directed outward toward others, Freud maintained, it is expressed as aggression and violence.

Kết luận. Final thoughts.

Mặc dù các học thuyết của Freud không còn giữ được vị thế thống trị của nó như ngày trước nhưng hiểu được cách khuynh hướng bảo vệ và phá hủy bản thân tác động như thế nào lên hành vi có thể giúp ích cho cuộc sống của bạn. Bản năng sống có thể thôi thúc bạn tìm kiếm những mối quan hệ lành mạnh và sự hỗ trợ từ xã hội, điều này là thiết yếu cho đời sống cảm xúc của chúng ta.

While Freud’s theories are not as prominent as they once were, understanding how your own self-preservation and destructive tendencies influence your behavior can be helpful for your well-being. The life instincts might compel you to seek healthy relationships and social support, which are essential for emotional health.

Xu hướng hủy hoại bản thân, mặt khác, lại có thể khiến bạn thực hiện những hành động không lành mạnh, như cư xử hung hăng hay có những hành vi liều lĩnh. Một khi bạn nhận ra những khuynh hướng này tồn tại bên trong bạn thì bạn sẽ có thể điều tiết những nguồn xung năng trong bạn và thay thế những hành vi tiêu cực bằng những sự lựa chọn khác tích cực hơn.

Destructive tendencies, on the other hand, might lead you to engage in actions that are less healthy, such as behaving aggressively or engaging in risky actions. Once you are able to recognize some of these tendencies in yourself, you might be better able to temper these drives and replace negative behaviors with more positive choices.

eros-e-thanatos-bitta-.jpg

Tham khảo. Article Sources

Mitchell, S. and Black. M. (2016) Freud and Beyond: A History of Modern Psychoanalytic Thought (Updated Edition). New York, New York: Basic Books/Hachette Books; ISBN-13: 978-0465098811.

Nguồn: https://www.verywellmind.com/life-and-death-instincts-2795847

Như Trang.

Share – Đi tìm nhân cách đã mất của người Việt – Trần Thành Nam — thân tri

Hôm nay, trong bài giảng cho những người trẻ về niềm tin vào con người từ đâu ra – đó là từ những gì họ đã làm trước mắt chúng ta hoặc cho chúng ta, tôi đã kể lại câu chuyện mình đánh mất niềm tin vào nhân cách người Việt […]

via Đi tìm nhân cách đã mất của người Việt – Trần Thành Nam — thân tri

Hôm nay, trong bài giảng cho những người trẻ về niềm tin vào con người từ đâu ra – đó là từ những gì họ đã làm trước mắt chúng ta hoặc cho chúng ta, tôi đã kể lại câu chuyện mình đánh mất niềm tin vào nhân cách người Việt như thế nào, và từ đó tôi đã phải đi tìm nhân cách người Việt đã bị đánh mất ra sao?

Câu chuyện bắt đầu cách đây hơn ba mươi năm. Năm đó, tôi vừa tốt nghiệp cao học kỹ thuật và kinh tế từ Đông Âu, về nước. Đó là những năm tháng gian khó đặc biệt của đất nước ta dù đã hòa bình, đã sau chiến tranh nhiều năm, do những sai lầm trong cơn say chiến thắng và sự ngu muội của “những người thắng cuộc” chiến là chính những người như ông cha tôi và đồng đội của họ…
Đối với tôi, đó cũng là những năm tháng mà tôi phải đấu tranh nội tâm cam go nhất về việc chọn hướng đi cho cả cuộc đời mình, để sống sao cho ý nghĩa và đáng sống, “để đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trến đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người.” Vâng, tôi vẫn thuộc lòng câu đó của Ostrowski qua nhân vật Pavel Korchagin trong cuốn “Thép Đã Tôi Thế Đấy”…

Trước đó, cả cuộc đời tôi đã được sắp đặt trước, rõ ràng: học giỏi, về cống hiến cho đất nước – như với tất cả bạn bè tôi. Nhưng, khoảng 80% lứa du học sinh chúng tôi đã quyết định không về nước… Tôi nằm trong số 20% còn lại, đang phân vân… chính vì cái anh chàng Pavel trong tôi đó!

Lùi lại một chút, thế hệ chúng tôi là thế hệ lớn lên trong chiến tranh, đã biết rõ, thấy rõ, chứng kiến bom đạn là gì, đổ xương máu hay mất mạng sống trong bom đạn chiến tranh đó là như thế nào. Và được học, được sống là một hạnh phúc lớn lao như thế nào.

Từ khi vào lớp 1 chúng tôi đã phải đi học ban đêm bằng những cái đèn dầu con con, và phải tự đào hào và hầm cá nhân cho mình để tránh bom, mỗi đứa phải đào 1 mét hào chung và một cái hầm cá nhân của mình – thầy cô giáo phân công và chỉ chỗ rõ ràng, từng đứa từng chỗ…

Nhưng những đứa trẻ 6-7 tuổi còn thò lò mũi, cao chưa bằng cái cuốc cái xẻng ấy làm sao đào được hào và hầm (thường sâu trên 1mét, rộng 60 đến 80 phân) cho mình? Thầy cô không quan tâm điều đó, chỉ nói gọn: đó là “chỉ tiêu”của các em. Tôi hỏi; “Thưa cô, chỉ tiêu là gì ạ?” Cô nói: về nhà hỏi bố mẹ! Và đúng là bố mẹ tôi và các bậc phụ huynh đều rất hiểu chỉ tiêu là gì…

Đến lớp 4 chúng tôi đã tự đào cả lớp học và hầm hào cho mình, lớp 7 chúng tôi xung phong đi bộ đội và nhiều bạn bè tôi đã vào thẳng thành cổ Quảng Trị để không bao giờ về học tiếp; cấp 3 chúng tôi chứng kiến trận chiến B52 trên không, lớp 10 quá nửa bạn bè lớp chúng tôi tham gia chiến dịch 1975… Chúng tôi không được đi bộ đội (dù đã tình nguyện) vì một lý do: học giỏi. Vì thế, học xong là phải trở về cống hiến hầu như là câu trả lời tất nhiên và bắt buộc đối với tôi. Nhưng sự thực đất nước những năm tháng đó và sự thực đại đa số bạn bè tôi đã quyết định ở lại trời Âu, với một sự thực nữa: những gì đã và đang xảy ra với chế độ Cộng Sản trên các nước Đông Âu đó, đã làm “con người lý tưởng” hay “cỗ máy Pavel-hồng vệ binh” trong tôi chao đảo khủng khiếp.

Ở lại hay về nước? Tôi đã về phép với quyết định được ở lại thực tập sinh thêm 3 năm trong tay, tức là cánh cửa trở lại trời Âu rồi ở lại đó của tôi vẫn còn mở…
Sau 30/4/1975 gia đình tôi sống ở Sài Gòn. Ba tôi, một cán bộ tập kết và một người Cộng Sản kiên cường, đang tại chức, khuyên tôi nên trở lại “học tiếp.” Đó là một bất ngờ, vì tôi thì muốn về đi làm và… “cống hiến,” và tôi cứ nghĩ ba tôi cũng muốn vậy. Mọi chuyện còn tạm chưa quyết định, tôi ra Bắc về thăm quê Ngoại, nơi tôi sinh ra và lớn lên. Đã có một chuyện rất nhỏ xảy ra trong chuyến đi Bắc đó làm tôi quyết định dứt khoát quay trở lại Đông Âu.

Tôi và mẹ tôi ra Bắc bằng tàu liên vận. Hai mẹ con ngồi ở khoang ghế cứng. Vì là tầu chậm, nó đỗ ở tất cả mọi ga và làm tôi rất thích thú. Ở mỗi ga, khoang tàu biến thành cái chợ hay hàng ăn, tùy vào thời điểm. Ngoài sự nghèo đói, lộn xộn, mất vệ sinh và nói chung là kém văn hóa là đặc trưng của những gì xảy ra trên chuyến tàu đó hay cho cả đất nước ta thời đó, điều tôi nhớ nhất và thất vọng vô cùng là: từ Nam ra Bắc tôi hầu như không thấy một nụ cười trên gương mặt một ai cả… Ở một ga miền Bắc Trung bộ, tôi không nhớ ở đâu, hình như ở xứ Thanh, có một cô bé khoảng 14-15 đội lên tàu bán một rổ tép khô. Do đông người đi lại bán hàng va chạm, rổ tép khô của cô bé bị rơi đổ hết xuống sàn tàu, ngay trước mắt tôi và cách chỗ tôi ngồi chừng 1-2 mét.
Cô bé hốt hoảng lo sợ, luống cuống quì xuống gom vội tép lại. Theo bản năng “ga lăng,” tôi lao ngay ra giúp cô bé vơ tép khô lại thành từng đống nhỏ. Cùng lúc đó, nhiều người xung quanh cũng đều xông vào, đa số cũng là những người bán hàng trên tàu như cô bé, xúm lại làm như tôi: vơ tép khô của cô bé gọn lại. Tôi cười nhìn mọi người và nghĩ: “Ồ, mọi người tốt quá! Thế mà mình đã nghĩ dân ta bây giờ không yêu quí nhau như trước nữa…”

Chưa kịp nghĩ hết ý trên thì tôi đã đớ người ra khi nhìn thấy mọi người không bốc tép khô vào rổ cho cô bé như tôi mà cho vào những cái túi riêng của họ! Một loáng, sàn tàu đã sạch trơn không còn tí tép khô nào! Và mọi người thản nhiên bỏ đi với những túm tép khô vơ vét được của họ, như không có gì xảy ra… Tôi chẳng thấy nét mặt ai mừng rỡ hay buồn hay ái ngại gì cả, bình thường… Còn cô bé đứng dậy co rúm thút thít khóc bên cạnh rổ tép khô nay chỉ còn một vốc. Tôi cứ đứng bên cạnh cô bé, ngơ ngác và lòng rưng rưng với nắm tép khô còn chưa kịp đưa vào rổ của cô bé, và không hiểu tại sao mọi người làm như thế! Còn những hành khách trong toa tàu, trong đó có mẹ tôi, đã chứng kiến toàn bộ chuyện đó, cũng làm ngơ, không ai phản đối gì, cho là chuyện bình thường… Cho đến hôm nay tôi vẫn còn khinh ghét (cái) con người (của) mình vì lúc đó đã không làm được việc mình muốn làm nhất là gào thét lên: “Mọi người! Hãy trả lại tép khô cho cô bé!”

Cho đến hôm nay, cái câu không được hét ra ấy vẫn cứ vang lên mãi không tha trong đầu tôi: “Hãy trả lại tép khô cho cô bé!” Để rồi, tôi không còn muốn trở về nước làm việc để “cống hiến cho đất nước” nữa. Bởi vì, từ hôm đó, ngay lúc đó, một điều gì lớn lao đã đổ vỡ trong tôi. Tôi đã mất niềm tin vào nhân cách người Việt, qua những gì tôi chứng kiến và trải nghiệm.

Sự kiện nhỏ đó đã làm tôi mất niềm tin vào nhân cách người Việt. Tôi không thể tự hào là người Việt nữa. Tôi quyết định quay lại trời Âu để “học tiếp” theo lời khuyên của ba. Thực sự, đó là một cuộc bỏ chạy của tôi. Nhưng tôi lại sợ mình sẽ chạy mãi. Sẽ không bao giờ quay trở lại đất nước này nữa. Thế là tôi đưa ra một quyết định sai lầm lớn đầu tiên trong đời. Tôi nói: “Mẹ ơi, con muốn lấy vợ trước khi con quay lại thực tập tiếp.” Mẹ tôi bị bất ngờ, hỏi: “Tại sao con quyết thế?” Tôi nói: “Nếu không lấy vợ thì chắc con sẽ ở lại, không bao giờ về nước nữa?” Ngày đó, quyết định học xong ở lại là quyết định giải thoát lớn lao, giống như người vượt biên vậy, xã hội coi là những kẻ phản bội, và ai cũng biết ở lại bên đó là chấp nhận xa gia đình mãi mãi, vì hạnh phúc của những người ra đi. Ngay trong đợt về phép đó, tôi mang quà về gia đình cho mấy thằng bạn thân đã quyết định ở lại bên ấy, thấy gia đình chúng nó bị xã hội ghẻ lạnh phải nghỉ việc, bán nhà chuyển chỗ ở, thấy bố mẹ chúng nó tiếp tôi và nhận quà của con mình gửi về mà phải đi báo công an phường đến chứng nhận… tôi khiếp quá Nhưng nay tôi đã quyết quay trở lại Châu Âu, và để ngỏ khả năng ở lại bên đó vĩnh viễn… chỉ vì chứng kiến rổ tép khô bị đổ của cô bé trên tầu…

Sau khi nghe nói tại sao tôi phải lấy vợ, mẹ tôi không hỏi gì nữa mà nhất nhất làm theo ý tôi. Bà sợ “mất” con trai hoàn toàn. Lúc đó, người tôi yêu, rất yêu thì không yêu tôi; còn người rất yêu tôi thì tôi chỉ quí trọng. Cả hai đều là bạn học, bạn thân của tôi thời phổ thông bom đạn. Tất nhiên, tôi chỉ có thể và nói mẹ xin cưới cho mình người thứ hai. Và ba năm sau thời gian thực tập sinh, tôi đã trở về nước làm việc, sống với người mình đã cưới vội để thả neo đó. Cái neo đó đúng là đã giữ tôi không phiêu bạt giang hồ. Nhưng đó là câu chuyện khác… Câu chuyện chính ở đây là… những cái rổ tép bị cướp đi kia! …

Mấy chục năm nay, sống trên đất nước XHCN này, chuyện những người đi đường vô tình bị rơi bịch tiền vung vãi ra và bị mọi người xông vào cướp trắng hết… đã là bình thường, nhưng những giấc mơ và câu hét: “Mọi người! Hãy trả lại tép khô cho cô bé!” vẫn cứ vang lên trong tôi. Và tôi hiểu, đó là tôi vẫn còn đang đi đòi lại cho tôi nhân cách đạo đức người Việt ngày xưa mà tôi từng biết. Tại sao nó bị mất đi? Làm sao cho nó quay trở lại với người Việt? Tôi có tìm lại được niềm tin vào nhân cách người Việt như xưa nữa hay không?

Đó là câu hỏi tôi đã thảo luận với các bạn trẻ sáng nay. Tôi tin là có. Dù điều đó không dễ và không nhanh được, nhưng rồi cũng sẽ tới ngày… Những hạt giống độc hại nào đó đã nẩy mầm sau chiến tranh, nhưng (thực ra là) đã được gieo từ lâu trước đó vào văn hóa dân tộc, chỉ là hồi (còn) bé tôi không nhận ra những rổ tép khô bị hất đổ và cướp mất mà thôi.

Và bây giờ nó đã là rổ tép khô của tôi rồi. Mọi người! Hãy trả lại rổ tép khô cho tôi!

Trần Thành Nam

(Nguồn : vietluan.com.au)

Kungfu – KATANA CARE HOW TO STRAIGHTEN A BENT SAMURAI SWORD

If you regularly cut tatami mats or bamboo, you’ll become an expert at not only cutting but also bending or, rather, straightening your sword. A bent sword can be the result of using a poor quality weapon, an incorrect cutting technique or both. Even a well-manufactured mono-steel blade or traditionally folded-steel model will bend or twist if your technique is off.

Strangely enough, bending is the good news. A blade that bends is preferable to one that breaks, chips or cracks along its edge. The fact that a blade bends in lieu of breaking while sustaining no edge damage reveals that its metallurgical structure is in good condition.

bent samurai sword

(Photo — and bent sword — by Robert W. Young)

A sword bends because of damage to its internal crystalline structure. It should be corrected by a specialist who has experience working with steel. He’ll have at his disposal several methods and tools designed specifically for straightening blades. Among them are “straightening sticks,” or implements that will help him remedy bends as well as twists.

Although these tools and methods are best left to the experts, there are more conventional ones that can aid you should you need to tweak your sword yourself. Before you begin, some words of caution are in order: A bent sword cuts flesh as easily as a straight sword. Furthermore, it has a curious appetite for its owner’s flesh. Prior to beginning any work, put on safety goggles and Kevlar gloves.

Step 1: Inspect the blade for damage other than the bend or twist. 

If the edge has a chip, it must be polished out before you attempt to straighten the blade. If the edge has a crack or the blade is fractured at any point, don’t attempt to straighten it or use it for cutting.

A bent blade will tend to bend again at the same point. The steel in the affected area can wrinkle during the bending and straightening process. If improper technique is used, it might eventually break at the same point.

Step 2: Prepare the blade for straightening. 

Determine where the bend or twist begins and ends and place a piece of masking tape across the convex, or outwardly bowed, section. Use a pencil to mark the tape at the center of the bend. Then mark where the bend starts and stops.

Masayuki Shimabukuro

Masayuki Shimabukuro in action (Photo by Rick Hustead)

Step 3: At the middle marking on the tape, attach a short length of half-inch dowel across the blade at a 90-degree angle. 

Secure it with rubber bands. Obtain two more dowels and use rubber bands to attach them on the opposite side of the blade at the beginning and end of the bend. The more acute the angle of the bend, the closer the two dowels will be to the center one.

Step 4: Place the sword in a vise with the edge facing upward. 

The far jaw of the vise should press against the two outer dowels. If it’s not wide enough to accommodate them, you can lay a piece of angle iron over one or both jaws to effectively widen it.

Step 5: Slowly tighten the vise. 

While doing so, be sure to support the sword by holding its handle. That will direct the pressure precisely onto the dowels while ensuring that the blade doesn’t shift. The goal is to put pressure on the shinogi (ridgeline) of the sword with little to none being applied to the edge.

Step 6: Once you’ve corrected the bend, hold that position for 15 to 20 minutes. 

You can then loosen the vise and check the blade for straightness. If the new “set” hasn’t taken, repeat steps four and five.

Complications

You may find that you have to bend the blade farther in the opposite direction to encourage it to take the new set; do so with extreme caution.

If the blade has multiple bends or is twisted, you may have to straighten it several times with the dowels in varying positions. That could entail reversing the positions of the dowels to bend adjacent sections of the blade in different directions.

Making your life easier

A differentially heat-treated blade, or one that’s hardened only along the edge and softer at the spine, tends to be less difficult to straighten than one that’s tempered throughout its structure.

Alternative tools

To straighten a blade using clamps instead of a vice, prepare it as described above. Then place two 2-by-4 wooden blocks end to end on the edge of a workbench or table with a space between them that’s wide enough to accommodate the length of the bend.

Rest the blade on top of the blocks with the apex in the middle of the space. The bend should create an arched “bridge” between the blocks.

Using two large C-clamps, secure each end of the blade and its associated block to the bench. Use a few layers of masking tape to prevent the clamps from touching the blade.

Place another block on the highest point of the bridge (where the blade is bent the most) and position a large C-clamp over that point so it applies pressure on the wood and the bottom of the bench, then remove the other clamps.

Finally, tighten the clamp until the blade is straight. Leave the blade in this position for 10 to 20 minutes, then remove it and check for straightness. Repeat as necessary until the blade is straight.

Carl Long

By Carl E. Long

Full link: https://blackbeltmag.com/techniques/martial-arts-weapons/katana-care-how-to-straighten-a-bent-samurai-sword

Ẩm thực – The Pirate Who Penned the First English-Language Guacamole Recipe

William Dampier’s food-writing firsts included the use of the words “barbecue” and “chopsticks.”

A 1697 oil painting of Dampier holding a book.

FOR ALL THE PERCEIVED GLAMOUR of piracy, its practitioners lived poorly and
ate worse. Skirting death, mutiny, and capture left little room for comfort
or transformative culinary experience. The greatest names in piracy,
wealthy by the day’s standards, ate as one today might on a poorly
provisioned camping trip: dried beef, bread, and warm beer. Those of
lesser fame were subject to cannibalism and scurvy. The seas were no place
for an adventurous appetite.

But when one gifted pirate permitted himself a curiosity for food, he
played a pioneering role in spreading ingredients and cuisines. He gave us
the words “tortilla,” “soy sauce,” and “breadfruit,” while unknowingly
recording the first ever recipe for guacamole. And who better to expose the
Western world to the far corners of our planet’s culinary bounty than
someone who by necessity made them his hiding places?

William Dampier witnesses the reunion of Miskito men on the Island of Juan Fernandez.
British-born William Dampier began a life of piracy in 1679 in Mexico’s Bay
of Campeche. Orphaned in his late teens, Dampier set sail for the
Caribbean and fell into a twentysomething job scramble. Seeing no future
in logging or sugar plantations, he was sucked into the burgeoning realm of
New World raiding, beginning what would be the first of his record-breaking three circumnavigations. A prolific diarist, Dampier kept a journal wrapped in a wax-sealed bamboo tube throughout his journeys. During a year-long prison sentence in Spain in 1694, Dampier would convert these notes into a novel that became a bestseller and seminal travelogue.

Parts of A New Voyage Around the World read like a 17th-century episode of
No Reservations, with Dampier playing a high-stakes version of Anthony
Bourdain. Aside from writing groundbreaking observations on previously
un-researched subjects in meteorology, maritime navigation, and zoology,
food was a constant throughout his work. He ate with the locals, observing
and employing their practices not only to feed himself and his crew but to
amass a body of knowledge that would expand European understanding of
non-Western cuisine. In Panama, Dampier traveled with men of the
Miskito tribe, hunting and eating manatee. “Their flesh is …
[extraordinarily] sweet, wholesome meat,” he wrote. “The tail of a young
cow is most esteemed. A calf that sucks is the most delicate meat.” His
crew took to roasting filleted bellies over open flames.

Dampier's legacy sparked the infamous Mutiny on the Bounty.

Dampier was later smitten, on the island of Cape Verde, by the taste of
flamingo. “The flesh of both young and old is lean and black, yet very good
meat, tasting neither fishy [nor] any way unsavoury,” he wrote. “Their
tongues are large, having a large knob of fat at the root, which is an
excellent bit: a dish of flamingo’s tongue [is] fit for a prince’s table.” Of
Galapagos penguins, Dampier found “their flesh ordinary, but their eggs
[to be] good meat.” He also became a connoisseur of sea turtles, having
developed a preference for grass-fed specimens of the West Indies: “They
are the best of that sort, both for largeness and sweetness.”

While flamingos, penguins, and turtles never caught on, several
contributions from A New Voyage reshaped our modern English food
vocabulary. In the Bay of Panama, Damier wrote of a fruit “as big as a large
lemon … [with] skin [like] black bark, and pretty smooth.” Lacking distinct
flavor, he wrote, the ripened fruit was “mixed with sugar and lime juiceand
beaten together [on] a plate.” This was likely the English language’s very
first recipe for guacamole. Later, in the Philippines, Dampier noted of
young mangoes that locals “cut them in two pieces and pickled them with
salt and vinegar, in which they put some cloves of garlic.” This was the
English language’s first recipe for mango chutney. His use of the terms
“chopsticks,” “barbecue,” “cashew,” “kumquat,” “tortilla,” and “soy sauce”
were also the first of their kind.

One entry, however, would have dire consequences for the Crown and one
unfortunate crew in the South Pacific. Dampier wrote passionately of a
Tahitian fruit: “When [it] is ripe it is yellow and soft; and the taste is
delicious … The inside is soft, tender, and white, like the crumb of a
pennyloaf.” He and his men dubbed it breadfruit. For British sugar planters
of the West Indies, who struggled to feed their slaves on small plots of
land, these broad-branched, fast-growing, nutritious fruits, which required
little cultivation and stood up to hurricane winds, rang of an ideal solution.
Dampier unknowingly sold the British on breadfruit, which served as the
impetus for a British mission to bring a thousand potted breadfruit trees
from the South Pacific around the Horn of Africa to the West Indies. With
the ship retrofitted to shelter the saplings, the miserably crammed and
mistreated crew mutinied, leading to the fiasco, book, and film that came
to be known as the Mutiny on the Bounty.

William Dampier aboard the <em>HMS Roebuck</em> surveys the New Guinea coast.

In the years following its publication, A New Voyage became an
international bestseller, skyrocketing Dampier to wealth and fame. The
first of its kind, the work generated a hunger among European audiences
for travel writing, serving as an inspiration for Defoe’s Robinson Crusoe and
Swift’s Gulliver’s Travels. Charles Darwin brought a copy of A New Voyage
with him aboard the Beagle’s voyage to South America, having cited the
book as a “mine of information.” Noting his keen eye for wind and current
mapping, the British Royal Navy consulted him on best practices, later
extending him captainship of the HMS Roebuck, on which he was
commissioned for an in-depth exploration of South Africa, Australia, and
Indonesia.

Despite the popular excusal of his pirating days, Dampier eluded long-term
renown due to one entry from A New Voyage. His observations on the
aboriginals of Australia were employed, decades after its publication, as
justification for the colonization of Oceania and the subsequent genocide
of its original inhabitants. In 1697, he wrote that “the inhabitants of this
country are the miserablest people in the world. They differ but little from
brutes.” And indeed, viewing the aboriginals on a scientific expedition in
1770, Sir Joseph Banks, president of the British Royal Society and advisor
to King George III, wrote, “So far did the prejudices which we had built on
Dampier’s account influence us that we fancied we could see their color
when we could scarce distinguish whether or not they were men.” The
later publication of a full transcript of Dampier’s journals does indicate an
up-close and far more favorable analysis of the aboriginals, yet by then the
Crown’s campaign to colonize was well underway, and his reputation as a
bigot was sewn. For generations, Dampier was taught throughout much of
the Commonwealth as, first and only, a piratical figure.

Other negative testimony accumulated against him in court-martials later
on as well: He lost the Roebuck to a leak and was accused of mistreating
and even marooning subordinates—par for the course in the life of a
pirate. Disgraced and indebted by court fines, Dampier died penniless, and
his exploits became mere footnotes between the nary-criminal lives of Sir
Walter Raleigh and James Cook. Nevertheless, each time you order
avocado toast, call some friends over for a barbecue, or ask for a pair of
chopsticks, you are living Dampier’s legacy.

By LUKE FATE

Full link: https://www.atlasobscura.com/articles/first-food-writer?utm_source=Gastro+Obscura+Weekly+E-mail&utm_campaign=0599fe46d0-GASTRO_EMAIL_CAMPAIGN_2019_07_30&utm_medium=email&utm_term=0_2418498528-0599fe46d0-70327933&ct=t(GASTRO_EMAIL_CAMPAIGN_07_30_2019)&mc_cid=0599fe46d0&mc_eid=df51e46713

Ẩm thực – 21 Easy Vegetarian Recipes So Tasty Even Meat-Eaters Will Want Seconds

You won’t miss the beef with these dishes, that’s for sure!

21 Easy Vegetarian Recipes So Tasty Even Meat-Eaters Will Want Seconds

Whether you recently decided to cut meat from your diet, haven’t even ever had the taste of beef before, or find yourself cooking for a dinner party where meats and poultry are a no-go for one or more of your guests. Vegetarian diets are becoming more and more popular, and that means there’s a good chance you might just be looking for some easy vegetarian recipes you can whip up. Not only are our vegetarian recipes easy, low-calorie, and good for you (hello protein!), but they taste so good, even the biggest meat-eaters you know will be coming back for second servings.

Check out these easy to make, oh so tasty vegetarian recipes.

1

Black Bean Omelet

Black bean omeletMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 330 calories, 8 g fat (6 g saturated), 480 mg sodium

We’re going to say it: an omelet isn’t something you should be paying a ton of money for when you’re out at a restaurant, especially when you can make a delicious and nutritious one right in your own kitchen. All you need is 10 minutes and you’ll have an omelet oozing with black beans and cheese, for only 330 calories. Yes, please.

Get our recipe for a Black Bean Omelet.

2

Grilled Vegetable Wrap With Balsamic Mayo

Healthy grilled vegetable wrapMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 240 calories, 13 g fat (3.5 g saturated), 450 mg sodium

Yes, this is proof a wrap can be good for you! Even with a dusting of goat cheese and a spread of balsamic mayo, this wrap is low in calories and will still keep you full, thanks to its generous vegetable filling that combined with the cheese, gives you a nice protein boost.

Get our recipe for a Grilled Vegetable Wrap With Balsamic Mayo.

3

Caprese Sandwich

Caprese sandwichMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 300 calories, 17 g fat (4.5 g saturated), 410 mg sodium

The combination of creamy fresh mozzarella, juicy tomatoes, and sweet basil is simply too good to resist and this sandwich takes very little time to bring to life. Just toast some bread for two minutes and you’re ready to go.

Get our recipe for a Caprese Sandwich

4

Hearty Grilled Cheese With Sautéed Mushrooms

Grilled cheese with sauteed mushroomsMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 340 calories, 12 g fat (6 g saturated), 570 mg sodium

A grilled cheese needs substance, which you want to do without making the sandwich high calorie. And that’s where the mushrooms and caramelized onions come in. We put this all on rye bread instead of white, too for a better—and tastier—alternative.

Get our recipe for a Hearty Grilled Cheese With Sautéed Mushrooms.

5

Easy Panini With Provolone, Peppers, and Arugula

Italian panini with provolone and peppers and arugulaMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 350 calories, 12 g fat (4 g saturated), 1,010 mg sodium

We take the classic flavors of the Italian sandwich and turn them into a crispy, melted panini, ditching the bulky bread, the mound of meat, and excessive calories for a light, veggie and cheese-filled sandwich.

Get our recipe for an Easy Panini With Provolone, Peppers, and Arugula.

6

Warm Goat Cheese Salad

Vegetarian warm goat cheese saladMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 370 calories, 22 g fat (6 g saturated), 660 mg sodium

Nearly every restaurant seems to serve their salads with buckets of dressing, adding so many extra calories. That’s why we’re giving you the perfect recipe to make at home with this warm goat cheese crouton and sweet, crisp pear salad. If you’re not a salad fan, this is the one to change your mind.

Get our recipe for a Warm Goat Cheese Salad.

7

Classic Grilled Cheese and Tomato Soup

Vegetarian grilled cheese and tomato soupMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 320 calories, 17 g fat (8 g saturated), 490 mg sodium

Grilled cheese and a cup of warm tomato soup are the perfect comfort food combo. Our version is stuffed with pimento cheese, which diffuses the calories of the cheese with healthy additions like roasted peppers and Greek yogurt. And the soup is pure oven-roasted tomato goodness.

Get our recipe for a Classic Grilled Cheese and Tomato Soup.

8

Broccoli Cheddar Soup

Healthy broccoli-cheddar soupMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 190 calories, 8 g fat (5 g saturated fat), 16 g sugar

Soup should always be a healthy choice, but broccoli cheddar is a classic vegetarian option that often focuses heavily on the cheese, making it more of a fondue. In this recipe, we make broccoli the star, adding in just a handful of sharp Cheddar to give this soup a rich, creamy texture.

Get our recipe for Broccoli Cheddar Soup.

9

Minestrone with Pesto Soup

Healthy minestrone with pestoMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 200 calories, 5 g fat (1.5 g saturated), 490 mg sodium

Minestrone soup is a dream vegetarian dish, as this recipe is a hodgepodge of veggies. Even if you’re a meat-lover, your diet could always use a boost of veggies and with a spoonful of jarred pesto, this dish gets kicked up a notch.

Get our recipe for Minestrone with Pesto Soup.

10

Buttery Red Pepper Fettuccine Alfredo

Healthy red pepper alfredoMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 390 calories, 12 g fat (7 g saturated), 730 mg sodium

Fettuccine Alfredo, in its purest form, is pasta, butter, and Parmesan cheese. So say goodbye to the overly creamy sauce you have come to know as Alfredo because in this version, we start with a béchamel sauce that is then blended with roasted red peppers to make for a lighter, brighter, better Alfredo, for a quarter of the calories.

Get our recipe for Buttery Red Pepper Fettuccine Alfredo.

11

Homemade 3-Cheese Ravioli With Cherry Tomatoes

Vegetarian 3 cheese ravioli with cherry tomatoesMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 510 calories, 16 g fat (6 g saturated), 790 mg sodium

“Four cheese” anything in the food world usually means it’s a whole lot of extra cheese you’re being served in one dish. Here, in this ravioli recipe, you get ricotta, mozzarella, and sharp Parmesan, plus a sauce that would make anything taste great for just 510 calories. Perfection.

Get our recipe for Homemade 3-Cheese Ravioli With Cherry Tomatoes.

12

Pesto Gnocchi With Green Beans and Tomatoes

Vegetarian pesto gnocchi with green beans and tomatoesMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 490 calories, 22 g fat (7 g saturated), 830 mg sodium

Pesto at its core is made up of olive oil, basil, garlic, and pine nuts, which are loaded with antioxidants and healthy fats. So pesto in moderation is good for you! In this gnocchi, make sure you keep it at 2 tablespoons of pesto per plate—and throw in some healthy extras like tomatoes and green beans to bring even more substance to the meal.

Get our recipe for Pesto Gnocchi With Green Beans and Tomatoes.

13

Ricotta and Cottage Cheese-Stuffed Spinach-Artichoke Manicotti

Spinach-artichoke tomato sauce manicotti with spicyMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 450 calories, 11 g fat (4 g saturated), 810 mg sodium

Most pasta dishes you get while dining out are just a mound of calories and sodium, especially if it’s a stuffed pasta dish. So we decided to take another approach and keeping on par with the comfort-food level you want from a pasta-based meal, we keep the cheesy stuffing. You get low-fat ricotta, cottage cheese, sautéed spinach, and artichoke hearts all stuffed in this manicotti. You won’t lose out on taste with this meal, just on calories.

Get our recipe for Ricotta and Cottage Cheese-Stuffed Spinach-Artichoke Manicotti.

14

Mozzarella Spiedini

Healthy mozzarella spiediniMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 160 calories, 10 g fat (4 g saturated), 270 mg sodium

You might just never turn to a mozzarella stick ever again! OK, maybe that’s a bit dramatic, but in this vegetarian-friendly version of the traditional Italian spiedini, we take fresh mozzarella cheese, baguette crust, and cherry tomatoes and serve them on rosemary branches for the perfect silverware free treat.

Get our recipe for Mozzarella Spiedini

15

Bruschetta, Two Different Ways

Vegetarian bruschetta two waysMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 240 calories, 7 g fat (2 g saturated), 410 mg sodium

Bruschetta is essentially the Italians’ answer to chips and salsa, but if you order it at a restaurant, you’ll end up consuming a ton of calories before your main course even arrives. We have two different ways to make the dish, both of which are low in calories but high in flavor.

Get our recipe for Bruschetta, Two Different Ways.

16

Vegetable Fried Rice

Vegetarian fried rice with a fried eggMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING:360 calories, 12 g fat (2.5 g saturated), 390 mg sodium

Fried rice doesn’t have to be bad for you! All you have to do is mix in all of your favorite veggies, making them more of the star and the rice as a bonus. And with this single, just-cooked egg on top of top, you simply just break the yolk and dig in.

Get our recipe for Vegetable Fried Rice.

17

Mushroom Burger With Mozzarella Cheese

Vegetarian mushroom meltsMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 370 calories, 16 g fat (4 g saturated), 540 mg sodium

Unfortunately, while many veggie burgers may seem like a healthy option for nonmeat eaters, they’re often just as high in calories, fat, and sodium as beef burgers. Here, we go for a portobello mushroom cap as the burger, which is rubbed in olive oil and balsamic, and topped with a crown of melted mozzarella. Delicious and much lower in calories!

Get our recipe for a Mushroom Burger With Mozzarella Cheese.

18

Stuffed Tomatoes

Vegetarian stuffed tomatoesMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 160 calories, 8 g fat (3.5 g saturated), 360 mg sodium

This is a way to completely elevate the basic tomato. It’s sweet, creamy, crunchy, and is filled with the flavors of garlic and fresh basil.

Get our recipe for Stuffed Tomatoes.

19

Simmered Lentils

Lentils in bowlShutterstock
PER 1 SERVING: 160 calories, 4.5 g fat (0.5 g saturated), 540 mg sodium

Lentils have tons of health benefits, such as the fact that they help to reduce cholesterol, are a great source of protein, increase energy, and are good for your heart and digestive system. So if you’re not eating lentils, you should start now! Add in some roasted vegetables to make a heartier, nutrient-rich, lentil stew of sorts if you’re feeling up for it.

Get our recipe for Simmered Lentils.

20

Melted Brie With Vegetables

Vegetarian melted brie vegetablesMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 310 calories, 10 g fat (5 g saturated), 610 mg sodium

Who doesn’t love the taste of melted cheese? Here, we turn to brie and cover sautéed vegetables in the melted deliciousness.

Get our recipe for Melted Brie With Vegetables

21

Caprese Tomato Tower Salad

Vegetarian caprese tomato towersMitch Mandel and Thomas MacDonald
PER 1 SERVING: 170 calories, 13 g fat (6 g saturated), 290 mg sodium

With one bite, you’ll feel like you’ve been transported to Capri, Italy, with this simple salad. Sweet, acidic tomatoes, creamy mozzarella, and fresh basil come together for a quick salad you can easily whip up in the summer to accompany any meal that will truly wow your dinner guests.

By JEN MALDONADO

Full link: https://www.eatthis.com/easy-vegetarian-recipes/?utm_source=nsltr&utm_medium=email&utm_content=unhealthiest-fast-food&utm_campaign=etntNewsletter