Share – The Hardest Problem: Consciousness / Bài toán khó nhất: Ý thức — PhamVietHung’s Home

Everyone knows that consciousness exists, but no one knows what the nature of consciousness is. Scientists want to grasp consciousness, but they grasp only its shadow, not the consciousness itself. The problem of consciousness’ nature has become the hardest problem challenging science… Ai cũng biết ý thức tồn tại, nhưng không ai biết bản chất […]

via The Hardest Problem: Consciousness / Bài toán khó nhất: Ý thức — PhamVietHung’s Home

Everyone knows that consciousness exists, but no one knows what the nature of consciousness is. Scientists want to grasp consciousness, but they grasp only its shadow, not the consciousness itself. The problem of consciousness’ nature has become the hardest problem challenging science…

Ai cũng biết ý thức tồn tại, nhưng không ai biết bản chất ý thức là cái gì. Các nhà khoa học muốn nắm bắt được ý thức, nhưng họ chỉ tóm được cái bóng của nó chứ không phải bản thân ý thức. Vấn đề bản chất của ý thức đã trở thành bài toán khó nhất đang thách thức khoa học…

Nếu có một cái gì đó hiển nhiên rõ ràng nhất nhưng lại bí ẩn khó hiểu nhất thì đó là Ý THỨC.

Ngay từ thời cổ Hy Lạp, một nhà thông thái bậc nhất như Socrates cũng đã phải thốt lên: “Tôi biết rằng tôi chẳng biết gì cả” (I know that I know nothing), rồi ông khuyên: “Hãy hiểu chính mình” (Connais-toi, toi même!). Dường như ông muốn nói với người đời rằng bao nhiêu hiểu biết cũng chẳng có ý nghĩa gì nếu không hiểu chính mình. Thế nào là hiểu chính mình? Ấy là đặt ra những câu hỏi về bản thân mình và trả lời những câu hỏi đó, chẳng hạn: sự hiểu biết của mình có đầy đủ không? Sự hiểu biết của mình có đúng đắn không? Tại sao mình có thể nhận biết, tư duy, cảm xúc, suy tưởng? Sự vật mà mình nhận thức được là hiện thực khách quan hay chỉ là ảo ảnh do ý thức tạo ra? Bản chất của ý thức là gì?… Có lẽ Socrates không thể tìm được câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi này nên ông cảm thấy bao nhiêu sự biết của mình vẫn như chẳng biết gì cả. Trở ngại chính đối với ông có lẽ là bí mật về bản chất của ý thức.

Từ đó đến nay, ngót 2 thiên niên kỷ rưỡi đã trôi qua, loài người đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong sự hiểu biết thế giới, nhưng dường như vẫn dậm chân tại chỗ trong sự hiểu biết về chính mình, mặc dù các nhà triết học và khoa học không ngừng nghiên cứu, thảo luận, tranh cãi về bản chất của ý thức. Tình hình này đã được phản ánh rõ ràng và thú vị trong một bài báo của Oliver Burkeman trên tờ The Guardian của Anh ngày 21/01/2015. Tiêu đề là một câu hỏi chất vấn: “Tại sao những trí tuệ vĩ đại nhất thế giới đều bất lực trước bí mật của ý thức?” ( Why can’t the world’s greatest minds solve the mystery of consciousness? ).

Hỏi tức là đã trả lời: Bí mật của ý thức vượt quá khả năng của những trí tuệ vĩ đại nhất của nhân loại. Một trong những trí tuệ đó là René Descartes (1596-1650), nhà toán học và triết học trứ danh của nước Pháp và thế giới, cha đẻ của Hình học Giải tích, một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật lần thứ nhất trong lịch sử văn minh của nhân loại.

1/ Luận thuyết Descartes

Từ nửa sau thế kỷ 20 cho tới nay, sự phát triển vượt bậc của khoa học và công nghệ đã tạo ra một lợi thế rất lớn trong việc nghiên cứu bản chất của ý thức. Ấy là sự ra đời của một ngành khoa học “chạm” vào ý thức của con người: Khoa học về “Trí thông minh nhân tạo” (Artificial Intellgigence), viết tắt là AI. Thành tựu của AI đã và đang làm cho mọi người kinh ngạc, nhiều dự đoán cho rằng AI sẽ chế tạo ra những robots thông minh bằng và hơn con người trong một tương lai không xa. Năm 1997, chương trình Deep Blue đã đánh cờ thắng vua cờ Gary Kasparov, làm cho niềm hy vọng chế tạo ra trí thông minh trở nên hiện thực hơn bao giờ hết.

Nhưng đúng vào lúc đó, khi tư duy logic cơ giới thô thiển hí hửng nhất, thì những nhà khoa học có đầu óc triết học sâu sắc lại nhận ra sự thật của trí thông minh là cái gì ─ cái mà từ xưa tới nay từng được coi là thước đo của trí thông minh là tư duy logic tính toán hóa ra không phải là “thành phần chủ yếu của tư duy thực sự”, như Douglas Hofstadter nhận định trong cuốn sách nổi tiếng của ông, “Gödel, Escher, Bach”. Đây là một cuốn sách từng đoạt Giải Pulitzer, một sách “gối đầu giường” của tất cả các nhà khoa học về trí thông minh nhân tạo hiện nay, một tác phẩm đặc biệt chuyên sâu dành cho tất cả những ai quan tâm tới vấn đề bản chất của ý thức và trí thông minh của con người. Nguyên văn câu nói của Hofstadter như sau:

“Khi một hoạt động trí não nào đó đã được chương trình hóa thì người ta sẽ mau chóng ngừng coi nó như một thành phần chủ yếu của tư duy thực sự” (Once some mental function is programmed, people soon cease to consider it as an essential ingredient of real thinking) [1]

Đó là một nhận định mang tính cách mạng về bản chất của ý thức, làm tiêu tan hy vọng của những ai tưởng rằng có thể giải mã bí ẩn của ý thức thông qua công nghệ trí thông minh nhân tạo.

Nếu quả thật toàn bộ ý thức có thể chương trình hóa thì chắc chắn đến một lúc nào đó con người sẽ có thể chế tạo ra những robots có ý thức, và như thế thì ý thức không còn gì là bí mật nữa. Khi đó ý thức có thể được xem như kết quả của một hệ thống vật chất hoạt động theo những quy tắc logic xác định. Có nghĩa là thành tựu của khoa học và công nghệ AI một mặt nói lên sức mạnh của tư duy logic, nhưng mặt khác chỉ ra rằng tư duy logic chỉ là một bộ phận của ý thức và thậm chí không phải là bộ phận chủ yếu của tư duy thực sự. Theo tờ The New York Times, Hofstadter cho rằng ý thức thực sự của con người nằm ở tư duy cảm xúc, chẳng hạn như soạn nhạc, viết văn ─ “những lĩnh vực đòi hỏi một linh hồn” (they require a soul), cái mà robots không có và không bao giờ có thể có [1].

Tại sao robots không thể có tư duy cảm xúc? Đơn giản vì cảm xúc không tuân thủ chương trình, cảm xúc là một dạng tư duy phi logic (non-logical thinking) trong khi computer là một cỗ máy hoạt động theo chương trình..

Tóm lại, thành tựu của AI càng làm cho vấn đề bản chất của ý thức càng trở nên khó hiểu hơn. Nó chỉ ra rằng con người, hay sự sống nói chung, là những thực thể hoàn toàn khác biệt với những cỗ máy, mặc dù con người và sự sống nói chung cũng có những yếu tố của những cỗ máy.

Bài báo trên tờ The Guardian ngày 21/01/2015 (đã dẫn) cũng có những ý kiến làm sáng tỏ thêm nhận định nói trên. Xin tóm lược một đoạn thú vị nhất:

Các nhà triết học và khoa học đã tranh cãi nẩy lửa trong hàng thập kỷ nay về vấn đề cái gì làm cho con người phức tạp hơn robots. Bộ não đặt ra đủ các loại bài toán làm cho các nhà khoa học phải bận tâm. Chẳng hạn, chúng ta học như thế nào, làm thế nào để ghi nhớ, hoặc để nhận biết sự vật? Có một số bài toán được xếp vào loại dễ, thí dụ: Làm thế nào để bạn biết rụt tay lại khi chạm phải nước nóng, hoặc nghe thấy tên mình trong một căn phòng hội hè ồn ào? Nếu có đủ thời gian và tiền tài trợ, một ngày nào đó các chuyên gia về thần kinh có thể sẽ đưa ra lời giải đáp. Chỉ có một bài toán duy nhất thực sự khó, được gọi là Bài toán Hóc búa về Ý thức (the Hard Problem of Consciousness), nội dung gồm những câu hỏi như: Tại sao mọi quá trình phức tạp diễn ra bên trong bộ não có cảm giác như từ bên trong nội tâm? Tại sao chúng ta không chỉ thông minh như robots (nói cách khác, tại sao chúng ta không ngu như robots) tức là chỉ có khả năng ghi nhận thông tin, hoặc có phản xạ đáp ứng với ngoại cảnh như tiếng ồn hoặc mùi vị của thức ăn bốc lên từ xoong chảo,… nhưng vẫn dốt đặc và trống rỗng cuộc sống nội tâm? Và làm thế nào mà bộ não sản sinh ra những cảm xúc nội tâm đó? Làm thế nào mà một bộ não nặng khoảng 1.4kg với những mô não mầu hồng nhạt nằm bên trong hộp sọ lại có thể làm nẩy sinh ra một cái gì đó đầy bí ẩn như ý thức về sự sống mà nó và toàn bộ cơ thể được gắn vào sự sống đó?

Khởi nguồn những tranh cãi về bản chất của ý thức dẫn chúng ta đi ngược trở về quá khứ những năm 1600, khi René Descartes nêu lên một luận thuyết về ý thức mà hàng trăm năm sau vẫn là chủ đề để các học giả tiếp tục tranh cãi mà không tìm thấy lời giải. Một mặt Descartes nhận thấy không có cái gì rõ ràng hơn và khó bác bỏ hơn một thực tế là tất cả chúng ta đều có ý thức. Về lý thuyết, tất cả mọi thứ mà bạn nghĩ là bạn biết về thế giới đều có thể chỉ là một ảo ảnh được tạo ra để đánh lừa bạn, nhưng bản thân ý thức thì không thể là một ảo ảnh. Mặt khác, hiện tượng quen thuộc nhất và chắc chắn nhất này lại không tuân thủ bất kỳ một quy luật thông thường nào của khoa học. Nó dường như không phải là vật chất. Nó không thể quan sát được, ngoại trừ sự cảm nhận từ bên trong, bởi chính ý thức của con người. Thậm chí nó không thể thực sự mô tả được. Do đó, Descartes kết luận, ý thức phải được tạo ra bởi một chất liệu gì đó đặc biệt, phi vật chất, không tuân thủ các định luật của tự nhiên; vì thế ý thức ắt phải là một cái gì đó do Chúa truyền cho chúng ta.

Luận thuyết Descartes nói trên đẩy khoa học duy vật vào tình trạng bế tắc: thừa nhận luận thuyết Descartes thì tự bác bỏ mình, không thừa nhận thì buộc phải chứng minh ý thức là vật chất. Nhưng làm thế nào để chứng minh?

Bế tắc! Bốn thế kỷ qua không có chứng minh nào cả! Thành tựu của khoa học về trí thông minh nhân tạo cho thấy trí thông minh thực sự nằm ở cảm xúc, một dạng ý thức phi logic, không tuân thủ bất kỳ một chương trình nào cả, và do đó nó nằm ở bên kia tầm với của khoa học. Trớ trêu thay, khoa học về trí thông minh nhân tạo không những không chống lại Descartes, mà vô tình còn ủng hộ Descartes.

Vậy là sau bốn thế kỷ, luận thuyết Descartes vẫn giữ nguyên giá trị. Bất chấp sự thắng thế của chủ nghĩa duy vật trong thế kỷ 20, những trí tuệ vĩ đại nhất trong thế kỷ này vẫn nghiêng về phía Descartes. Nhận định này có thể kiểm chứng thông qua tư duy của những đại diện khoa học lớn nhất trong thế kỷ 20.

2/ Các nhà khoa học giỏi nhất nghĩ gì về bản chất của ý thức?

Muốn bác bỏ Descartes thì phải chứng minh ý thức là vật chất. Rất nhiều công trình nghiên cứu muốn quy ý thức về một dạng năng lượng, nhưng khốn thay, không có cách nào để phát hiện ra dạng năng lượng đó. Vậy hãy tìm hiểu xem những bộ não vĩ đại nhất trong thế kỷ 20 và hiện nay nghĩ gì về vấn đề này.

Max Planck (1858 – 1947)

Max Planck là cha đẻ của khái niệm lượng tử, mở đầu cuộc cách mạng vĩ đại về nhận thức trong thế kỷ 20. Tầm vóc khổng lồ về khoa học và tư tưởng của ông là điều không thể bàn cãi. Các nhà khoa học duy vật rất ngại trích dẫn Planck bởi uy tín của ông quá lớn, nhưng ông lại có những phát biểu đối nghịch hoàn toàn với chủ nghĩa duy vật. Thật vậy, ông tuyên bố:

“Tôi coi ý thức là nền tảng căn bản, và vật chất bắt nguồn từ ý thức. Chúng ta không thể biết được những gì đằng sau ý thức. Mọi thứ chúng ta bàn đến, mọi thứ mà ta coi là đang tồn tại, đều do ý thức mặc nhận” (I regard consciousness as fundamental. I regard matter as derivative from consciousness. We cannot get behind consciousness. Everything that we talk about, everything that we regard as existing, postulates consciousness) [2]

Ý Planck muốn nói ý thức là gốc rễ của mọi nhận thức, phải có ý thức thì mới nhận biết được vật chất, vì thế không thể giải thích cái gốc rễ ấy là cái gì được. Giống như trong một hệ logic, không thể giải thích hệ tiên đề của hệ logic đó, vì hệ tiên đề là những nguyên lý đầu tiên chỉ có thể thừa nhận như một tiên nghiệm. Trong một trường hợp khác, ông nhắc lại ý kiến này trên phạm vi toàn vũ trụ.

“Mọi vật chất bắt nguồn và tồn tại chỉ vì một lực… Chúng ta phải thừa nhận đằng sau lực này tồn tại một Trí Tuệ có ý thức và thông minh. Trí Tuệ này là cái sinh ra mọi vật chất” (All matter originates and exists only by virtue of a force… We must assume behind this force the existence of a conscious ans intelligent Mind. This Mind is the matrix of all matter) [3]

Chú ý rằng chữ “Trí Tuệ” trong câu nói trên được Planck viết hoa. Vậy Trí Tuệ đó là gì nếu không phải Nhà Thiết kế Thông minh của vũ trụ mà Lý thuyết Thiết kế Thông minh ngày nay mô tả?

Albert Einstein (1879-1955)

Người hiểu rõ khái niệm năng lượng hơn ai hết là Albert Einstein, nhưng Einstein chưa bao giờ thể hiện quan điểm coi ý thức như một dạng năng lượng, dù chỉ ở mức nghi vấn hoặc đặt vấn đề. Công thức nổi tiếng của ông, E = mc^2 , thâu tóm toàn bộ năng lượng và vật chất trong vũ trụ, nhưng không có chỗ cho ý thức ở đó. Ngược lại, ý thức đối với ông vẫn là một cái gì đó hoàn toàn không thể hiểu được, nó không thể là vật chất. Ông nói:

“Điều khó hiểu nhất về vũ trụ là ở chỗ nó có thể hiểu được” (The most incomprehensible thing about the universe is that it is comprehensible).

Còn ai hiểu vũ trụ bằng Einstein? Chẳng phải Thuyết tương đối tổng quát của ông đã mô tả toàn bộ vũ trụ trong một phương trình duy nhất đó sao? [4] Vậy mà ông không hiểu tại sao cái vũ trụ ấy lại có thể được phản ánh trong ý thức của con người, hay nói cách khác, làm sao mà con người có thể nắm bắt được cái vũ trụ mênh mông và kỳ diệu như thế. Giữa vũ trụ và ý thức của con người có một mối quan hệ tương tác như thế nào để ý thức có thể trở thành một tấm gương phản chiếu vũ trụ? Nếu vũ trụ quá bí ẩn thì cái ý thức nắm bắt được vũ trụ còn bí ẩn gấp bội! Tại sao vậy? Vì ý thức không tuân thủ bất cứ một định luật tự nhiên nào, như Descartes khẳng định! Nếu vũ trụ quá kỳ diệu để làm cho Einstein phải thốt lên những lời ngạc nhiên thán phục thì ý thức còn làm cho ông tò mò gấp bội, vì nó hoàn toàn bí ẩn đối với ông. Ông nói: “Trải nghiệm cái bí ẩn – dù có pha trộn cảm giác sợ hãi – cũng chính là trải nghiệm mà tôn giáo đã tạo ra. Hiểu biết về sự hiện hữu của cái mà ta không thể nhìn thấu, của những biểu hiện lý trí sâu thẳm nhất và cái đẹp rực rỡ nhất, những cái chỉ có thể đến với trí não của ta trong những hình thức sơ khai nhất; chính cái biết và cái cảm này làm nên tính tín ngưỡng đích thực; những người có tín ngưỡng sâu xa” [5] Tín ngưỡng mà ông nói ở đây là niềm tin vào sự hiện hữu của cái không thể chứng minh được. Đối với người Thiên Chúa giáo, đó là Chúa, là Thượng Đế. Đối với các nhà khoa học như Pascal, Newton, Galilé, Pasteur, Mendel, Kelvin, Einstein, Heisenberg, Godel,… đó là Đấng Sáng tạo. Bản thân ý thức cũng là một hiện hữu không thể nhìn thấu, không thể chứng minh bằng khoa học, vì thế niềm tin vào sự hiện hữu của ý thức cũng chính là một tín ngưỡng. Vì thế không có gì để ngạc nhiên khi bốn thế kỷ trước, Descartes cho rằng ý thức có nguồn gốc từ Chúa. Einstein không nói rõ như Descartes, nhưng cũng nói điều tương tự khi tuyên bố:

“Tư duy trực giác là một quà tặng thiêng liêng…” [6]. Quà tặng thiêng liêng ấy do ai tặng, nếu không phải Đấng Sáng tạo?

Chú ý rằng tư duy trực giác cũng chỉ là một dạng thức đặc biệt của ý thức. Nó chẳng phải cái gì khác chiếc đèn pha của ý thức giúp con người phát hiện được chân lý một cách trực tiếp và bất chợt, không thông qua suy luận. Tất cả các nhà khoa học lớn đều thấy rõ điều đó. Henri Poincaré, nhà toán học vĩ đại nhất cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, cũng từng nói “Logic giúp ta chứng minh, trực giác giúp ta khám phá”. Nhưng có lẽ Einstein là người băn khoăn nhiều nhất về bí ẩn của trực giác, vì thế ông thường xuyên nhắc tới vai trò định hướng của trực giác trong khám phá, đồng thời gợi ý cho chúng ta suy ngẫm về tính chất bí ẩn không thể giải thích của dạng năng lực tinh thần kỳ lạ này. Ông nói:

“Tri thức đóng vai trò thứ yếu trên con đường khám phá. Có một sự nhảy vọt trong ý thức được gọi là Trực giác hay gọi là gì tùy ý, nhờ đó mà bạn tìm thấy lời giải nhưng bạn không hiểu điều đó diễn ra như thế nào và tại sao” (The intellect has little to do on the road to discovery. There comes a leap in consciousness, call it Intuition or what you will, the solution comes to you and you don’t know or why).

Nếu Einstein còn để cho chúng ta tự suy đoán nguồn gốc của năng lực tinh thần kỳ lạ đó thì Nicolas Tesla, một nhà khoa học xuất chúng đầu thế kỷ 20 lại nói rõ rằng nó đến từ một Trung Tâm trong vũ trụ.

Nicolas Tesla (1856 – 1943)

Vào thời của Tesla, khái niệm trung tâm phát thanh và truyền hình hoặc là chưa có, hoặc là còn quá non trẻ, vậy mà Tesla đã quan niệm bộ óc của chúng ta chỉ là một chiếc máy nhận thông tin, giống như chiếc radio hay tivi bây giờ vậy. Nói cách khác, theo Tesla, ý thức đơn giản chỉ là những thông tin xuất phát từ một Trung tâm trí tuệ trong vũ trụ. Trung Tâm này là gì, nếu không phải Thượng Đế? Đây, ông nói:

“Bộ não của tôi chỉ là một điểm tiếp nhận. Trong Vũ trụ tồn tại một trung tâm mà từ đó chúng ta nhận được tri thức, sức mạnh, cảm hứng. Tôi chưa thâm nhập được vào những bí mật của trung tâm này, nhưng tôi biết nó tồn tại” (My brain is only a receiver. In the Universe there is a core from which we obtain knowledge, strength, inspiration. I have not penetrated into the secrets of this core, but I know that it exists) [7]

Câu nói trên, mặc dù không có chứng minh khoa học, nhưng nó mang bóng dáng của một ngoại cảm tiên tri. [8]

Một câu nói khác của ông cũng chứa đựng nhiều gợi ý về bản chất của nhận thức:

“Thật nghịch lý nhưng là sự thật khi nói rằng chúng ta càng hiểu biết càng trở nên dốt nát theo nghĩa đen, bởi vì chỉ thông qua sự khai sáng thì chúng ta mới ý thức được những hạn chế của chúng ta” (It is paradoxical, yet true, to say, that the more we know, the more ignorant we become in the absolute sense, for it is only through enlightenment that we become conscious of our limitations) [9].

Tôi không rõ câu nói này được nói ra vào thời điểm nào, nhưng nó hoàn toàn phù hợp với tư tưởng của Định lý Bất toàn của Gödel năm 1931. Định lý này khẳng định rằng nhận thức của chúng ta bị hạn chế. Nhưng Tesla ý thức được tính hạn chế đó không phải do Định lý Gödel, mà do được khai sáng, tức được Chúa mặc khải. Khái niệm được mặc khải thực ra cũng là khái niệm trực giác như Einstein nhấn mạnh, đó là món quà thiêng liêng…

Kurt Gödel (1906 – 1978)

Như chúng ta đã thấy, ý thức của con người bao gồm cả logic lẫn phi logic, và Douglas Hofstadter đã chỉ ra rằng tư duy logic không phải là thành phần mang tính người nhiều nhất. Tư duy mang tính người nhiều nhất là tư duy cảm xúc ─ dạng tư duy theo cảm hứng, phi logic và không tuân thủ chương trình…

Sau một thời gian dài các nhà khoa học đánh giá trí thông minh theo cái gọi là IQ, để rồi thấy không ổn, gần đây họ sáng tác ra cái gọi là EQ. Đây là hệ quả của chủ nghĩa duy vật thô thiển, muốn quy mọi hiện tượng trong thế giới hiện thực về vật chất có thể cân đong đo đếm được. Điều đáng buồn là những sáng tác này được đám đông hùa theo, đương nhiên coi đó là những khái niệm khoa học. Nhưng đối với những người có cái nhìn triết học sâu sắc, đó chỉ là những trò hề khoa học. Bản thân chữ EQ (Emotional Quotient) đã là sai lầm, bởi cảm xúc là một hiện tượng không thể đo được. Nói cách khác, mọi giá trị đo lường về cảm xúc đều phiến diện, sai lệch, làm méo mó sự thật. Thí dụ, mọi cách cho điểm các bức tranh của Van Gogh đều vô nghĩa, kể cả việc đo giá trị bức tranh bằng số tiền bán được. Tất cả những con số đó đều là lừa dối, không phản ánh được cảm xúc thực sự của người thưởng thức tranh. Vì thế, Hofstadter từng nói nếu computer có thể vẽ tranh hay viết văn ở trình độ nghệ thuật thì đó sẽ là một thảm họa.

Tất cả những thảo luận nói trên sẽ có thể kém thuyết phục nếu không có Định lý Bất toàn của Kurrt Gödel, “nhà logic vĩ đại nhất kể từ sau Aristotle”.

Thật trớ trêu, Định lý Bất toàn là con đẻ của toán học logic, nó đặt nền móng cho khoa học computer, nhưng nội dung của nó lại nói lên tính bất toàn của logic. Nếu trường phái Hilbert tôn sùng logic như “đấng toàn năng” của toán học thì Gödel lại hạ nó xuống đúng vị trí của nó, rằng logic là ngôn ngữ đắc dụng của computer, với những hạn chế mang tính bản chất không thể khắc phục được, và đối với con người, logic chỉ là một bộ phận của ý thức ─ ý thức của con người rộng lớn hơn và phức tạp hơn rất nhiều so với cái phần logic đó. Đây, hãy nghe ông nói:

“Bộ não là một chiếc máy tính được kết nối với một tâm linh” (The brain is a computing machine connected with a spirit) và “Ý thức được kết nối với một cái toàn thể” (Consciousness is connected with one unity) [10].

Chữ “bộ não” trong câu nói trên phải được hiểu là ý thức lưu hành trong bộ não. Vậy theo Gödel, ý thức ấy không chỉ có tư duy tính toán, tư duy theo chương trình, mà bao gồm cả tâm linh ─ phần ý thức chứa đựng tất cả những gì mà toán học nói riêng và khoa học nói chung bất lực, chẳng hạn như cảm xúc âm nhạc, cảm xúc trước cái đẹp, cảm xúc thi ca, khả năng trực giác, ngoại cảm, tiên tri,… Ở một mức độ nào đó, có thể thấy Gödel vượt xa Einstein trong những suy nghĩ về bản chất của ý thức ─ ông không dừng lại ở chỗ ngạc nhiên trước sự kỳ lạ khó hiểu về những khả năng không thể giải thích được của ý thức, mà cho rằng cái ý thức đó được nối kết với một trung tâm trí tuệ nào đó của vũ trụ, cái mà ông gọi là “một toàn thể” (one unity). Ở chỗ này ta thấy Gödel có phần nào giống Tesla, khi Tesla cho rằng bộ não chỉ là chiếc máy thu những tri thức được phát ra từ một Trung Tâm trong vũ trụ.

Cái mà Tesla gọi là một Trung Tâm, và Gödel gọi là một Toàn thể, thực ra là Thượng Đế, hoặc Đấng Sáng tạo, Đấng Toàn năng, Nhà Thiết kế Vũ trụ, Nhà Lập trình Vũ trụ, Chúa, Brama, Alah, Bà Mẹ Tự Nhiên,… Điều này rất dễ hiểu, bởi cả Tesla lẫn Gödel đều công khai bầy tỏ Đức tin của mình.

Tesla từng nói: “Quà tặng sức mạnh tinh thần đến từ Chúa, Thực thể Thần thánh, và nếu chúng ta tập trung tư tưởng của chúng ta vào chân lý đó, chúng ta sẽ hòa hợp với sức mạnh vĩ đại ấy. Mẹ tôi dạy tôi tìm kiếm mọi chân lý từ trong Kinh Thánh”. [11]

Gödel còn đi xa hơn thế, ông không chỉ khẳng định sự tồn tại của những thế giới khác với thế giới chúng ta đang sống, mà còn dùng toán học logic để chứng minh sự hiện hữu của Chúa. Đầu năm 2013 hai nhà khoa học computer là Christoph Benzmüller thuộc Đại học Tự do ở Berlin (Free University of Berlin) và Bruno Woltzenlogel Paleo thuộc Đại học Kỹ thuật Vienna đã bắt tay vào việc “computer hóa” toàn bộ chứng minh của Gödel. Không đầy một năm, đến Tháng 10, kết quả được công bố trong một công trình mang tên: “Formalization, Mechanization and Automation of Gödel’s Proof of God’s Existence” (Hình thức hóa, Cơ giới hóa và Tự động hóa chứng minh của Gödel về sự hiện hữu của Chúa). Công trình này được giới khoa học computer nhiệt liệt hưởng ứng như một mẫu mực của bài toán computer hóa các định lý toán học. [12]

Erwin Schrödinger (1887 – 1961)

Erwin Schrödinger là nhà vật lý lỗi lạc người Áo, đoạt Giải Nobel năm 1933, nổi tiếng với phương trình sóng trong Cơ học Lượng tử. Ông tuyên bố rất rõ ràng và dứt khoát về bản chất của ý thức như sau:

“Ý thức không thể giải thích được bằng những thuật ngữ mang tính vật chất. Vì ý thức là khái niệm gốc rễ, không thể giải thích được bằng thuật ngữ của bất cứ thứ gì khác” (Consciousness cannot be accounted for in physical terms. For cansciousness is absolutely fundamental. It cannot be accounted for in terms of anything else). [13]

Ý kiến này có thể xem như một lời thuyết minh hoặc tán thưởng ý kiến của Planck đã dẫn ở trên, rằng phải có ý thức thì mới nhận thức được mọi thứ, ý thức là mắt xích đầu tiên của hệ thống nhận thức, vì thế không thể giải thích mắt xích đầu tiên ấy là cái gì được.

Tóm lại, luận thuyết Descartes vẫn đứng vững trong thế kỷ 20, ít nhất trong tư tưởng của những nhà khoa học tài giỏi nhất và có tầm nhìn triết học sâu xa nhất.

Tuy nhiên, các nhà khoa học duy vật không có lựa chọn nào khác là phải cố gắng chứng minh ý thức chỉ là một dạng vật chất đặc biệt nào đó. Hy vọng chứng minh này dấy lên mạnh mẽ trong bối cảnh xuất hiện ngày càng nhiều hiện tượng ngoại cảm và tâm linh trên khắp thế giới. Nổi tiếng nhất là hiện tượng chữa bệnh bằng tâm linh có hiệu quả thực tế rất cao của nhà chữa bệnh bằng tâm linh Bruno Gröning ở Đức giai đoạn 1949-1959 và nhà chữa bệnh bằng tâm linh Nguyễn Đức Cần ở Việt Nam những năm 1970,… Nhiều dự án nghiên cứu những hiện tượng này đã xuất hiện ở nhiều quốc gia, được gọi tắt trên sách báo quốc tế là PSI, thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học lẫn người không làm khoa học. Vậy kết quả PSI ra sao?

3/ PSI và những nghiên cứu thực tế về bản chất của ý thức

PSI là chữ viết tắt của thuật ngữ “Psychic phenomenna”, dịch nôm na là những hiện tượng tâm linh. Tìm hiểu kỹ hơn trên Google, gõ “what does psychic mean” (psychic nghĩa là gì), chúng ta nhận được kết quả như sau:

–  Nếu đóng vai trò tính từ, “psychic” có nghĩa thứ nhất là tính chất liên quan đến những hiện tượng dường như không thể giải thích được bằng các định luật tự nhiên, đặc biệt là hiện tượng thần giao cách cảm (telepathy) hoặc thấu thị (clairvoyance). Những từ đồng nghĩa với nó là “supernatural” (siêu tự nhiên), “paranormal” (dị thường, ngoài phạm vi giải thích của khoa học), “other-worldly” (thuộc thế giới khác), “supernormal” (siêu thường), “preternatural” (vượt quá tự nhiên), “metaphysical” (siêu hình), “extrasensory” (ngoại cảm), “transcendental” (siêu việt), “magic” (huyền ảo), “mystical” (huyền bí), occult (huyền bí),…

–  Nghĩa thứ hai, “psychic” là tính chất liên quan đến linh hồn (soul) hoặc tư tưởng (mind).

–  Nếu đóng vai trò danh từ thì “psychic” là một người có khả năng “psychic”, tức là có những khả năng dị thường không thể giải thích bằng các định luật tự nhiên được.

Vậy bản thân sự giải thích của Google (dựa trên các từ điển học thuật) đã thừa nhận hai sự thật:

Một, những hiện tượng ngoại cảm và tâm linh không thể giải thích được bằng các định luật tự nhiên là có thật! Những hiện tượng này tồn tại khách quan, hoàn toàn không phải là bịa đặt, mê tín dị đoan như một số người lầm tưởng! Vì thế, việc quan tâm nghiên cứu những hiện tượng đó là cần thiết.

Hai, những hiện tượng ngoại cảm và tâm linh không thể giải thích bằng các định luật tự nhiên, tức là nằm bên ngoài khoa học. Nói cách khác, khoa học không thể giải thích những hiện tượng ngoại cảm và tâm linh!

Hai kết luận trên hoàn toàn phù hợp với kết luận trong cuốn BÊN NGOÀI KHOA HỌC do NXB Khoa học & Kỹ thuật Hà-nội xuất bản năm 2004, trong đó viết:

  • “Đòi hỏi về tính phổ quát là một trong những lý do vì sao thật khó thực hiện một sự khảo sát khoa học về các hiện tượng như tâm động và ngoại cảm, các hiện tượng này dường như chỉ đi liền với một số cá nhân nào đó trong những hoàn cảnh đặc biệt. Với cùng lý do như vậy, kinh nghiệm cá nhân độc nhất, dù gây ấn tượng như thế nào đối với người nhận, không thể xem là một phần của khoa học” (ý kiến của nhà vật lý Peter Hodgson, trang 20).
  • “PSI vẫn còn đang trôi nổi! … Vì sao các nhà khoa học không chấp nhận PSI? Lý do đối với sự hoài nghi chính là chúng ta cần các số liệu lặp lại được và một lý thuyết có thể đứng vững được. Cả hai đòi hỏi này vẫn còn thiếu trong nghiên cứu về PSI…. Chừng nào mà người cổ vũ cho PSI vẫn chưa thể làm rõ việc ý nghĩ được sản sinh ra bởi các nơ-ron trong não của người gửi có thể đi qua xương sọ để vào não của người nhận thì hoài nghi là sự đáp ứng thích hợp…” (ý kiến của GS Đặng Mộng Lân, đồng dịch giả và biên tập viên của cuốn BÊN NGOÀI KHOA HỌC, trang 25-27, đã công bố trên tạp chí Vật lý Ngày nay số Tháng 10/2003).

Tóm lại, cho đến hôm nay, khi độc giả đang đọc những dòng này, thì tất cả những công trình nghiên cứu về ngoại cảm và tâm linh đều chưa đem lại một kết quả gì có lợi cho khoa học duy vật, và có lẽ điều này là BẤT KHẢ, vì như bản thân khái niệm “psychic”, tức “ngoại cảm và tâm linh”, đã được định nghĩa là những hiện tượng không thể giải thích được bằng các định luật tự nhiên.

Nói cách khác, những nghiên cứu về ngoại cảm và tâm linh không hề chứng minh được rằng ý thức là một dạng vật chất, mặc dù trong những nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu thường xuyên dùng những thuật ngữ vật lý để gán cho khả năng ngoại cảm và tâm linh, chẳng hạn, “trường sinh học”, “năng lượng tinh thần”, “năng lượng tâm linh”,… Thực chất, đây là một việc làm “gượng ép” ─ việc dùng những khái niệm và thuật ngữ quen thuộc trong một thế giới quen thuộc để mô tả một hiện tượng không biết rõ bản chất trong một thế giới chưa biết ─ tương tự như tình trạng khủng hoảng trong vật lý học đầu thế kỷ 20, khi các nhà vật lý cố gắng mô tả thế giới lượng tử bằng những khái niệm và thuật ngữ của thế giới vật chất thông thường. Niels Bohr đã cảnh tỉnh thế giới vật lý rằng đây là một nỗ lực BẤT KHẢ (impossible), và do đó đừng bao giờ cầu mong có thể hiểu được thế giới lượng tử một cách rõ ràng và xác định như thế giới hàng ngày của chúng ta. Rốt cuộc các nhà vật lý chỉ có thể tiên đoán các hiện tượng lượng tử theo xác suất, và sự khôn ngoan mách bảo chúng ta rằng đừng cố hiểu bản chất của thế giới lượng tử, mà hãy tận dụng các hiện tượng lượng tử vào đời sống của chúng ta, miễn là đem lại lợi ích cho loài người. Các nhà vật lý đã khôn ngoan đi theo con đường này. Chẳng hạn, “tương tác ma quái” giữa hai hạt photon là một hiện tượng không thể giải thích được, nhưng đã và đang được nghiên cứu để ứng dụng truyền thông tin tức thời, được gọi là “viễn tải lượng tử” (teleportation).

Đó là một bài học rất tốt cho những nghiên cứu về ngoại cảm và tâm linh, hay nói chung cho những nghiên cứu về bản chất của ý thức. Nói gợi ý cho chúng ta thấy không nhất thiết phải ôm lấy quan điểm lỗi thời cho rằng mọi thứ trong thế giới hiện thực đều là vật chất. Hãy thừa nhận sự tồn tại của những hiện thực phi vật chất hoặc siêu nhiên mà khoa học bất lực, để tìm cách ứng dụng những hiện tượng đó vào những mục đích thiết thực đối với đời sống loài người, điển hình là việc chữa bệnh.

Dù khoa học thừa nhận hay không, việc chữa bệnh của “hai vị thánh chữa bệnh”, Bruno Gröning và Nguyễn Đức Cần, vẫn mang lại những kết quả phi thường không thể chối cãi. Nếu phương pháp chữa bệnh bằng tâm linh của “hai vị thánh” này không thể giải thích được bằng khoa học thì đơn giản là khoa học vật chất quá nghèo nàn để giải thích các hiện tượng thuộc về ý thức và tâm linh.

Sự nghèo nàn này thiết tưởng đã quá rõ.

Định lý Bất toàn của Gödel đã nói rằng tư duy lý lẽ và logic không đủ để chứng minh mọi hiện tượng ngay trong thế giới vật chất thông thường chứ đừng nói đến những thế giới bên ngoài hoặc bên trên thế giới vật chất. Vì thế, cái cần phải thay đổi không phải là tìm kiếm một thứ máy móc hay công cụ vật lý tối tân hơn, tinh vi hơn, để chụp ảnh hay ghi lại dấu vết của ý thức hoặc tâm linh, mà là thay đổi thế giới quan, thay đổi cách nhìn về thế giới!

PSI không được khoa học thừa nhận vì nó nghiên cứu những hiện thực khách quan cao hơn, rộng hơn thế giới vật chất ─ thế giới bên ngoài hoặc bên trên tầm với của khoa học. Vậy nếu nhìn nhận khoa học chỉ là một trong số những con đường khám phá chân lý thì hãy bổ sung cho những hiểu biết hạn hẹp của khoa học bằng những phương pháp nhận thức khác.

4/ Những con đường tiệm cận tới bản chất của ý thức

Việc PSI không được công nhận là khoa học không phải là một tin buồn đối với những người tin vào thế giới tâm linh, mà ngược lại, đó là một tin vui, vì nó chứng tỏ hai điều:

  • Nó xác nhận hiện tượng tâm linh là có thật.
  • Nó chỉ ra rằng khoa học vật chất không đủ để nghiên cứu ý thức và tâm linh. Nói cách khác, nó chỉ ra “cái gót A-sin” của khoa học duy vật ─ một dạng nhận thức dựa trên tư tưởng nền tảng cho rằng thế giới chỉ có vật chất và vật chất, ngoài ra không có cái gì khác.

Cái “gót A-sin” ấy cản trở con người tiến về phía trước trên con đường nhận thức sự thật. Điều này đã được nhấn mạnh bởi David Hawkins, nhà triết học khoa học nổi tiếng của Mỹ trong thế kỷ 20 (từng là thành viên trong Dự án Manhattan – Dự án chế tạo bọm nguyên tử của Mỹ trong những năm 1940). Ông nói:

“Trở ngại chính trên con đường phát triển của chúng ta là sự thiếu hiểu biết về bản chất của bản thân ý thức” (The main obstacle to our development is our lack of knowledge about the nature of consciousness itself). [14]

Làm thế nào để vượt qua trở ngại đó? Liệu khoa học có thể tự nó vượt qua trở ngại này không?

Câu trả lời là KHÔNG, chừng nào khoa học còn tiếp tục duy trì quan điểm lỗi thời cho rằng thế giới chỉ có vật chất và vật chất mà thôi. Nếu đóng khung trong quan niệm như thế thì làm sao một lý thuyết thuần túy vật chất có thể giải thích một hiện thực phi vật chất? Chẳng phải các nhà khoa học giỏi nhất thế kỷ 20 như Max Planck, Einstein, Tesla, Gödel, Schrödinger,… đã nói rõ điều này rồi sao?

Các nhà triết học, thần học cũng thấy rõ điều đó. Trong cuốn “Vũ trụ trong một nguyên tử”, Đức Đạt Lai Lạt ma dùng thuyết nhân quả để bác bỏ khả năng quy giản tinh thần thành vật chất. Ngài viết:

“Điều cốt yếu để hiểu khái niệm của Phật giáo về ý thức – và sự bác bỏ của nó về khả năng quy giản tinh thần thành vật chất – là thuyết nhân quả” (trang 195, Công ty Nhã Nam và NXB Thế giới xuất bản năm 2016).

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhấn mạnh rằng ý thức mang tính chủ quan, nhưng khoa học chỉ coi trọng những chứng cứ khách quan, và do đó khoa học dường như chẳng đạt được kết quả nào trong việc khám phá bản chất của ý thức:

Kinh nghiệm của ý thức là hoàn toàn chủ quan. Tuy nhiên, điều nghịch lý là mặc cho thực tại không thể nghi ngờ của chủ quan tính của chúng ta và hàng ngàn năm khảo cứu triết học, có rất ít đồng thuận về vấn đề ý thức là gìKhoa học, với phương pháp ngôi thứ ba đặc trưng của nó – cái nhìn khách quan từ bên ngoài – chỉ đạt được những tiến bộ ít ỏi đến kinh ngạc trong sự hiểu biết này” (trang 177, sách đã dẫn) (chữ in đậm do tôi nhấn mạnh, PVHg).

Vậy có cách nào để khoa học vượt qua trở ngại hiện nay không?

Đức Đạt Lai Lạt ma nêu lên một đề nghị: kết hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học với phương pháp nghiên cứu truyền thống của Phật học. Cụ thể, kết hợp phương pháp thí nghiệm khách quan, mà ngài gọi là “phương pháp ngôi thứ ba), của khoa học với phương pháp chủ quan của thiền định Phật giáo, mà ngài gọi là “phương pháp ngôi thứ nhất”.

Cái khó trong sự kết hợp này là ở chỗ khoa học xưa nay chỉ chấp nhận “phương pháp ngôi thứ ba”, tức là chỉ chấp nhận những kết luận được rút ra từ những thí nghiệm khách quan, có thể lặp đi lặp lại, cùng cho một kết quả như nhau. Chẳng hạn, quy luật F = ma dù được bạn kiểm tra ở Việt Nam hay tôi kiểm tra tại Úc sẽ đều cho một kết luận như nhau. Và khoa học xưa nay không chấp nhận bất kỳ một kinh nghiệm cá nhân chủ quan nào, nếu nó không được kiểm chứng bởi những người khác và cho cùng một kết quả. Vì thế khoa học rất khó có thể chấp nhận những kinh nghiệm thiền định của các bậc tu hành bất kể các ngài đắc đạo như thế nào. Xin nhắc lại ý kiến của nhà vật lý Peter Hodgson trong cuốn BÊN NGOÀI KHOA HỌC đã dẫn ở trên:

“…kinh nghiệm cá nhân độc nhất, dù gây ấn tượng như thế nào đối với người nhận, không thể xem là một phần của khoa học”.

Giả sử có một thiền giả cao cấp đã chứng ngộ được những sự thật huyền nhiệm ở những cõi giới ý thức siêu linh, đồng thời lại là một nhà khoa học xuất chúng về vật lý, có khả năng quy kết những sự thật chứng ngộ được thành một định luật biểu thị dưới dạng toán học, liệu định luật đó có được khoa học công nhận không?

Câu trả lời là KHÔNG, nếu định luật đó không thể phát biểu được ở “ngôi thứ ba”, tức là không được kiểm chứng bởi những người khác ở địa vị hoàn toàn khách quan.

Thực chất vấn đề Đức Đạt Lai Lạt ma nêu lên cũng chính là vấn để hóc búa nhất của PSI ─ làm thế nào để kiểm chứng những ý thức nẩy sinh trong bộ não của những nhà ngoại cảm? Làm thế nào để biết ý thức thực sự diễn ra như thế nào ở các “vị thánh chữa bệnh”? Không có cách nào cả. Chúng ta chỉ có thể xác nhận đó là những hiện thực, những sự thật diễn ra trước mắt, để tin rằng đó là những phép lạ có thật. Đọc cuốn “Nguyễn Đức Cần, nhà văn hóa tâm linh” của Nguyễn Phúc Giác Hải và Nguyễn Tài Đức, do NXB Văn hóa Thông tin xuất bản năm 2013, một người có thể chất tinh thần lành mạnh không thể không tin đó là sự thật. Cá nhân tôi, tôi hoàn toàn tin đó là sự thật, vì hai lý do: một, tôi có người nhà được cụ Cần chữa bệnh; hai, bản thân tôi có những trải nghiệm tâm linh nhất định, đủ để tôi tin vào sự tồn tại của những thế giới tâm linh khác và cao hơn thế giới vật chất của chúng ta. Tuy nhiên, niềm tin của cá nhân tôi và của hàng nghìn hàng vạn người khác không đủ để trở thành một phát biểu ở “ngôi thứ ba” mà khoa học yêu cầu. Đức Đạt Lai Lạt Ma viết:

“Tôi biết rằng có sự hoài nghi sâu sắc về các phương pháp ngôi thứ nhất trong khoa học hiện đại” (trang201, sách đã dẫn).

Nhưng ngài cho rằng ĐÃ ĐẾN LÚC khoa học phải tìm cách dung nạp những trải nghiệm chủ quan, nếu thực sự muốn khám phá bí ẩn của ý thức, bởi bản thân ý thức mang tính chủ quan:

“Do đó một nghiên cứu khoa học toàn diện về ý thức phải dung chứa cả hai phương pháp ngôi thứ ba và ngôi thứ nhất” (trang 199, sách đã dẫn).

Đây thực sự là một lời mời gọi khoa học nhưng đồng thời là một thách thức quá lớn đối với khoa học, bởi nếu khoa học chấp nhận “ngôi thứ nhất” thì khoa học không còn là khoa học nữa, ít nhất là khoa học theo cách hiểu như hiện nay.

Riêng tôi, từ lâu tôi đã cho rằng có thể tiệm cận tới thế giới kỳ diệu của ý thức bằng một phương pháp hoàn toàn khác, đó là phương pháp của logic toán học, mà Kurt Gödel từng gợi ý. Để đi theo hướng này, nhà khoa học phải xây dựng cho mình một hệ tiên đề. Từ đó nêu lên các định lý, tập hợp các định lý sẽ tạo nên một lý thuyết logic về ý thức. Nếu lý thuyết này phù hợp với các hiện tượng thực tế liên quan đến ý thức thì nó sẽ được chấp nhận; ngược lại nếu mâu thuẫn với thực tế thì sẽ bị loại bỏ.

5/ Hệ tiên đề về ý thức của sự sống

Việc gán cho ý thức bản chất vật chất, như năng lượng hoặc một trường vật chất nào đó, sẽ gặp phải hai khó khăn lớn: Một, phải chỉ ra dạng vật chất đó, hoặc phải cân đong đo đếm được dạng vật chất đó; Hai, việc cố gắng giải thích bản chất vật chất của ý thức là mâu thuẫn với logic nhận thức.

Thật vậy, theo logic nhận thức mà Planck và Schrödinger đã nói (mục 2 ở trên), phải có ý thức thì mới nhận biết được vật chất, do đó việc quy giản ý thức thành vật chất là một quy trình ngược, trái với logic nhận thức!

Tóm lại, khái niệm ý thức phải được coi là một tiên nghiệm, không cần giải thích. Nhưng từ tiên nghiệm đó có thể nêu lên các tiên đề về sự hiện hữu của ý thức, làm cơ sở cho một hệ thống lý thuyết logic về ý thức. Cụ thể, tôi xin nêu lên Hệ tiên đề về ý thức của sự sống gồm 3 tiên đề sau đây:

Tiên đề 1: Ý thức là một dạng thông tin đặc biệt mà chỉ sự sống mới có, được gọi là thông tin ý thức (conscious information).

Tiên đề 2: Tồn tại một Trung Tâm Ý Thức trong vũ trụ.

Tiên đề 3: Bộ não là một cỗ máy sinh học có khả năng thu nhận, lưu trữ, xử lý và phát ra thông tin ý thức.

Nếu bạn hiểu Lý thuyết Thông tin, bạn sẽ dễ dàng chấp nhận Tiên đề 1. Thật vậy, theo Lý thuyết Thông tin, thông tin là một hiện thực phi vật chất, nhưng nó biểu lộ thông qua vật chất. Hoàn toàn tương tự, ý thức cũng là một hiện thực phi vật chất, và cũng biểu lộ thông qua vật chất.

Nếu bạn hiểu ý kiến của Planck và Tesla như đã dẫn ở mục 2, bạn cũng sẽ dễ dàng chấp nhận Tiên đề 2. Xin nhắc lại, Planck nói: “Mọi vật chất bắt nguồn và tồn tại chỉ vì một lực… Chúng ta phải thừa nhận đằng sau lực này tồn tại một Trí Tuệ có ý thức và thông minh. Trí Tuệ này là cái sinh ra mọi vật chất”.

Tesla cũng nói: “Bộ não của tôi chỉ là một điểm tiếp nhận. Trong Vũ trụ tồn tại một trung tâm mà từ đó chúng ta nhận được tri thức, sức mạnh, cảm hứng.”

Nếu bạn từng so sánh bộ não với computer, bạn cũng sẽ dễ dàng chấp nhận Tiên đề 3. Vật chất của bộ não giống như phần cứng; ý thức lưu hành trong bộ não giống như thông tin lưu hành trong computer.

Với hệ tiên đề đó, tôi cho rằng có thể giải thích được hầu hết các hiện tượng về ý thức của sự sống, từ những hiện tượng thông thường ta gặp hàng ngày đến những chuyện khó hiểu như bí mật của các giấc mơ, từ những thiên tài khoa học như Einstein, Gödel… đến những vị thánh chữa bệnh như Bruno Gröning, Nguyễn Đức Cần,…

Thí dụ, Eisnstein giỏi hơn chúng ta không phải vì ông có bộ não tốt hơn chúng ta, như khoa học thần kinh muốn chứng minh, mà vì ông nhận được những thông tin đặc biệt từ Trung Tâm Ý Thức trong vũ trụ. Những nhà ngoại cảm hay các “vị thánh chữa bệnh” cũng vậy. Đó là lý do để ông thánh Bruno Gröning nói với những bệnh nhân được ông chữa lành rằng “Đừng cám ơn tôi, hãy cám ơn Thượng Đế”. Thượng Đế mà ông nói chính là Trung Tâm Ý Thức đã nói ở Tiên Đề 2.

Nếu ai chất vấn tôi rằng làm thế nào mà kiểm chứng các tiên đề nói trên, tôi xin trả lời rằng: Tiên đề là những mệnh đề được xây dựng trên niềm tin. Bất kỳ một lý thuyết khoa học nào cũng đều xây dựng trên một hệ tiên đề dựa trên niềm tin ban đầu. Toán học có hệ tiên đề Euclid, hệ tiên đề Hilbert,… Vật lý cũng có những tiên đề của nó, chẳng hạn, vũ trụ là đồng nhất và đẳng hướng, các định luật vật lý đúng trong mọi thời điểm của lịch sử hình thành vũ trụ,…

Hệ tiên đề về ý thức của sự sống nêu trên có thể không đầy đủ. Điều này là bình thường. Theo Định lý Bất toàn của Gödel, không tồn tại một hệ tiên đề nào vừa đầy đủ vừa phi mâu thuẫn. Vậy điều quan trọng nhất là ở chỗ lý thuyết xây dựng từ hệ tiên đề nói trên có  phù hợp với các sự kiện thực tế về ý thức hay không. Hiện còn quá sớm để nói điều này. Phải có thời gian nghiên cứu và kiểm chứng mới có thể có một kết luận chính xác. Nhưng trực giác gợi ý cho tôi thấy hệ tiên đề nói trên là hợp lý và hữu dụng để xây dựng nên một lý thuyết cho phép giải thích được phần lớn những hiện tượng về ý thức của sự sống. Vậy xin tạm thời bỏ ngỏ việc kiểm chứng tính hợp lý và hữu hiệu của hệ tiên đề nói trên cho những nghiên cứu tiếp theo.

Để kết, xin giải thích đôi lời tại sao tại sao nên áp dụng phương pháp tiên đề để nghiên cứu ý thức.

Vì vấn đề ý thức thực chất là vấn đề siêu hình (phi vật chất), không thể dùng khoa học vật chất để khám phá một đối tượng siêu hình. Chỉ có thể áp dụng triết học và thần học để xử lý các vấn đề siêu hình.  Tuy nhiên, triết học và thần học từ trước tới nay không được coi là khoa học chính xác, vì thế chưa có độ thuyết phục cao. Liệu có thể có một thứ triết học hay thần học có tính chính xác cao như toán học hay các khoa học vật chất không?

Một lần nữa, Kurt Gödel, tác giả của Định lý Bất toàn nổi tiếng, nói cho chúng ta biết rằng CÓ! Có thể có một thứ triết học hoặc thần học chính xác như thế. Ông nói:

“Triết học, với tư cách một lý thuyết chính xác, nên áp dụng cho siêu hình học như Newton đã làm đối với vật lý. Tôi cho rằng có nhiều khả năng sự phát triển của một lý thuyết triết học như thế sẽ xảy ra trong vòng 100 năm tới hoặc sớm hơn” (Philosophy as an exact theory should do for metaphysics as much as Newton did for physics. I think it is perfectly possible that the development of such a philosophical theory will take place within the next hundred years or even sooner) [10]

Ông cũng nói: “Tôn giáo cũng có thể được xây dựng như một hệ thống triết học dựa trên một hệ tiên đề” (Religion may also be developed as a philosophical system built on axioms). [10]

Bản thân Gödel đã áp dụng phương pháp tiên đề để chứng minh sự hiện hữu của Chúa ─ bài toán lớn nhất của triết học, thần học và siêu hình học nói chung [12]. Đó là một mô hình mẫu mực của việc sử dụng phương pháp tiên đề để giải quyết các bài toán của siêu hình học, như ông khuyên chúng ta nên làm.

Việc xây dựng Hệ tiên đề về ý thức của sự sống như tôi trình bầy ở trên là một thử nghiệm phương pháp tiên đề theo lời khuyên của Gödel.

6/ Kết luận

Kết luận 1: Ý thức không phải là vật chất.

Như chúng ta đã thấy, Planck và Schrödinger đều cho rằng phải có ý thức mới nhận thức được vật chất. Đó là quy luật tự nhiên. Do đó dùng khoa học vật chất để giải thích ý thức là đi ngược lại quy luật tự nhiên.

Mặt khác, theo Định lý Bất toàn của Gödel, mọi hệ tự quy chiếu (self-referential system) ─ hệ tự mình nói về mình ─ đều dẫn tới mâu thuẫn (dao sắc không gọt được chuôi). Việc dùng khoa học để giải thích ý thức, tức là dùng ý thức để giải thích ý thức, chính là một hệ tự quy chiếu, do đó dẫn tới mâu thuẫn. Đó là lý do khoa học thất bại trong nỗ lực giải thích bản chất của ý thức.

Kết luận 2: Để hiểu biết rõ hơn về ý thức, phải đi ra ngoài thế giới ý thức của con người.

Thật vậy, theo Định lý Gödel, muốn phán xét một hệ A đầy đủ hơn, phải đi ra ngoài hệ A. Tức là phải sử dụng những tiên đề bổ sung không nằm trong hệ A. Vì thế, muốn hiểu rõ thế giới ý thức của con người, phải đi ra bên ngoài thế giới ý thức của con người. Làm thế nào để thực hiện điều đó?

Theo tôi, có 2 con đường.

Con đường thứ nhất là con đường của các bậc tu hành đắc đạo, các bậc thiền giả cao cấp, những yogi bậc thầy, những nhân vật có sứ mệnh đặc biệt,… Những vị này có thể thoát xác, đạt tới những cảnh giới khác, tức là thoát ra bên ngoài thế giới ý thức của con người, do đó chứng ngộ được những sự thật mà người bình thường không thể biết. Sự chứng ngộ này chính là những “nhận thức chủ quan” mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đề cập đến. Tuy nhiên, tôi cho rằng những nhận thức chủ quan này khó có thể chia sẻ với khoa học, vì bản chất của khoa học chỉ thừa nhận những tri thức khách quan.

Con đường thứ hai chính là con đường Gödel đã nêu lên ─ con đường dùng triết học chính xác, dựa trên một hệ tiên đề được thừa nhận, từ đó suy ra những hệ quả logic tất yếu. Nhưng để triết học này có thể vượt ra ngoài thế giới ý thức của con người thì hệ tiên đề phải chứa đựng những niềm tin vượt ra ngoài thế giới ý thức của con người. Đó là lý do Hệ tiên đề về ý thức của sự sống do tôi nêu lên ở mục 5 chứa đựng những niềm tin vượt ra bên ngoài ý thức thông thường của con người, cụ thể là niềm tin vào sự tồn tại của Trung Tâm Ý Thức trong vũ trụ (như Planck, Tesla đã tin).

Với Hệ tiên đề đó, cùng với lý thuyết thông tin và khoa học computer, chúng ta có thể xây dựng nên một Lý thuyết về Ý thức của Sự sống rất phong phú.

 

Sydney, PVHg 25/07/2017

 

CHÚ THÍCH

[1] “The Most Human Human”, Brian Christian, Chương 5, trang 107

[2] http://izquotes.com/quote/259516

[3] http://techstory.in/max-planck/

[4] “Phương trình của Chúa” (Câu chuyện về Phương trình thâu tóm cả vũ trụ), Amir Aczel, bản dịch của Phạm Việt Hưng, NXB Trẻ 2004. Trên mạng: https://viethungpham.com/2012/11/30/phuong-trinh-cua-chua-gods-equation-sach-cua-amir-d-aczel/

[5] “Thế giới như tôi thấy”, Albert Einstein, bản dịch của Đinh Bá Anh, Nguyễn Vũ Hảo, Trần Tiễn Cao Đăng, NXB Tri Thức 2005, trang 20.

[6] Nguyên văn: “The intuitive mind is a sacred gift and the rational mind is a faithful servant. We have created a society that honors the servant and has forgotten the gift”.

[7] http://www.consciousazine.com/neuro-science-mania-man.html

[8] Xem “Nicola Tesla, Một Siêu Nhân” https://viethungpham.com/2016/07/13/nicola-tesla-a-super-man-nicola-tesla-mot-sieu-nhan/

[9] https://www.brainyquote.com/quotes/authors/n/nikola_tesla.html

[10] http://kevincarmody.com/math/goedel.html

[11] https://viethungpham.com/2016/07/13/nicola-tesla-a-super-man-nicola-tesla-mot-sieu-nhan/

[12] “Gödel chứng minh Chúa hiện hữu” https://viethungpham.com/2014/09/17/godel-chung-minh-chua-hien-huu-godel-proved-that-god-exists/

[13] http://www.goodreads.com/quotes/325387-consciousness-cannot-be-accounted-for-in-physical-terms-for-consciousness

[14] http://www.azquotes.com/quote/1396822

Share – Consciousness: A Non-Material Reality / Ý thức: Một Hiện thực Phi-Vật chất — PhamVietHung’s Home

In 2014, a group of leading scientists in the world published a Manifesto recognizing the existence of consciousness as a non-material reality which is independent of matter, despite its close relationship with the material world. The Manifesto suggested that it’s the time for science to change its worldview to go beyond the limits of materialistic […]

via Consciousness: A Non-Material Reality / Ý thức: Một Hiện thực Phi-Vật chất — PhamVietHung’s Home

In 2014, a group of leading scientists in the world published a Manifesto recognizing the existence of consciousness as a non-material reality which is independent of matter, despite its close relationship with the material world. The Manifesto suggested that it’s the time for science to change its worldview to go beyond the limits of materialistic science…

Năm 2014, một nhóm các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới đã ra Tuyên Ngôn thừa nhận sự tồn tại của ý thức như một hiện thực phi vật chất, tồn tại độc lập với vật chất, mặc dù có quan hệ chặt chẽ với thế giới vật chất. Tuyên Ngôn này cho rằng đã đến lúc khoa học phải thay đổi thế giới quan của nó để vượt qua giới hạn của nền khoa học duy vật…

Nguyên văn tên gọi của bản tuyên ngôn là “Manifesto for a Post-Materialist Science” (Tuyên ngôn vì một nền Khoa học Hậu Duy vật). Sau đây là bản dịch của PVHg’s Home:

1. Thế giới quan của khoa học hiện đại chủ yếu dựa trên các giả định có liên quan chặt chẽ với vật lý cổ điển. Chủ nghĩa duy vật – tư tưởng cho rằng vật chất là hiện thực duy nhất – là một trong những giả định này. Một giả định liên quan (với chủ nghĩa đó) là quy giản luận (reductionism) – quan niệm cho rằng cái phức tạp có thể hiểu được bằng cách quy giản chúng thành tương tác của các thành phần đơn giản hơn hoặc cơ bản hơn, chẳng hạn như các hạt vật chất nhỏ bé.

2. Trong thế kỷ 19, những giả định này co hẹp lại, biến thành các giáo điều, và kết hợp thành một hệ thống niềm tin mang tính ý thức hệ được gọi là “chủ nghĩa duy vật khoa học” (scientific materialism). Hệ thống niềm tin này ngụ ý rằng tinh thần chẳng là cái gì khác hoạt động thể chất của bộ não, và rằng tư tưởng của chúng ta không thể có ảnh hưởng gì đến bộ não và cơ thể của chúng ta, đến hành động của chúng ta và thế giới vật chất.

3. Hệ tư tưởng của chủ nghĩa duy vật khoa học đã trở thành ý thức hệ thống trị trong giới học thuật trong thế kỷ 20. Ý thức hệ ấy khuynh đảo đến nỗi đa số các nhà khoa học bắt đầu tin rằng nó dựa trên bằng chứng thực nghiệm đã được xác minh đâu ra đấy, và nó đại diện cho quan điểm duy nhất hợp lý về thế giới.

4. Các phương pháp khoa học dựa trên triết học duy vật đã thành công lớn không chỉ trong việc nâng cao hiểu biết của chúng ta về tự nhiên mà còn mang lại sự kiểm soát và tự do lớn hơn thông qua những tiến bộ trong công nghệ.

5. Tuy nhiên, sự thống trị gần như tuyệt đối của chủ nghĩa duy vật trong thế giới học thuật đã làm thui chột khoa học và cản trở sự phát triển việc nghiên cứu khoa học về tinh thần và tâm linh. Niềm tin vào hệ tư tưởng này như một cái khung độc nhất giải thích hiện thực đã buộc các nhà khoa học phải bỏ qua chiều trải nghiệm chủ quan của con người. Điều này đã dẫn đến một sự hiểu biết méo mó và nghèo nàn một cách nghiêm trọng về bản thân chúng ta và về vị trí của con người trong tự nhiên.

6. Trước hết và trên hết, khoa học là một phương pháp không giáo điều, tư duy mở để thu nhận kiến thức về tự nhiên thông qua quan sát, khảo sát thực nghiệm, và đưa ra sự giải thích lý thuyết về các hiện tượng. Phương pháp luận của nó không đồng nghĩa với chủ nghĩa duy vật và không nên gắn với bất kỳ niềm tin, giáo điều hay ý thức hệ nào.

7. Cuối thế kỷ 19, các nhà vật lý khám phá ra những hiện tượng thực tế không thể giải thích được bằng vật lý cổ điển. Điều này dẫn đến sự phát triển trong những năm 1920 và đầu những năm 1930 một ngành vật lý mới mang tính cách mạng được gọi là cơ học lượng tử. Cơ học lượng tử đã nêu lên những câu hỏi nghi vấn về nền tảng vật chất của thế giới bằng cách chỉ ra rằng nguyên tử và các hạt hạ nguyên tử không thực sự là các vật thể rắn – chúng không tồn tại một cách xác định tại những vị trí không gian xác định và thời gian xác định. Quan trọng nhất, cơ học lượng tử đã dứt khoát đưa ý thức vào cấu trúc nhận thức cơ bản, vì người ta đã khám phá ra rằng các hạt được quan sát và người quan sát – nhà vật lý và phương pháp được sử dụng để quan sát – có liên hệ với nhau. Theo một giải thích của cơ học lượng tử, hiện tượng này cho thấy ý thức của người quan sát đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại của các sự kiện vật lý được quan sát, và các sự kiện tinh thần có thể ảnh hưởng đến thế giới vật lý. Kết quả của những thí nghiệm gần đây đã ủng hộ sự giải thích này. Những kết quả này cho thấy thế giới vật chất không còn là thành phần chủ yếu hoặc duy nhất của thế giới hiện thực nữa, và thế giới ấy không thể hiểu được một cách đầy đủ nếu không tham chiếu đến ý thức.

8. Các nghiên cứu tâm lý học đã chỉ ra rằng, hoạt động tinh thần có ý thức có thể có ảnh hưởng nhân quả đến hành vi, và rằng giá trị về mặt giải thích và dự đoán của các yếu tố “agentic” như niềm tin, mục đích, mong muốn và kỳ vọng là rất cao. Hơn nữa, nghiên cứu trong bộ môn tâm lý – thần kinh – miễn dịch học (psychoneuroimmunology) đã chỉ ra rằng tư tưởng và cảm xúc có thể ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động của các hệ thống sinh lý học (thí dụ hệ miễn dịch, hệ nội tiết, hệ tim mạch). Mặt khác, những nghiên cứu mô tả thần kinh của việc tự điều chỉnh cảm xúc, tâm lý trị liệu và hiệu ứng giả dược chứng minh rằng các sự kiện tâm thần ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của bộ não.

9. Những nghiên cứu về cái gọi là “hiện tượng cận tâm lý” (psi phenomena) chỉ ra rằng đôi khi chúng ta có thể nhận được thông tin có ý nghĩa mà không thông qua giác quan thông thường, và những thông tin này vượt qua những giới hạn của thời gian và không gian quen thuộc. Hơn nữa, nghiên cứu cận tâm lý chứng minh rằng tinh thần có thể tạo ra ảnh hưởng từ xa lên các thiết bị vật lý và các tổ chức sống (bao gồm cả sinh vật không phải con người). Nghiên cứu cận tâm lý cũng cho thấy suy nghĩ của những người xa cách nhau vẫn có thể có mối liên hệ bất định xứ (nonlocal) với nhau – mối liên hệ từ xa được giả thiết là không thông qua môi trường trung gian (không liên kết với bất kỳ tín hiệu năng lượng nào đã biết), không bị suy giảm (không suy giảm khi khoảng cách tăng), và tức thời (xuất hiện đồng thời). Những sự kiện này phổ biến đến nỗi chúng không thể được coi là dị thường hay ngoại lệ đối với các định luật tự nhiên, mà cho thấy cần có một khung giải thích rộng hơn chủ nghĩa duy vật.

10. Hoạt động tinh thần có ý thức có thể trải nghiệm được trong cái chết lâm sàng khi tim ngừng đập (đây là cái được gọi là “trải nghiệm cận tử“). Một số người từng có trải nghiệm cận tử đã báo cáo về sự nhận thức ngoài-cơ-thể (những nhận thức có thể chứng minh được là khớp với thực tế) xảy ra trong khi tim ngừng hoạt động. Người có trải nghiệm cận tử cũng báo cáo những kinh nghiệm tâm linh sâu sắc trong quá trình trải nghiệm cận tử sau khi tim ngừng đập. Đáng chú ý là hoạt động điện của não ngừng lại sau khi tim ngừng đập vài giây.

11. Các thí nghiệm được kiểm soát trong phòng thí nghiệm đã chứng minh rõ ràng rằng những nhà ngoại cảm điêu luyện (những người tuyên bố họ có thể liên lạc với ý nghĩ của những người đã mất) đôi khi có thể nhận được thông tin có độ chính xác cao về những cá nhân đã mất. Điều này tiếp tục ủng hộ kết luận cho rằng ý thức có thể tồn tại độc lập với bộ não.

12. Một số nhà khoa học và triết học có khuynh hướng duy vật chủ nghĩa từ chối thừa nhận những hiện tượng này bởi vì chúng không phù hợp với quan niệm cố hữu của họ về thế giới. Từ chối việc nghiên cứu theo tinh thần hậu duy vật về tự nhiên, hoặc từ chối công bố những khám phá khoa học mạnh mẽ ủng hộ một khung nhận thức hậu duy vật là phản lại tinh thần thực sự của nghiên cứu khoa học, trong đó dữ liệu thực nghiệm luôn luôn phải được xử lý một cách thỏa đáng. Dữ liệu không phù hợp với lý thuyết và niềm tin ưa thích không thể bị loại bỏ chỉ vì tiên nghiệm. Sự loại bỏ như thế là do hệ tư tưởng chứ không phải khoa học.

13. Điều quan trọng là phải nhận thấy rằng hiện tượng cận tâm lý, trải nghiệm cận tử khi tim ngừng đập, và các chứng cứ có thể lặp lại từ những nhà ngoại cảm đáng tin cậy được nghiên cứu, chỉ trở nên bất thường khi bị nhìn qua thấu kính duy vật.

14. Hơn nữa, các lý thuyết duy vật thất bại trong việc làm sáng tỏ cách bộ não tạo ra ý thức, và chúng không thể giải thích các bằng chứng thực nghiệm được đề cập đến trong bản tuyên ngôn này. Thất bại này nói với chúng ta rằng đã đến lúc cần phải giải phóng chúng ta ra khỏi sự hạn chế và sự mù quáng của tư tưởng duy vật chủ nghĩa cổ lỗ sĩ, để mở rộng nhận thức của chúng ta về thế giới tự nhiên và trang bị hệ hình hậu duy vật.

15. Theo mô hình hậu duy vật:

a) Ý thức đại diện cho một khía cạnh của hiện thực và nó cũng đóng vai trò cơ bản như thế giới vật chất. Ý thức là nền tảng của vũ trụ, nghĩa là nó không thể bắt nguồn từ vật chất và không thể quy giản về bất cứ cái gì cơ bản hơn.

b) Có một sự kết nối sâu sắc giữa tinh thần với thế giới vật chất.

c) Ý thức (ý chí/ ý định) có thể ảnh hưởng đến trạng thái của thế giới vật chất, và nó hoạt động theo cách bất định xứ, nghĩa là không bị giới hạn bởi các vị trí cụ thể trong không gian như bộ não và cơ thể, và cũng không bị giới hạn bởi thời điểm cụ thể của thời gian, chẳng hạn như hiện tại. Vì ý thức có thể ảnh hưởng một cách bất định xứ đến thế giới vật chất, nên các ý định, cảm xúc và mong muốn của một người làm thí nghiệm có thể không hoàn toàn độc lập với kết quả của thí nghiệm, ngay cả trong những thiết kế được kiểm soát và không để lộ mục đích cho người làm thí nghiệm biết[1].

d) Ý thức dường như không bị trói buộc, và có thể kết hợp thành một thể hợp nhất – Một Tư Tưởng bao gồm những suy nghĩ cá biệt và đơn lẻ.

e) Các trải nghiệm cận tử khi tim ngừng hoạt động cho thấy bộ não vận hành như một chiếc máy thu phát các hoạt động tinh thần, tức là ý thức có thể hoạt động thông qua bộ não, nhưng không do bộ não tạo ra. Kết hợp với bằng chứng từ các nhà ngoại cảm, trải nghiệm cận tử xảy ra khi tim ngừng hoạt động cho thấy ý thức tiếp tục tồn tại sau cái chết thể xác, và cho thấy sự tồn tại của những tầng hiện thực phi vật chất khác.

f) Các nhà khoa học không nên né tránh việc nghiên cứu tâm linh và nghiên cứu những trải nghiệm tâm linh, bởi vì những trải nghiệm này thể hiện một khía cạnh chủ yếu trong các trải nghiệm của con người.

16. Khoa học hậu duy vật không loại bỏ các quan sát thực nghiệm và giá trị lớn lao của những thành tựu khoa học đã đạt được từ trước tới nay. Nó tìm cách mở rộng khả năng của con người nhằm hiểu biết những điều kỳ diệu của tự nhiên đầy đủ hơn, và nó đang trong quá trình tái khám phá tầm quan trọng của tư tưởng và tâm linh như một thành phần cốt lõi của vũ trụ. Chủ nghĩa Hậu duy vật bao gồm cả vật chất, cái được xem như một thành phần cơ bản của vũ trụ.

17. Mô hình hậu duy vật có những hàm ý rất sâu rộng. Nó làm thay đổi căn bản cách chúng ta nhìn nhận bản thân, trả lại cho chúng ta phẩm giá và năng lực với tư cách là con người và nhà khoa học. Mô hình này cổ vũ những giá trị tích cực như lòng trắc ẩn, sự kính trọng, và sự hoà thuận. Bằng cách nhấn mạnh mối liên hệ sâu sắc giữa bản thân chúng ta và tự nhiên nói chung, mô hình hậu duy vật cũng thúc đẩy nhận thức về môi trường và bảo tồn bầu sinh quyển của chúng ta. Ngoài ra nó cũng không phải là điều gì mới, mà chỉ là cái đã bị lãng quên trong 400 năm qua, rằng một sự hiểu biết về một yếu tố siêu vật chất nằm trong sự sống[2] có thể là hòn đá tảng của sức khỏe và thể trạng, vì nó đã được gìn giữ và bảo tồn trong các phương pháp rèn luyện tinh thần – thể xác – tâm linh cổ xưa, trong các truyền thống tôn giáo và những lối tiếp cận thiền mặc.

18. Bước nhảy từ khoa học duy vật sang khoa học hậu duy vật có thể có ý nghĩa quan trọng sống còn đối với sự phát triển của nền văn minh nhân loại. Nó có thể còn quan trọng hơn sự chuyển đổi từ thuyết địa tâm sang thuyết nhật tâm “.

Các tác giả của Tuyên ngôn:

Mario Beauregard, PhD, Neuroscience of Consciousness, Laboratory for Advances in Consciousness and Health, Dept of Psychology, University of Arizona, USA, Author of The Spiritual Brain and Brain Wars

Larry Dossey, MD, Internal Medicine, Independent Scholar and Executive Editor, Explore, Author of Recovering the Soul, USA

Lisa Jane Miller, PhD, Clinical Psychology, Editor, Oxford Handbook of Psychology & Spirituality, Editor-in-Chief, Spirituality in Clinical Practice, Professor & Director, Spirituality & Mind Body Institute, Columbia University, USA

Alexander Moreira-Almeida, MD, PhD, Psychiatry, Associate Professor, Universidade Federal de Juiz de For a, Founder & Director, Research Center in Spirituality and Health, Brazil

Marilyn Schlitz, PhD, Social Anthropology,

Founder & CEO, Worldview Enterprises, President Emeritus & Senior Fellow, Institute of Noetic Sciences, USA

Gary Schwartz, PhD, Psychology, Neurology, Psychiatry & Surgery, Professor, University of Arizona, Director, Laboratory for Advances in Consciousness and Health, USA

Rupert Sheldrake, PhD, Biochemistry, Developmental Biology, Consciousness Studies, Fellow, Institute of Noetic Sciences; Fellow, Schumacher College, Author of A New Science of Life, UK

Charles T Tart, PhD, Transpersonal Psychology, Core Faculty Member, Sofia University, Professor Emeritus of Psychology, University of California, USA

Ngoài ra còn có hơn 300 nhà khoa học, giáo sư, bác sĩ y khoa và các nhà lãnh đạo tư tưởng tuyên bố nhất trí với bản Tuyên Ngôn này.


[1] Dịch ý từ “blinded experimental designs”.

[2] Lived transmaterial

Share – Ai vụng về cũng tự làm được món gà nướng kiểu Tây Bắc ngon tuyệt ở nhà trong 30 phút — Ngon 24h

30 phút xong món gà nướng mắc khén tại nhà Mát trời chị Thu Hồng (phố Lê Trọng Tấn, Hà Nội) làm món gà nướng dân tộc thơm phức, mặn mà cho cả nhà ăn với cơm trắng khiến mọi người vừa ăn vừa suýt xoa khen ngon. Món gà nướng dân tộc này vốn […]

via Ai vụng về cũng tự làm được món gà nướng kiểu Tây Bắc ngon tuyệt ở nhà trong 30 phút — Ngon 24h

30 phút xong món gà nướng mắc khén tại nhà

Mát trời chị Thu Hồng (phố Lê Trọng Tấn, Hà Nội) làm món gà nướng dân tộc thơm phức, mặn mà cho cả nhà ăn với cơm trắng khiến mọi người vừa ăn vừa suýt xoa khen ngon. Món gà nướng dân tộc này vốn là món gà nướng mắc khén của đồng bào Tây Bắc, được chị Thu Hồng “biến tấu” nướng trong nồi nướng chỉ 30 phút là xong.

Làm món gà nướng mắc khén không khó, lưu ý là muốn thơm ngon cần có hạt mắc khén rang để tẩm ướp (không dùng hạt tiêu), kết hợp các loại gia vị, rau thơm khiến món ăn tuyệt ngon, ăn một lần nhớ mãi.

Ai vụng về cũng tự làm được món gà nướng kiểu Tây Bắc ngon tuyệt ở nhà trong 30 phút - Ảnh 1.

Món gà nướng mắc khén bằng nồi chiên không dầu chỉ làm trong 30 phút. Ảnh minh họa.

Chọn gà là việc đầu tiên, nên mua con gà sao cho vừa kích cỡ nồi. Sơ chế gà xong mổ bụng, xát muối trong bụng và toàn thân rồi rửa sạch.

– Cho hạt mắc khén khô, mắc mật khô và vài cánh hồi khô, hạt dổi khô (các cửa hàng bán hàng khô lớn đều có), rang qua cho thơm rồi tán bột. Lưu ý là phải có mắc khén mới ra vị gà nướng Tây Bắc (tùy khẩu vị mà có người thích cho thêm 2 củ sả, gừng, ớt 1 quả, muối).

– Trộn một thìa rượu gừng, một thìa bột nêm với mấy thứ bột hỗn hợp trên rồi xát đều trong ngoài con gà. Để gà ngấm gia vị khoảng 30 – 60 phút.

Khi nào nấu cơm thì cho gà đã ướp vào nồi chiên không dầu, chú ý đặt ngửa bụng gà lên. Đặt nồi nướng ở 170 độ, trong 10 phút.

– Cho 1 thìa đường, 1 thìa nước và chút bột nghệ vào bát khuấy đều cho tan. Khi nồi ngừng hoạt động thì lấy hỗn hợp này phết đều lên phần bụng gà và da thịt gà phía trên. Nướng thêm 5 phút nữa.

– Khi nồi ngừng hoạt động thì lật phần lưng gà lên, phết nốt chỗ dung dịch nghệ đường lên phần da gà ở đó và bật nướng tiếp 10 phút nữa. Nếu gà quá béo, chưa đủ vàng khi kiểm tra dưới bụng thì nướng thêm 5 phút nữa.

Bỏ gà ra để nguội thì chặt miếng vừa ăn. Chấm thịt gà nướng với muối chanh ớt và nước chắt từ nồi nướng sẽ rất thơm.

Ai vụng về cũng có thể tự làm được món gà nướng mắc khén ngon tuyệt tại nhà chỉ 30 phút. Trong thời gian nướng gà vẫn tranh thủ nấu cơm, canh, xào và cắt dưa chuột ăn ghém. Món này không tốn cơm, da gà giòn, thơm phức, ăn không sợ béo.

Ai vụng về cũng tự làm được món gà nướng kiểu Tây Bắc ngon tuyệt ở nhà trong 30 phút - Ảnh 2.

Gà nướng than hồng là thơm ngon nhất. Ảnh minh họa.

Gà nướng Tây Bắc thơm phức trên than hồng

Món gà nướng mắc khén trên than hồng (tiếng Thái gọi là Cáy Pỉnh), với 2 cách nướng như sau:

Nướng giòn: Gà nướng kỹ trên than hồng đều lửa, da vàng rộm, nhưng ăn khô giòn, nhanh chán, không ngọt thịt.

Nướng chín tới: Da gà khô ngoài, nhưng thịt bên trong mềm và ướt, ngon ngọt.

Chọn con gà khoảng 1,5 – 1,8 kg.

2 củ sả, gừng đập giập. Hạt mắc khén rang, giã nhỏ (bắt buộc phải có mới ra vị gà nướng Tây Bắc), ớt 1 quả, muối, gia vị.

Sơ chế, tẩy mùi gà xong thì tẩm ướp các gia vị. Đập giập, thái nhỏ sả, gừng. Ớt nướng qua than hồng cho hơi héo để bớt mùi hăng. Sau đó trộn đều các gia vị, một nửa gia vị ướp vào bụng gà, còn loại ướp ngoài da và để 15 phút cho ngấm.

Ai vụng về cũng tự làm được món gà nướng kiểu Tây Bắc ngon tuyệt ở nhà trong 30 phút - Ảnh 3.

Món gà nướng Tây Bắc. Ảnh minh họa.

Nướng gà tương đối khó, nếu nướng quá lửa thì thịt khô, rất khó ăn. Lửa to quá thì nhanh cháy da gà, vì vậy cần nướng ở nhiệt độ vừa phải. 20 phút đầu hơ gà cao trên than lửa nhỏ để làm thịt gà khô se bớt.

20 phút sau thì hạ thấp con gà sát than, tăng nhiệt độ bằng cách quạt hay cho thêm than. Khi thấy da gà vàng sem sém thì từ lúc này phải lật gà liên tục kẻo cháy. Khi thấy mỡ gà rỏ xuống nhiều thì dùng mũi dao chích vào đùi gà và những chỗ nhiều thịt để kiểm tra độ chín.

Món gà nướng trên than hồng ngon nhất khi nướng chín tới (khoảng 20-30 phút), nướng quá là thịt bị khô, mất vị mềm ngọt. Nhà có trẻ nhỏ, người già thì chỉ cần nướng chín vừa mới dễ ăn, thịt mới ngọt ngon, và quan trọng là phải ăn ngay khi vừa lấy ra khỏi than hồng, còn nóng hổi mùi thơm mắc khén, gia vị.

Ai vụng về cũng tự làm được món gà nướng kiểu Tây Bắc ngon tuyệt ở nhà trong 30 phút - Ảnh 4.

Gà bọc lá chuối chuẩn bị đem nướng. Ảnh minh họa.

 

Gà bọc lá dong/ lá chuối nướng

Theo đầu bếp của hoabanfood, món gà nướng bọc lá dong là ngon nhất, nhưng nên chọn gà ri, gà thả rông thịt mới chắc. Không nên nướng gà Tam Hoàng, gà công nghiệp vì nhiều mỡ, thịt bèo nhèo, ăn bã, không ngon.

Chọn con gà từ 1.3-1,5 kg. Không chọn gà to quá vì khó nướng, mà gà nhỏ quá thì lắm xương.

Lá dong hoặc lá chuối tươi, không có thì dùng đất sét, giấy bạc.

Chuẩn bị tẩm, ướp gà như trên. Thêm các loại rau gia vị gồm: Lá bạc hà, mùi tàu, thìa là.

Bột canh hoặc muối: 2 thìa

Gà mổ moi, làm sạch, để ráo nước.

Gừng, sả đập giập, rau thơm rửa sạch.

Trộn 1/2 bột mắc khén với gia vị, rau thơm nhét vào bụng gà. Còn lại xát đều thân gà, rồi gói kín bằng lá dong/ lá chuối/ giấy bạc. Nên hơ lá qua lửa trước khi gói để lá mềm, ít bị rách.

Ai vụng về cũng tự làm được món gà nướng kiểu Tây Bắc ngon tuyệt ở nhà trong 30 phút - Ảnh 5.

Gà bọc đất sét chuẩn bị đem nướng. Ảnh minh họa.

– Nếu dùng đất sét phải nhào nhuyễn đất rồi đắp kín thân gà.

– Nếu dùng giấy bạc cần gói kín con gà bằng 2 lượt giấy (gói bằng giấy bạc có thể dùng lò nướng điện, nhưng không ngon bằng nướng than hồng).

Đốt lửa đượm, bỏ nhiều than rồi đặt gói gà vào nướng nhỏ lửa và đều trên than hồng. Cách này cần nướng 90 phút thịt mới chín. Tùy khẩu vị mà nướng lâu (khô giòn), hoặc nướng nhanh (thịt mềm và ướt).

Nướng xong vẫn để gà trong lá dong/ lá chuối, giấy bạc để giữ được độ nóng của thịt gà, hơi nước không bốc hơi mất. Khi vào bữa cơm mới chặt/ cắt ra thịt gà vẫn nóng hổi, ăn như vậy mới ngọt thịt. Đồng bào Tây Bắc khi ăn thì mở lớp lá dong/ lá chuối ra là mùi thịt gà quyện gia vị, rau thơm bên trong thơm phức. Nước từ thịt gà tứa ra, khi ăn xé miếng rất ngon.

Hoặc chặt đều ra từng miếng, xếp ra đĩa, bày rau thơm trong bụng gà lên trên. Ăn một miếng thịt gà kèm chút rau thơm… ngon tuyệt.

Ai vụng về cũng tự làm được món gà nướng kiểu Tây Bắc ngon tuyệt ở nhà trong 30 phút - Ảnh 6.

Gà nướng mắc khén chặt thịt ăn không ngon, nhưng đặt cả con vừa xé vừa chấm chẳm chéo thì đúng vị và ngon tuyệt. Ảnh minh họa.

 

Món gà nướng mắc khén bọc lá dong/ lá chuối giữ được vị ngọt, thịt lại mềm hơn. Các loại rau thơm nướng cùng khiến món ăn có hương vị đặc biệt hấp dẫn. Nhưng món gà nướng mà chặt thịt thì ăn không ngon. Hãy đặt cả con lên bàn ăn, ai ăn thì xé thịt vừa chấm với chẳm chéo là đúng vị.

Dù nướng cách nào (nồi nướng, lò nướng…) thì món gà nướng trên than hồng vẫn là ngon nhất. Vì thế dân phượt và các nhóm du lịch lẻ thường vào bản câu cá, rồi mua con gà nướng ăn ngay tại bờ suối, mỗi người xẻ một miếng thịt gà rồi tự nướng trên than hồng ăn ngay khi nóng thì ăn một lần không thể quên.

Ngọc Hà – Thúy Tím

Share – Không phải thịt bò nhưng các món steak này cũng rất đáng để thử và đây là các địa chỉ ở Sài Gòn dành cho bạn — Ngon 24h

Theo như mô tả chung mà rất nhiều người hiểu về steak thì món này được định nghĩa là “một tiếng thịt có dạng dẹt được cắt lát qua các thớ cơ từ cơ thể động vật, có thể còn xương”. Steak có độ dày hơn nhiều miếng thịt thông thường, và được chế biến […]

via Không phải thịt bò nhưng các món steak này cũng rất đáng để thử và đây là các địa chỉ ở Sài Gòn dành cho bạn — Ngon 24h

Theo như mô tả chung mà rất nhiều người hiểu về steak thì món này được định nghĩa là “một tiếng thịt có dạng dẹt được cắt lát qua các thớ cơ từ cơ thể động vật, có thể còn xương”. Steak có độ dày hơn nhiều miếng thịt thông thường, và được chế biến bằng cách nướng, chiên, sauté hoặc quay. Nhiều người cho rằng một miếng steak tốt có thể chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng và hương vị của cả con vật từ ít mỡ, ít xương và thịt nạc.

Theo định nghĩa này thì steak không chỉ giới hạn ở bò mà còn nhiều loại khác. Ở Sài Gòn có những quán bán các món steak khác thịt bò, nếu ngấy steak bò thì bạn hãy thử các loại steak này xem sao!

Steak cá hồi

Nguồn ảnh: Quỳnh Đào, Kathrine Joan.

Steak cá hồi khác với fillet cá hồi. Nếu như fillet là những miếng cá rút xương và da hoàn toàn thì steak bao gồm cả da, cả xương to. Steak cá hồi có kích cỡ to và dày hơn fillet, thường được chế biến bằng cách áp chảo. Cách này giúp cho phần da cá bên ngoài giòn, nhưng vẫn giữ được ít mỡ các giữa da và thịt, khi cắn vào sẽ chảy ra, tạo nên hương vị béo ngậy mà không ngán. Steak cá hồi không dai và dễ ăn, nên kèm với các loại sốt có vị chua thanh nhè nhẹ. Bạn có thể thử món steak cá hồi ở các địa chỉ sau:

– Saigon Steak 123: 123 Lê Lợi, Quận 1.

– Master Beef: SA7-1 Nguyễn Đức Cảnh, Quận 7.

– Sizzlin’ Steak Vietnam: Tầng 3, AEON MALL, số 1 đường số 17A, phường Bình Trị Đông B, Quận Bình Tân.

Steak gà

Nguồn ảnh: Tú, Phùng Huỳnh Diễm, Huỳnh Võ Trân, Kd KỳDuyên.

Gà cũng làm steak được đấy, dù hơi hiếm một chút. Vì con gà có kích cỡ rất nhỏ nên chúng ta thường cắt ra thành từng bộ phận, hoặc xắt nhỏ thành miếng. Trong khi đó steak yêu cầu phải to, dẹt và nguyên miếng nên rất ít ai làm steak gà vì không đủ thịt. Steak gà thường bao gồm thịt từ nhiều bộ phận nên có hình dáng “không bằng phẳng” lắm, bao gồm cả các thớ cơ, ít mỡ và da, thậm chí đôi khi còn có xương, tuy nhiên hương vị lại đa dạng và thường rất béo, có độ ẩm.

Dù hiếm nhưng steak gà cũng được bán ở một vài địa chỉ sau đây:

– Gummy Chicken: 16 Đặng Thị Nhu, Nguyễn Thái Bình, Quận 1.

– Yo! Chicken: 70 Ngô Đức Kế, Bến Nghé, Quận 1.

Steak heo

Nguồn ảnh: Trinh Bread, Thanh Hoàng, Phan Thành Yến.

Có lẽ nhiều người không tin, song steak heo ở nước ngoài có khi cũng phổ biến chẳng thua steak bò. Nhiều nhà hàng steak đều bán steak bò song song với steak thịt heo. Steak heo cũng có vị trí thịt đa dạng chẳng kém bò như sườn heo, thăn heo, thịt cổ heo… Steak heo thường có độ dai, vị thịt đậm, thường ăn kèm các loại sốt đậm đà như sốt BBQ, sốt tiêu đen. Ở Sài Gòn có các chỗ phục vụ steak heo phổ biến sau đây:

– Alfresco’s : 176 Sư Vạn Hạnh, phường 9, Quận 5.

– Bonjour Resto: 195B Hai Bà Trưng, Quận 1.

– Ampm: 44c Bùi Thị Xuân, Quận 1.

– Beefsteak Titi: 300A Lê Văn Sỹ, Phường 1, Quận Tân Bình.

Steak cừu

Nguồn ảnh: Thỏ Rịu Ràng, Hùng.

Steak cừu cũng hiếm như steak gà, nhưng hiếm ở đây không phải vì khó cắt thịt mà là vì thịt cừu tương đối đắt. Ngoài ra thì có nhiều chỗ chế biến không cẩn thận sẽ khiến thịt cừu giữ lại vị tanh. Tuy nhiên nếu biết cách nấu thì thịt cừu mềm, mọng nước và hấp dẫn chẳng kém gì thịt bò cả. Steak cừu có hai loại phổ biến là thịt chân cừu và thịt vai cừu. Trong đó, chân cừu nên được làm chín tới (còn hồng bên trong), có thể áp chảo hoặc chiên. Thịt vai cừu sẽ có vị béo hơn một chút, nên được chế biến bằng cách nướng hoặc áp chảo.

Một số địa chỉ có bán steak cừu cho bạn:

– Beefsteak Titi: 29A Cao Thắng, phường 2, Quận 3.

– Bonjour Resto: 178/8 Pasteur, Phường Bến Nghé, Quận 1.

– Steak Box: 35 Trần Quốc Toản, Quận 3.

Share – Đừng nói chuyện thời tiết làm gì, chỉ với 8 câu hỏi đơn giản đến từ Harvard, bạn có thể làm quen với bất cứ ai! — Ngon 24h

“Vậy, bạn làm gì?” “Bạn sống ở đâu?” “Làm thế nào bạn biết [Tên của chủ nhà]?” là một số loại câu hỏi yêu thích nhất của tôi tuy vậy chúng không gợi ra câu trả lời thú vị. Nếu bạn muốn làm quen với ai đó, bạn sẽ phải hỏi các câu hỏi khác […]

via Đừng nói chuyện thời tiết làm gì, chỉ với 8 câu hỏi đơn giản đến từ Harvard, bạn có thể làm quen với bất cứ ai! — Ngon 24h

“Vậy, bạn làm gì?” “Bạn sống ở đâu?” “Làm thế nào bạn biết [Tên của chủ nhà]?” là một số loại câu hỏi yêu thích nhất của tôi tuy vậy chúng không gợi ra câu trả lời thú vị. Nếu bạn muốn làm quen với ai đó, bạn sẽ phải hỏi các câu hỏi khác hay hơn như này. Nếu bạn dám mạo hiểm bị gọi là thô lỗ bằng cách là người chủ động khơi những câu hỏi, người lạ chỉ có một cảm giác là vui vẻ trả lời.

Tạp chí Harvard Business Review hiện đã xuất bản 8 câu hỏi tuyệt vời để bạn áp dụng tại bất kỳ loại sự kiện kết nối nào. Vì vậy, lần tới nếu bạn tham gia một sự kiện kết nối mọi người và bạn cảm thấy ngán ngẩm khi hỏi những câu hỏi nhàm chán nhưng lại sợ hỏi những câu hỏi sâu sắc, bạn có thể bắt tay ngay để tạo ra nhiều mối quan hệ. Hơn nữa, Harvard đã chứng thực điều này. Ai biết được, thay vì chỉ đơn giản là biết thêm một người, bạn thực sự có thể kết bạn mới. Và điều đó, theo Harvard Business Review, là toàn bộ vấn đề. “Kết quả nghiên cứu từ thế giới của các nhà khoa học và tâm lý học cho thấy chúng ta có xu hướng thích và tìm kiếm các mối quan hệ nơi có nhiều hơn một bối cảnh để kết nối với người khác.”

Điều gì đang làm bạn phấn khích? Tôi thích câu hỏi này vì câu trả lời có thể thân mật như thể bạn muốn tỏ ra thân mật. Bạn có thể chia sẻ sự phấn khích của bạn về kỳ nghỉ sắp tới, về chuyến du lịch, cuộc thi khiêu vũ hay cuộc thi bóng đá của con bạn. Hoặc bạn có thể nói về một cuốn sách bạn đang đọc hay một kinh nghiệm sâu sắc bạn vừa trải qua.

Bạn đang mong chờ điều gì? Có điều gì đó để mong đợi là những gì mang lại cho chúng ta niềm vui trong cuộc sống. Cho dù đó là một kỳ nghỉ theo kế hoạch, một điều gì đó trong cuộc sống công việc hoặc một cột mốc cá nhân mà bạn chọn để chia sẻ về vấn đề quan trọng. Tìm hiểu về niềm vui của ai đó là một cách tuyệt vời để hiểu rõ hơn về họ. Nếu họ nói rằng họ không mong đợi bất cứ điều gì, bạn có thể muốn coi đây là một gợi ý để tiếp tục cuộc trò chuyện.

Trong năm nay, điều tuyệt vời đến với bạn là gì? Một câu hỏi tuyệt vời, mới mẻ, kết thúc mở, tương tự như một số câu hỏi trước đó. Nhưng thay vì hỏi về niềm vui trong tương lai, câu hỏi này gợi ra các niềm vui đã có. Đôi khi, những sự kiện khó khăn nhất mang lại sự phát triển và học hỏi nhiều nhất.. Do vậy, có thể tìm được việc mới hoặc khỏi một căn bệnh có thể là điều tốt nhất xảy ra cả năm.

Đừng nói chuyện thời tiết làm gì, chỉ với 8 câu hỏi đơn giản đến từ Harvard, bạn có thể làm quen với bất cứ ai! - Ảnh 1.

Bạn lớn lên ở đâu? Câu hỏi này nhắc nhở tôi về tính hữu ích của câu cửa miệng “Tôi rất tò mò về …” Về cơ bản, điều này là một lời đề nghị, yêu cầu người lạ chia sẻ câu chuyện cuộc sống của họ, nhiều hoặc ít thì tuỳ vào họ. Tuy nhiên, bạn có thể sửa câu này thành “Tôi rất tò mò, bạn nghĩ bạn trưởng thành khi nào?”

Bạn thường làm gì để giải trí? Trừ khi bạn đang hỏi một họa sĩ, một nhà thơ, một ca sĩ, một vũ công hoặc một doanh nhân kỳ quặc, hầu hết công việc của mọi người không làm cho họ vui vẻ. Vì vậy, câu hỏi này đưa người đối diện bạn đến sườn dốc trượt tuyết, sân golf, bãi biển hoặc đại dương nơi họ có quãng thời gian vui vẻ nhất.

Siêu anh hùng yêu thích của bạn là ai? Tôi chắc chắn rằng nếu bạn hiểu được sự khác biệt giữa người yêu Batman và người hâm mộ Wonder Woman, thì bạn sẽ có cái nhìn sâu sắc về vấn đề này. Tuy nhiên, tôi phải thú nhận điều này: Tôi không thích siêu anh hùng nào hết, vì tôi không xem phim siêu anh hùng. Vậy thì cuối cùng, bạn có thể (nếu bạn muốn) sửa thành câu ai là nhân vật hư cấu mà bạn yêu thích.

Bạn có làm công việc từ thiện nào không? Bạn có thể đổi nó thành Nếu bạn phải chọn một tổ chức để làm từ thiện, bạn chọn tổ chức nào? Đây là câu hỏi giúp bạn hiểu ngay những gì họ quan tâm nhất, giá trị của họ là gì. Và bạn chắc chắn sẽ có một số điểm chung nào đó.

Đâu là điều tôi nên hiểu rõ nhất về bạn? OK. Đây là một câu khó và không phải ai cũng cảm thấy muốn hỏi (hoặc trả lời) nó. Cũng như tất cả câu hỏi khác, tốt nhất là bạn nên bắt đầu với câu trả lời của chính mình. Nếu bạn cảm thấy khó xử, đừng hỏi nó. Tuy nhiên, nhiều người đang mong muốn nói với bạn rằng họ có một mặt khuất (hoặc những phẩm chất tiềm ẩn) mà ngoại hình hay cách cư xử của họ không nói lên được.

Mai Phương – Theo Nhịp Sống Kinh Tế

Share – Tiền ảo Trung Quốc: Ngân hàng trung ương phát hành, Alibaba và Tencent thúc đẩy, khả năng xử lý giao dịch gấp nhiều lần Libra của Facebook — Ngon 24h

Trung Quốc mong muốn tập hợp các nguồn lực công tư để thúc đẩy đồng tiền ảo mới Cuộc chạy đua tiền ảo của các ông lớn trên thế giới Theo Paul Schulte – cựu Trưởng phòng Chiến lược tài chính toàn cầu của Ngân hàng Xây Dựng Trung Hoa (China Construction Bank – CCB), […]

via Tiền ảo Trung Quốc: Ngân hàng trung ương phát hành, Alibaba và Tencent thúc đẩy, khả năng xử lý giao dịch gấp nhiều lần Libra của Facebook — Ngon 24h

Trung Quốc mong muốn tập hợp các nguồn lực công tư để thúc đẩy đồng tiền ảo mới

Cuộc chạy đua tiền ảo của các ông lớn trên thế giới

Theo Paul Schulte – cựu Trưởng phòng Chiến lược tài chính toàn cầu của Ngân hàng Xây Dựng Trung Hoa (China Construction Bank – CCB), các đại tập đoàn trong nền kinh tế đứng thứ hai thế giới sẽ tham gia dự án tiền ảo gồm: Ngân hàng Xây Dựng Trung Hoa, Ngân hàng Công Thương Trung Hoa (Industrial and Commercial Bank of China – ICBC), Ngân hàng Trung Hoa (Bank of China), Ngân hàng Nông Nghiệp Trung Hoa (Agriculture Bank of China), hai tập đoàn công nghệ lớn nhất Trung Quốc là Alibaba và Tencent, cùng tập đoàn Union Pay.

Một tập đoàn kinh tế lớn của Trung Quốc cũng sẽ tham gia dự án tiền ảo này nhưng tên tuổi của họ vẫn nằm trong vòng bí mật.

Các tập đoàn kinh tế trên đã hợp tác cùng phát triển công nghệ tiền ảo riêng cho Trung Quốc từ năm 2018 và đồng tiền mới có thể phát hành vào tháng 11 năm nay. Danh tính của đồng tiền này cũng chưa được công bố.

Đồng tiền ảo mới sẽ tuân theo một lộ trình vạch sẵn. Các tập đoàn kinh tế chịu trách nhiệm đưa tiền ảo vào lưu thông trong thị trường đại lục, đồng thời đảm bảo sự cân bằng thanh toán giữa đồng Nhân dân tệ và tiền ảo mới.

Chính quyền Trung Quốc mong muốn Alibaba và Tencent thúc đẩy người dân châu Á và Bắc Mỹ sử dụng tiền ảo của Trung Quốc.

Đây là dự án mang tính đối trọng với dự án tiền ảo Libra của Facebook. Đồng tiền ảo thuộc về thế giới tư bản đã thu hút sự hỗ trợ của các ngân hàng trung ương và các công ty như Mastercard và Uber ở Hoa Kỳ, Vodaphone ở Anh và Mercado Pago ở Argentina.

Bên cạnh Libra, vào tháng 8/2019, Thống đốc Ngân hàng Anh là Mark Carney cũng đề xuất ý tưởng về một loại tiền tệ mới do một số ngân hàng trung ương các quốc gia hậu thuẫn để thay thế đồng Đô la Mỹ trong rổ tiền tệ dự trữ toàn cầu.

Đồng tiền ảo mới sẽ tối ưu hơn Libra ?

So với hai loại tiền ảo trên, tiền ảo mới của Trung Quốc không cần hỗ trợ gián tiếp từ thế lực nhà nước, mà ngân hàng trung ương của Trung Quốc sẽ là ngân hàng đầu tiên trên thế giới phát hành tiền ảo.

Trong bài phát biểu ở Diễn đàn Tài chính Trung Quốc 40 (China Finance 40 Forum) ngày 10/8/2019, ông Mu Changchun – Phó Giám đốc bộ phận thanh toán của Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (People’s Bank of China – PBOC) từng tiết lộ về “hệ thống hai tầng” trong quản lý đồng tiền ảo mới ở Trung Quốc.

Theo đó, phía ngân hàng trung ương sẽ kiến tạo và quản lý tiền ảo, còn nhóm đối tác doanh nghiệp sẽ mua lại toàn bộ lượng tiền ảo này và phân phối chúng vào thị trường.

Ngoài việc ngăn chặn các ngân hàng khu vực, giới chuyên gia đánh giá hệ thống hai tầng này được thiết kế để “kiềm chế” các tài sản mã hóa khác và củng cố chủ quyền tiền tệ quốc gia của Trung Quốc.

Chúng đảm bảo ngân hàng trung ương duy trì kiểm soát chính sách tiền tệ, tăng khả năng sử dụng tiền tệ trong thị trường và khuyến khích cạnh tranh giữa các tổ chức nhận tiền điện tử.

Có hai điểm khác biệt quan trọng giữa tiền ảo Trung Quốc và các loại hình tiền ảo khác trên thế giới.

Điểm khác biệt đầu tiên là khả năng xử lý giao dịch. Các ngân hàng của Trung Quốc đã nghiên cứu số lượng giao dịch trên internet ở Trung Quốc trong riêng ngày 11/11 và nhận thấy có hơn 90.000 giao dịch diễn ra mỗi giây.

Như thế, ngay cả đồng Libra cũng không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu giao dịch của người Trung Quốc. Vì vậy, họ quyết định nâng tốc độ xử lý lên. Đồng tiền ảo mới của Trung Quốc có thể xử lý hơn 300.000 giao dịch mỗi giây.

Điểm khác biệt thứ hai là nguồn cung, thay vì sử dụng thuật toán để hạn chế nguồn cung như Bitcoin của Satoshi Nakamoto, đồng tiền ảo mới sẽ được ngân hàng trung ương của Trung Quốc kiểm soát lượng phát hành.

Chính giới nước này hy vọng đồng tiền ảo mới sẽ thay thế tiền xu và ngân phiếu (physical notes) đang lưu hành đồng thời ổn định thị trường tài chính của Trung Quốc vốn đang chịu nhiều bất lợi trong thương chiến Mỹ – Trung.

Ứng Minh – Theo Trí Thức Trẻ/Tổng hợp

Share – Áo quần Slow Fashion, mặc bền hơn mua nhiều — thân tri

Tuấn Thảo / RFI Tiếng Việt Cách đây một thập niên, phong trào Slow Food đã ra đời để chống lại các thức ăn nhanh. Một cách tương tự, xu hướng Slow Fashion (còn được gọi là Sustainable Fashion, Thời trang bền vững) đã trỗi dậy để hạn chế các tác hại […]

via Áo quần Slow Fashion, mặc bền hơn mua nhiều — thân tri

Cách đây một thập niên, phong trào Slow Food đã ra đời để chống lại các thức ăn nhanh. Một cách tương tự, xu hướng Slow Fashion (còn được gọi là Sustainable Fashion, Thời trang bền vững) đã trỗi dậy để hạn chế các tác hại về mặt xã hội và môi trường của ngành công nghiệp dệt may.

Tại nhiều quốc gia trên thế giới, ngành công nghiệp y phục may sẵn thường sản xuất áo quần theo hai mùa xuân-hạ rồi thu-đông. Điều đó đã ít nhiều tạo thói quen nơi người tiêu dùng, họ thường mua sắm những kiểu áo quần hợp thời, mỗi khi có các bộ sưu tập mới. Bằng chứng là vào mùa hè này, theo báo Le Parisien , 58% phụ nữ Pháp vẫn mua thêm một bộ áo tắm mới, cho dù các kiểu áo tắm của các cô các bà vẫn chưa phải là lỗi thời, tâm lý phụ nữ vẫn thích có thêm vài bộ để thay đồ, để diện mỗi khi cần. Vả lại, tại các cửa hàng thời trang phổ thông như Zara, H&M, Mango, Topshop ….. giá áo quần được bán vốn đã mềm, vào mùa đại hạ giá lại càng mềm hơn. Nếu được thì nên mua ngay, vì các kiểu y phục đó không phải lúc nào cũng có, do các cửa hàng thường xuyên thay đổi các bộ sưu tập.

Mức ô nhiễm ngành dệt may cao hơn ngành hàng không

Thuật ngữ “fast fashion” (Thời trang nhanh) dùng để chỉ xu hướng tiêu dùng ấy. Một bên là các công ty phân phối, đặt hàng may sản xuất ở Bangladesh, Maroc hay Thổ Nhĩ Kỳ ….. Các xưởng may sản xuất với tốc độ chóng mặt, các công ty đặt hàng chỉ cần 4 tuần lễ là có ngay các kiểu áo, đem ra bày bán tại cửa hàng phân phối với giá phải chăng. Người tiêu dùng vì thế lại càng thích mua hàng, mua nhiều quần áo mới mà giá lại rẻ. Điều đó dễ tạo ra vòng lẩn quẩn : một khối lượng lớn y phục bị đào thải chỉ sau một thời gian ngắn sử dụng. Xu hướng ‘‘fast fashion’’ liên tục thay đổi và chất lượng của mặt hàng may sẵn cũng không thuộc vào loại “ăn chắc mặc bền”, có thể giữ được trong vòng nhiều năm.

3

Cái giá phải trả cho ngành “fast fashion” chính là những tác hại vô hình đối với người tiêu dùng, nhưng rất rõ nét đối với giới bảo vệ môi trường. Khâu sản xuất và vận chuyển vủa ngành dệt may tạo ra mỗi năm 1,2 tỷ tấn khí gây hiệu ứng nhà kính, tức là còn cao hơn cả lượng khí thải của hai ngành hàng không dân sự và vận chuyển hàng hải gộp lại. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OCDE), lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính tăng chậm mà đều đặn trong ba năm vừa qua.

Các khâu sản xuất và chế biến hàng dệt may có tác động mạnh đến môi trường. Các  chất hóa học độc hại thường được dùng trong khâu sản xuất hàng may mặc, đặc biệt là thuốc nhuộm và thuốc làm bạc màu quần jean (vải denim). Theo báo cáo năm 2018của Cơ quan quản lý Môi trường và Năng lượng (Ademe), kết quả là 20% lượng ô nhiễm các nguồn nước sạch là do quy trình xử lý và nhuộm quần áo may sẵn. Còn theo Quỹ bảo vệ môi trường Ellen McArthur Foundation, ngành dệt may hiện đứng hạng nhì trên thế giới về mặt gây ô nhiễm, chỉ thua có ngành dầu khí.

Tiêu thụ có trách nhiệm : bớt mua sắm quần áo

Các tập đoàn lớn với rất nhiều cửa hàng áo quần trên thế giới như H&M, Gap hay Zara đứng đầu trong việc phân phối các sản phẩm ‘‘thời trang nhanh’’, việc sử dụng các chất hoá học mà không tính đến khâu xử lý cũng như việc gia công và qua đó khuyến khích việc sử dụng nguồn nhân công giá rẻ, tất cả các yếu tố này được khai thác hầu cung cấp quần áo với chi phí rất thấp.

Cho dù hiện nay các thương hiệu này đã dần dần đầu tư vào các dự án sản xuất gọi là ‘‘có trách nhiệm’’ tức là sản xuất áo quần sao cho đảm bảo tiền lương đủ sống cho nhân công, cũng như tránh gây tác hại đến môi trường. Tuy nhiên theo các tổ chức phi chính phủ, việc triển khai các dự án này vẫn còn quá chậm, hơn 6 năm sau thảm kịch sập nhà Rana Plaza tại Dacca, Bangladesh.

4

Thay vì chờ đợi các tập đoàn lớn thay đổi cung cách kinh doanh, sản xuất, xu hướng slow fashion đã trỗi dậy mạnh mẻ trong 5 năm gần đây tại châu Âu. Một số công ty cỡ nhỏ và trung bình đầu tư vào slow fashion, một mặt khuyến khích người tiêu dùng có trách nhiệm hơn khi mua sắm và hạn chế các tác động môi trường ngay từ trước khi đưa vào sản xuất. Đó là trường hợp của cô Julia Faure, đồng sáng lập công ty thời trang Loom ở Paris dành cho phái nam.

Lúc đầu khi chúng tôi thành lập công ty Loom, vấn đề đầu tiên là chất lượng mặt hàng. Bất kể cái giá mà bạn chịu chi ra để mua một bộ áo quần, điều quan trọng mà bạn nên quan tâm là bộ y phục này, bạn sẽ mặc trong bao lâu và áo quần có bền hay không. Những câu hỏi đơn giản ấy những lại vô cùng quan trọng đối với ngành sản xuất áo quần may sẵn. Khi bạn mua một chiếc áo thun với giá 5€ chẳng hạn, bạn có thể biết chắc là để đạt tới một giá thành rẻ như vậy, người ta đã tiết kiệm rất nhiều thứ trong khâu sản xuất, kể cả đồng lương trả cho công nhân, các tác động về mặt môi trường, chưa kể đến chất liệu để chế biến một mặt hàng chất lượng. Khi người ta chịu bán cho bạn mua một chiếc áo thun giá 5€, thì người bán chẳng hề quan tâm nếu không nói là mặc kệ chuyện xử lý các chất thuốc nhuộm. Theo tôi, các tập đoàn lớn có một mô hình kinh doanh khác hẳn với các công ty nhỏ như công ty chúng tôi. Các thương hiệu lớn buộc phải tăng doanh thu thường niên hầu đem lại lợi nhuận cho các cổ đông, và họ khuyến khích khách hàng mua càng nhiều càng tốt, bất kể sản phẩm có bền hay không. Trong khi công ty chúng tôi chú trọng đến chất lượng, chứ không phải là số lượng. Theo tôi, các công ty chuyên về ‘‘thời trang nhanh’’ không thành thật với khách hàng. Liệu họ có dám mặc những gì họ bán cho khách hay không. Điều đó không có gì là chắc chắn cả.

Chỉ có 30% tủ áo quần được sử dụng

Cũng như cô Julia Faure, cô Nermin Kose người Thổ Nhĩ Kỳ đã thành lập công ty Away Denim chuyên sản xuất quần jean nhưng với mục đích hạn chế việc phung phí năng lượng cũng như các tác động về môi trường, vải coton đến từ ngành nông nghiệp sạch, thuốc nhuộm dùng các chất tự nhiên thay vì hóa học và vải jean chỉ được giặt một lần thay vì nhiều lần.

Một số hiệu thời trang châu Âu và Hoa Kỳ đã bắt đầu sản xuất các loại quần jean theo xu hướng thời trang bền vững. Nhờ các công ty này mà ngành sản xuất vải (denim) quần jean đã bắt đầu thay đổi. Thế nhưng, ngành sản xuất hàng dệt may tại Thổ Nhĩ Kỳ lại không quan tâm đúng mức đến việc sản xuất vải (denim) jean sao cho hợp với các tiêu chí bảo vệ môi trường thời nay. Thổ Nhĩ Kỳ hiện đứng hàng thứ ba trên thế giới trên lãnh vực sản xuất quần jean, sau Trung Quốc và Bangladesh. Thổ Nhĩ Kỳ cũng là nước đứng đầu trong việc cung cấp quần jean trên toàn châu Âu, thế nhưng hiện giờ chỉ có ba công ty trên số hàng chục công ty quan tâm đến việc sản xuất vải (denim) jean bền với chất liệu tự nhiên. Trái với các loại vải sợi khác, vải denim dùng để chế biến quần jean phải giặt rất nhiều lần và sau đó phải tẩy bằng cát để làm ‘‘phai màu’’ lớp vải. Quy trình sản xuất này rất tốn kém về mặt năng lượng. Điều đó cũng đã dẫn tới thảm kịch xã hội, nhiều công nhân đã bị nhiễm bụi trong buồng phổi, kỹ thuật này sau đó bị cấm tại Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 2009, nhưng cho tới giờ vẫn tồn tại ở Bangladdesh.

Bên cạnh các công ty, một số người tiêu dùng cũng bắt đầu nhận thức về giá trị của ‘‘slow fashion’’. Trên các mạng xã hội, đã xuất hiện nhiều cộng đồng (đôi khi với hàng chục ngàn thành viên) chủ trương hạn chế mua sắm, tiêu thụ và như vậy hạn chế được lượng rác thải kể cả các loại quần áo không dùng hay không mặc. Cô Mélodie là sinh viên ngành thiết kế thời trang ở Paris và cũng là một trong những chủ trang blog chuyên khuyến khích mọi người chỉ mua sắm những gì thật sự cần thiết :

Cách đơn giản nhất là giảm mức tiêu thụ, bởi vì thật ra chúng ta chỉ dùng khoảng 30% những gì ta có trong tủ áo quần hay trong phòng thay đồ, phần còn lại là những thứ không dùng hay không mặc, chưa kể các loại áo quần ta được biếu tặng nhưng chỉ mặc một lần, do ta cảm thấy không thích hợp. Một người thì không sao nhưng khi hàng triệu người đều làm như vậy thì điều đó dẫn tới những con số khổng lồ. Hàng năm, có tới 40 tỷ bộ áo quần được sản xuất, tương đương với hàng chục ngàn tấn vải. Trong đó một phần lớn không được sử dụng, vứt bỏ hay phải tái xử lý. Do vậy, nhiều thành viên các cộng đồng trên mạng tổ chức các dây chuyền, họ đổi chác với nhau những áo quần họ không mặc hay bán lại với giá tượng trưng, mục tiêu là đem cho người khác những gì ta không cần. Điều đó giúp cho ta ý thức là ta không cần nhiều áo quần và như vậy khi mua áo quần ta có thể mua một cái gì đó bền hơn và giữ được lâu hơn, mục đích của chúng tôi cũng là không hỗ trợ các cửa hàng phổ thông chuyên bán các mặt hàng ‘‘thời trang nhanh’’.

5

Cũng như Mélodie, một số cư dân mạng hưởng ứng phong trào ‘‘slow fashion’’ và chủ trương chỉ mặc đồ cũ và như vậy họ quyết định không mua các loại quần áo mới. Đối với họ, mua quần áo cũ thường là với giá thấp hơn, cũng là một cách để chống lại việc tiêu thụ quá mức. Điều đó giải thích sự thành công gần đây của Vinted một ứng dụng điện thoại do một công ty tại Litva sáng chế, bất cứ ai đều có thể chụp hình và bán lại quần áo cũ. Tuy nhiên về điểm này vẫn còn một số rào cản tâm lý do một số người tiêu dùng vẫn quan niệm rằng : đồ cũ nhất là quần áo thường là ‘‘đồ bẩn’’.

May áo từ các mảnh vải vụn thay vì vứt bỏ

Tại Paris, thương hiệu “Les Récupérables” khuyến khích việc tái sử dụng các mảnh vải vụn (sẽ bị vứt bỏ). Nhà thiết kế Anaïs Dautais Warmel đã phát triển dự án này từ cuối năm 2015, để tạo ra một nền kinh tế tuần hoàn với các vật liệu có sẵn và cách sản xuất áo quần từ khâu thiết kế cho đến khâu thêu may đều là 100% của Pháp. Theo cô, việc tái sử dụng các vật liệu được coi là dư thừa, phế thải như rèm cửa sổ hoặc vải may còn dư, là một điều quan trọng nếu ngành may mặc muốn bớt phung phí. Đây vẫn là một giải pháp khẩn cấp tạm thời. Giải pháp thực sự là “eco-design”, nghĩa là trong khâu sản xuất quần áo, nhà thiết kế đã tính tới chuyện dùng vật liệu cải tiến, ít gây tác hại cho môi trường và với độ bền cao.

Thuật ngữ chuyên ngành gọi đó là ‘‘upcycling’’ vừa tái xử lý vừa nâng cấp sản phẩm, chế biến một mặt hàng mới từ những vật liệu có chất lượng vượt trội. Ngành sản xuất y phục may sẵn đã tạo thói quen cho người tiêu dùng và đôi khi đó là những ‘‘tật xấu’’. Áo quần đôi khi được bán với giá rẻ tới mức không ai nghĩ tới chuyện may vá lại quần áo bị rách, mà lại có thói quen vứt bỏ đi rồi mua liền một cái khác. Thế nhưng, tìm lại những thói quen ngày xưa ấy có lẽ cũng là một điều nên làm, bên cạnh giảm bớt mua sắm.

Gần đây, Hội đồng thời trang Thụy Điển đã tuyên bố hủy bỏ Tuần lễ thời trang ‘‘Fashion Week’’ dự kiến từ ngày 27/08 đến 29/08 năm 2019 vì lý do bảo vệ môi trường. Cũng cần biết rằng một trong những tập đoàn lớn nhất thế giới trên lãnh vực ‘‘fast fashion’’ chính là công ty H&M của Thụy Điển, có thể xem đó như là một thông điệp mạnh mẽ gửi tới các tập đoàn lớn, đừng vì lợi nhuận mà gác qua một bên các tác hại về mặt xã hội và môi trường.

Tuấn Thảo – (Nguồn : vi.rfi.fr)

Ẩm thực – Welcome to the New Era of the Fancy Man

Plus: what Keith Richards has backstage, and the moment of Peak Ceramics.

Collage of Keith Richards in front of Gucci and Ralph Lauren clothing

What’s up, guys? Or shall I say…….. Good morrow….. Sophisticat’d men…. Because this week, WWD reported that men are getting very refined in their online shopping habits. A Lyst study commissioned by the paper shows that over the past year, men have gravitated away from “directional brands”—the ones that ply luxury streetwear—and are instead reaching for “pure luxury players,” a list that’s topped by Gucci and also includes Moncler, Givenchy, and Ralph Lauren.

That’s right: the hypebeast hath become the hypegent.

Maybe men, like me (a woman), have been reading nonstop Evelyn Waugh, and what else can you wear while having a champagne picnic with your teddy bear? Maybe these men read the Fall 2019 Trend Report, which predicted the return of good taste and a renewed interest in heritage brands and new designers who just act like their forebearers.

Men’s buyers tell WWD that this is the shift from casual dressing to a “high-fashion, post-streetwear” world; in other words, the natural order of the trend cycle. But over the past 15 years, even as the trend cycle continues its usual churn, fashion has been getting more and more casual. The formalness of runway fashion in menswear has ebbed and flowed, but this e-commerce-driven shift, in which men are actually buying more tailored clothing and more subtle stuff that’s less graphic-driven, suggests that the tide is really reversing, and not just in the minds of designers. HMMMM!

Speaking of fancy men: Keith Richards! Richards’s backstage demands are legendary. He loves, for example, Shepherd’s Pie, and has a rule that only he is allowed to “bust the crust.” In addition to this culinary eccentricity, it’s now emerged that Richards has two other significant items in his backstage arsenal, per the following from the Daily Mail:

  • Keith Richards has ashtray that absorbs smoke for the benefit of Mick Jagger
  • Guitarist’s motorised ashtray taken on tour so as not to upset Jagger backstage
  • The 75-year-old also has a hotel bell so that he can summon his guitar technician

That really says it all, but we’ve got a vague word count to reach here, so I will add that it is touching to think of Richards, who has a long history of aggravating Jagger, trying to be so considerate of his friend’s recent health ailments. And not doing so by so pedestrian as measure as quitting smoking, but by buying a weird—fancy—invention, the kind of thing that James Spader might have added to his wedding registry at the Sharper Image in 1987. And what is a Fancy Man without his trousseau—his keys and and half a Valium in his vide poche, his handkerchief embroidered with something like, “Le Schnozz,” his walking stick with a secret flask inside, his motorized ashtray, and his hotel bell to ring the trusty old guitar technician in two shakes of a lamb’s tail (which can presumably be slain by Jagger’s personal chef to, oh heck, make another batch of Shepherd’s Pie)?

Now onto something more stylish, more subtle, more tactile, more homespun, more breakable, more delicate: is this the summer we hit Peak Ceramics? Ceramics have been hot for a while, but now, people with other amazing jobs and talents are here to inform us that by the way, they also make amazing pots.

It was a year or two ago that you may have noticed your friends emailing you to come look at a bunch of pinch pots they’d labored over while drinking IPAs, glazing them in unfriendly green shades. “Blah, blah, blah,” they probably said, adding a bunch of stuff about how cool ceramics are, including something along the lines of, “Japan.”

But since then, that passion seems to have trickled up into the minds of some real geniuses, and this summer Ceramics as a Side Hustle hit record heat. Antwerp Six’er Ann Demeulemeester was in the New York Times last week talking about her beautiful new line of plates and glasses. In fact, in the past month, the paper has published nine stories about people who either make (just for fun!) or collect ceramics—including Jonathan Anderson, who has made ceramics a part of the oeuvre at Loewe, where is the creative director. Two different artists make ceramics out of designer shoes. I suppose working with the hand has never felt better, especially if you are a fashion designer, a job that can now be done via Instagram and a few vague hand gestures. See you at the potter’s wheel, Fancy Men!

By

Full link: https://www.gq.com/story/fancy-man-movement?utm_source=nl&utm_brand=gq&utm_mailing=gq_daily_083019&utm_medium=email&bxid=5c5cba14283d8e788b2c6f8c&cndid=56356405&hasha=b357a3f7d7c5d1ec57c25e9b6231f8b6&hashb=aeff271f8ff4a7fd8fe495e655c0eb7b5e4fe7ac&hashc=1f8ce695fd760fb4d65e389189e83ccceb06e601bec24bb9c826250bee570416&esrc=bounceX&utm_campaign=gq_daily_083019&utm_term=GQ_Daily_Active

Ẩm thực – A Homemade Paleo Banana Bread Recipe

It’s better than the one your grandma used to make, and you won’t believe there’s no added sugar in this treat.

A Homemade Paleo Banana Bread Recipe

Going paleo didn’t feel like a sacrifice to me. Yeah, I had to give up grains, legumes, most sugar, and some other foods—but in the process of becoming paleo, I also cured myself after years and years of stomach problems and boosted my energy like crazy.

But there are some foods I love that I needed workarounds for once I made this change, and banana bread was one of them. I can’t imagine life without banana bread—it’s comforting, it’s a treat, it’s a snack…it’s just so good.

These days, there are so many alternatives to traditional baking ingredients like flour and sugar, so taking on a challenge like making a paleo banana bread is truly hassle-free.

This bread recipe utilizes almond flour and arrowroot starch instead of traditional wheat flour. In my experience, mixing up flours gives paleo baked goods the best texture. And there’s zero added sugar, though you won’t miss it. I always liked brown sugar in my banana bread in my pre-paleo days, so to mimic that rich, caramel-y taste, I blended some dates into the batter. Along with that flavor depth, dates also add minerals and fiber. Paleo cooking isn’t just about cutting foods out of your diet—it’s also about getting the most nutrients into your food, and dates are a great secret weapon to add sweetness and also some nutrition.

This is a paleo banana bread recipe with just a touch of cinnamon (it adds more natural sweetness, and did you know cinnamon also adds fiber, minerals like manganese and calcium, and antioxidants, and is heart-healthy, great for fighting inflammation, and good for your brain?).

Try it yourself, and you’ll see just how delicious going paleo can be!

Paleo Banana Bread Recipe

banana bread loafBeth Lipton

Prep: 10 minutes
Cook: 1 hour
Yield: 1 9-inch loaf

INGREDIENTS

2 cups (224g) blanched almond flour (I like Bob’s Red Mill Super-Fine Almond Flour)
½ cup (72g) arrowroot (I like Bob’s Red Mill Arrowroot Starch/Flour)
1 tsp baking soda
1 tsp cinnamon (I like Simply Organic)
¼ tsp fine sea salt
3 medium-sized ripe bananas
3 tbsp avocado oil or extra virgin olive oil
5 pitted Medjool dates
2 tsp vanilla extract (always buy pure, not imitation vanilla extract)
2 large eggs, beaten

HOW TO MAKE IT

  1. Preheat oven to 350ºF. Make sure there’s a rack in the center of the oven before you preheat.
  2. Mist a 9-by-5-inch loaf pan with a little cooking spray or add a few dabs of coconut oil, then line it with parchment. This is the best way to prevent sticking. The oil just helps keep the parchment in place. Leave an inch of overhang on both sides, and be sure to grease any part of the pan that isn’t lined.
  3. Mix the dry ingredients (almond flour, arrowroot, baking soda, cinnamon, and salt) in a large bowl and mix well. Use a whisk to make sure you get all the lumps out.
  4. Blend the wet ingredients. In a high-speed blender or food processor, combine bananas, oil, dates, and vanilla; blend until well combined and smooth. Use a high-speed blender (like a Vitamix) or a food processor to pulverize the dates and mix them in with the other wet ingredients.
  5. Beat the eggs separately, and stir them into the flour mixture with the wet ingredients. (Keep the eggs out of the blender. You don’t want to beat too much air into the eggs; that can affect the texture.)
  6. Stir until fully incorporated.
  7. Spread the batter evenly in the pan and bake. The bread is done when a toothpick or cake tester inserted in the center comes out clean, about 50 to 60 minutes. Check the bread after 40 minutes—if the top is getting too brown, cover it loosely with foil for the rest of the baking time.
  8. Let the bread cool in the pan on a wire rack for 10 minutes, then use the parchment to help lift the bread out of the pan and place it on the rack to cool completely.

How to customize this recipe

You can customize this recipe in about a zillion ways. Some of my favorites include:

  • Add chocolate chips. I mean, duh, right? To keep it paleo, use a paleo-friendly chocolate (I like to chop up a bar by Hu Kitchen or Eating Evolved).
  • Swirl a paleo-friendly chocolate spread into the batter, like 4th & Heart Chocti.
  • Along with the cinnamon, add some turmeric and ground ginger for a “golden milk” banana bread.
  • Add more cinnamon and some raisins, or stir in orange zest and dried cranberries.
  • Go nuts—chopped toasted walnuts or pecans work well. Toasted coconut is also really nice. I’ve even done chocolate and coconut for kind of an Almond Joy spin.

How to store leftovers

If you have leftovers, wrap them tightly and store in the fridge for up to 5 days (it won’t last that long…). It’s great cold, or you can toast slices in the toaster oven. Pro tip: It makes awesome French toast, too.

sliced banana breadBeth Lipton

By BETH LIPTON

Full link: https://www.eatthis.com/paleo-banana-bread-recipe/?utm_source=nsltr&utm_medium=email&utm_content=best-way-reheat-pizza&utm_campaign=etntNewsletter

Ẩm thực – This Is the Absolute Best Way to Reheat Pizza, According to Chefs

Never find yourself eating a soggy slice ever again.

This Is the Absolute Best Way to Reheat Pizza, According to Chefs

Rest assured, it’s not time to throw your leftover pizza in the garbage just yet. Whether you enjoy your pizza hot or cold, there’s no better feeling than waking up the next morning to realize you have some leftover slices in the fridge. There are tons of creative ways to revive your slice, but what is the best way to reheat pizza in order to keep that fresh, cheesy taste that you can’t resist?

We spoke with pizza experts Dave Anoia, Chef and Owner of Pizzeria Davide, and Chef Tony Galzin, owner of Nicky’s Coal Fired, to find out the inside scoop on how to reheat pizza. Say goodbye to soggy slices and reheat your pizza so it’s as tasty and crispy as when it first got delivered!

What is the best way to reheat pizza?

“First, you want to avoid soggy crust by starting with a skillet. You can perfectly crisp your crust by putting the leftover pizzain a non-stick skillet on high heat and leaving the flame on for one minute,” says Anoia. “After you’ve crisped your crust, throw the pizza in a 400-degree oven until the cheese is re-melted. The oven will thoroughly reheat the rest of the pizza.”

The oven seems to be the true key to properly reheating slices.

“We recommend you reheat pizza in a 400-degree oven for about 5-8 minutes. Transferring to a stone or sheet pan is great, but if you don’t have one, right on the bottom of the pizza box works,” Galzin adds. “Turning your oven to low broil, and reheating from the middle rack is a great way to get all the cheese gooey again.”

Can you reheat pizza in the microwave?

It’s apparent that a professional chef will rarely recommend using a microwave to heat the pizza up. “A microwave is definitely the fastest, but I feel like you give up all the crispiness with that, so I don’t recommend it,” warns Galzin.

However, if you do plan on microwaving the pizza, follow these steps for the ultimate hack because it’s been said that microwaving the slice next to a cup of water will prevent the crust from getting soggy.

  1. Place a slice on a ceramic or glass plate.
  2. Place a (microwave-safe) mug of tap water in the microwave right next to the plate.
  3. Heat the pizza on high power for about 45 seconds until it’s hot.

How should you store leftover pizza?

“The cardinal rule of leftover pizza is proper storage. Don’t just throw the pizza box in the fridge and call it a day,” advises Anoia. “Instead, wrap each slice in paper towels and plastic wrap to preserve the flavor and freshness.”

After proper storage, reinvent your pizza by adding fresh, high-quality ingredients and seasonings that are already in your kitchen, like parmesan cheese and oregano. Now, enjoy your crispy slice of pizza that tastes just as good as it did the first time around!

By LINDSAY PAIGE STEIN

Full link: https://www.eatthis.com/best-way-reheat-pizza/?utm_source=nsltr&utm_medium=email&utm_content=best-way-reheat-pizza&utm_campaign=etntNewsletter

Ẩm thực – The Family Dynasty That Pursues Perfection in Shaved Ice

For three generations, the Hansens have made summer sno-ball season in New Orleans.

Owner Ashley Hansen can often be found slinging sno-balls.

Ashley Hansen grew up spending Saturday mornings watching 300-pound slabs of ice slide into her grandfather’s Jeep, grabbing chips with her sister as they splintered along the edges. Each week, Ashley and her twin sister clambered into the back of the two-door Jeep that her grandfather Ernest had transformed into a giant steel tray. Once her grandmother, Mary, had set down her purse up front, Ernest would navigate potholed streets to icehouses still wedged in odd corners of downtown or bulging in the empty spaces between suburban strip malls.

More than in most places, ice in New Orleans is a cherished and respected commodity: a requirement for the region’s seafood industry and manna for all who seek relief from the Louisiana heat. “[We] had to go early to beat the shrimpers to get the good ice,” Ashley recalls.

Sometimes Mary returned to the Jeep almost immediately, unsatisfied with the frozen offerings. Other times, she walked through warehouses like a sushi chef at Tokyo’s old Tsukiji fish market. As muscular men with giant metal tongs emerged with ice blocks from deep wooden storage rooms, she’d run a finger over each before moving in close enough to touch her nose. She could see what others could not.

The Hansens spent a day a week painstakingly seeking ice for a reason. They, as a family, had spent more than five decades on a quest to perfect New Orleans’ iconic treat: the sno-ball.

According to Ashley, sno-balls are "air conditioning for your tummy."

Ask any Hansen, and they’ll tell you that a sno-ball is not to be confused with a snow cone (“very coarse, syrup pooling at the bottom”) or a slushy (“more liquid than solid”). Ashley will describe a New Orleans sno-ball, pausing for emphasis, as “a cup of finely—finely shaved ice with flavored syrup.” As her father Gerard has explained, speaking of their sno-balls, “You actually put the syrup on in layers to get consistency throughout the body … The flavor stays with you throughout the process of eating it.”

While New Orleans is a town of many culinary obsessions and peculiarities, from the po’ boy to the Sazerac, from beignets to Andouille gumbo, none of these foods define an entire season. It is impossible to have summer in New Orleans without sno-balls.

On the family’s Saturday ice excursions, Ashley and her sister were not allowed to leave the car. But the pursuit of quality was practiced week after week, year after year. After a childhood spent “sitting on ice,” Ashley spent years with her 80-something grandparents ice-picking slabs into appropriately sized blocks, cleaning them with gallons of spring water, and then waiting “to let the ice harden” to an ideal point. After her grandparents passed away in 2005, Ashley, who had been running things for almost a decade, assumed control of the New Orleans institution that her grandparents opened in 1939: Hansen’s Sno-Bliz Shop.

Outside New Orleans, creating perfect snow is big business. Whether at one-run ski hills or in Winter Olympics host cities, getting man-made snow right is a multi-billion dollar industry. But Hansen’s Sno-Bliz, which recently celebrated its 80th year of a James Beard award-winning run, has done more than any institution in the U.S., if not the world, to perfect snow for eating. And the family has done it in a ramshackle concrete shed where the industrial warehouses of Tchoupitoulas Street meet the shotgun neighborhoods of Bordeaux Street.

The line is just part of the Hansen's experience. Really!

In the summer of 1934, that time of year when the Louisiana humidity seems to intensify the tropical sun like a magnifying glass, a tired man in a white apron and cap came down the street through Bayou St. John. According to the story Ashley heard Ernest recount dozens of times, the man pushed what looked like a baby carriage, but in place of the bassinet was a wooden box, an ice chest topped by a rack of glass bottles filled with brightly colored liquids. “Ice cold sno-balls! I’ve got ice cold sno-balls!” he shouted and sang. “Lemon-lime-orange-strawberry-grape-and-nectar!”

Ashley’s uncle asked her grandfather Ernest Hansen for a penny, the going rate in Depression-era New Orleans for a sno-ball. “The street sellers,” she says, “they would open the box, run the rasp over the ice block” into a deepening groove in the melting top. Then they’d whip out the sno-ball like a rabbit from a hat.

By the Depression, sno-balls were already deeply ensconced in New Orleans culture, one of the many manifestations of ice that had become borderline necessities in the sweltering city. Indeed, the very popularity of sno-balls speaks to the logical question that any summer visitor might pose: Why would anyone choose to live here?

Ernest and Mary pose in the stand in 1989.

For the better part of five months each year, the city is oppressively hot and ridiculously humid. Air has weight here. Nearby Jean Lafitte National Historical Park, where a boardwalk runs through an unwelcoming, alligator-filled swamp, offers a sense of the original landscape. As the swamp was transformed, sugar was first successfully planted and refined in America, in 1795, by the slaves of Étienne de Boré, who was later appointed mayor, just a mile from where Hansen’s now stands. When the resulting sugar and cotton booms revived American slavery, New Orleans became the most important port city in America. To be sent here as an enslaved person—and forced to work in the cash-crop fields of the Mississippi River Valley—was seen as a death sentence.

Chitimacha Indians, the Spanish, the French, enslaved Americans, refugee Haitian planters, Europeans seeking fortunes: They all lived and sweated through New Orleans’ heat. The city’s urban landscape, with its canals and streets that follow the river, all speak to the unique ecosystem of the Crescent City, and the buildings reveal the fundamental battle with the climate: 14-foot ceilings, a transom in every room, and shotgun homes as long as wind tunnels are all innovations to keep cool. But even better are the city’s many icy treats.

Hansen’s history surrounds the shop’s 2014 America’s Classic award from the James Beard Foundation (left). Decades-old, handwritten labels from the shop’s original days are still visible on some syrup bottles (right).

In 1822, the first shipment of natural ice, cut out of Jamaica Pond near Boston, arrived in New Orleans. It had melted substantially during its months-long journey. Still, what emerged from the hold weighed nearly 250 pounds, solid, clear, and cold as could be. Its extreme foreignness in the humid port must have seemed wrong: New Orleanians tossed the unnatural (and probably cursed) Yankee import into the swirling brown of the Mississippi River. But four decades later, when a former New Orleans slave auctioneer lit the steam engines of the Louisiana Ice. Co., which could turn the waters of the Mississippi into 20 tons of ice each day, delighted locals gathered just to watch the water freeze.

Likewise, Ernest Jr. was delighted by his pink mound of street ice, but his father didn’t think it was clean enough. “That’s filthy,” Ashley recalls of Ernest’s reaction. “I can make something better.” At the stand’s 50th anniversary, Ernest himself remembered that the origin of Hansen’s first motto, “Never Touched By Hand,” spoke to his vision: “I wanted the ice to go straight into the cup without touching someone’s hands,” he said.

For his part, Ernest’s hands contained tremendous expertise. He was a master machinist who spent decades tending to ships on the Mississippi. His metalwork is as charming as it is useful (he made his wife a hatchet-inspired gift every year, her birthday being February 22, the same as George Washington of mythical cherry-tree-chopping fame). So with the skills, equipment, and inspiration of this river city, Ernest worked after hours on his idea for a sanitary sno-ball. In just five months, he cast and assembled several strange-looking pieces of aluminum and stainless steel into the world’s first motor-driven ice-shaving machine.

Sno-balls awaiting syrup.

There is always a line at Hansen’s, and the wait is never dull. I have met tourists who, after one bite, come back every day of their visit. I have met construction workers and garbage men desperately trying to get a Hansen’s sno-ball during a quick break. I have met kids just out of school for the day. Black and white, young and old, all of New Orleans waits in this line for a frozen delight that sells for just two dollars.

Since 1939, reaching the front has meant not just getting to order, but to see Ernest’s machines fill your cup with a blizzard of snow. Ernest’s 1934 prototype (“Ernest Jr.”) sits above the fridge, while the machine Ernest built in 1939 (“Ernest”) and one other (“Nacho”) sit on the counter, each a bright silver contraption the size of a small dresser. “Mary” lives on a portable tray so that Hansen’s can cater events.

Since I first visited during Ashley’s reign, I’ve watched this muscly little woman feed rectangles of ice the size of a bread loaf into Ernest’s machines using a ratcheted metal arm. She holds a cup under the chute, but doesn’t fill it as snow starts to fly—when the blades spin, the end of the ice inevitably produces chipped ice and chunky snow. Only when the snow is perfectly fluffy does she fill the cup to almost twice its height. It’s this blizzard-like snow that blows out of the chutes hand-cast by Ernest that inspired an early customer to suggest the name “Sno-Bliz.”

Along with the daily, house-made flavors pioneered by Mary, it’s this dedication that sets Hansen’s apart from the hundreds of sno-ball purveyors in New Orleans, many with loyal followings of their own. Ashley will discard some 40 percent of the snow as insufficiently fluffy—a reflection of Hansen’s permanent motto: There Are No Shortcuts to Quality. And when she’s not behind the counter, the sno-balls are not made by just any staffer, but by one of her Lost Boys, neighborhood guys (many second- or third-generation employees) who grew up in the stand and worked their way from cleaning bottles to the mighty honor of helming Ernest’s invention.

Working those machines is a three-limbed operation: one hand on the brassed ratchet holder, a foot pedal to maintain downward pressure on the ice, and one hand under the chute, waiting for the perfect snow. Every Sno-Bliz operator has a different style, a different feel for how to determine the moment that ice and blade along with hand and cup are working together in harmony.

Some count.

Others listen.

“If the ice is too soft, it will be watery and yucky,” says Ashley. But if it’s too hard, then “the machines chatter, and they don’t cut as fine.” She has to respond to changes in temperature and humidity and the blade’s sharpness. I have seen Ashley set ice blocks out to thaw when the line stretches long but she hears the machine whine at a certain pitch. “It’s about finding that balance,” she says.

Mary Hansen behind the controls.

When Ernest invented his machine, he could have become the Henry Ford of shaved ice. The machine spelled the end for the once-ubiquitous, hand-shaved street-ice vendors, who were quickly replaced by shops that could house and power this new technology. Ernest handmade about a dozen Sno-Bliz machines, a handful of which he sold to New Orleans businesses, most notably the Audubon Zoo, which is still where many tourists taste their first sno-ball.

As Ashley recalls, once, when Ernest went to the zoo to make a maintenance call, “He saw kids working the machines throwing nickels into the blades and shredding the nickels.” Ernest was horrified. “They didn’t understand the product, the quality he wanted, [so] he bought them all back and never manufactured another machine.” Ashley remembers her grandparents citing their motto. “[They] couldn’t sacrifice the quality or reputation.”

Competing stands bought similar machines from emerging rivals. But when someone asked Ernest if he was going to use his patent to stifle competitors, he demurred. The Hansens did not have money for lawyers or time to cook up lawsuits. They had two young boys and two sets of aging parents. But the crux was that New Orleans sno-balls still ranged in price from two to five cents. “Who was he,” Ashley remembers her grandfather explaining, “to tell someone they could not help feed their family with those two pennies?” The patent was about recognition, not profit.

Inside Hansen's Sno-Bliz, decades of neighborhood history cover the walls.

Turning the best ice into delicious snow has only ever been one part of the Hansens’ pursuit of perfection: Mary spent 70 of her years and Ashley 30 of hers perfecting a dizzying range of syrups to match the magic of Ernest’s snow.

As soon as Ernest assembled his first machine, Mary, the Italian-American daughter of a family that owned a fruit stand, began crafting flavors, which she first served atop sno-balls under a chinaberry tree behind her parent’s house. Syrups such as Mary’s Own, a tart strawberry, reflect her own family history. Countless others speak to a city made by black and white people and infused with traditions of French, Spanish, and African ancestry. Cream of Coconut and the even more traditional Hard-Candy Coconut highlight the New Orleans that is more Caribbean than American. Vanilla Bean, the backbone of flavors such as Cream of Ice Cream and Nectar-Cream, reveals the city’s French connections, and the role slavery played in the succesful cultivation of the valuable vanilla orchid. Ernest’s Own, a root-beer flavor beloved by the stand’s founder, traces back to the Sassafras beverages concocted by native peoples throughout the Americas.

Unlike the syrups shipped around the world by Coca-Cola and other food and beverage titans, Hansen’s syrups are artisanal, practically farm-to-table, just more local. Making seasonal favorites, from Blood Orange to Pear, Blueberry to Kumquat, starts with neighbors dropping off bags of fruit from their backyard. The signature syrup, Satsuma, can only be made with this Louisiana citrus, whose trees spill out of yards all over New Orleans.

Layering flavor behind the counter.

With her hyperlocal syrups, Mary matched Ernest’s uncompromising, often counter-capitalist commitment to quality. And just as Ernest could not sell his machines to anyone who might disrespect them, Mary, who came from a family that told guests to “sit down, mangiare-mangiare,” would never move a line along with maximum efficiency. Following in her footsteps, it is not unusual for Ashley to chat with longtime customers for 20 minutes before making them their Sno-Bliz, even as dozens of sno-ball seekers wait in the Louisiana heat.

When the Depression was at its worst, said Gerald Hansen, who is Ashley’s father and a district judge, people would come by with their children and say, “Oh, hi Mrs. Hansen. We just came to visit, you know, we don’t want a sno-ball today.” Without a moment’s pause, Mary would reply, “But today is treat day for children,” he added. “She’d give them free sno-balls … And you know she probably gave more away in the first five years than she sold.”

Mary and Ernest Hansen in the early days.

The result, from decades of this graciousness, is fierce loyalty and familiarity. When Hansen’s reopened after Hurricane Katrina, one of the first businesses in the area to do so, Ashley recalled a woman sweeping in and declaring, “I need a chocolate sno-ball. This is the only place I’m going to get my chocolate sno-ball ‘cause Miss Mary made the best and this is what she gave to me.” To paraphrase the poet of the shared meal, Anthony Bourdain—who himself broke snow with Ernest, Mary, and Ashley, and declared that there was nothing in the world like a Sno-Bliz—Sno-balls “make the society, hold the fabric together.”

Even in this city of endless food, drink and celebration, Hansen’s is on every list of must-do’s in New Orleans. But the hundreds-deep line that spills up Bordeaux Street on the hottest August days is not made up, even mostly, of tourists. All of New Orleans stands in that line, because despite neighborhood allegiances or even sides of the river, customers will not take shortcuts to quality either. They come for flavors that have defined New Orleans since the 1880s, sought-after toppings such as Bananas Foster over a chicory-strong Café-Sno-Lait Sno-Bliz or pink Nectar Cream topped with condensed milk. They come to be served that perfect snow. Customers know Hansen’s is there for them because everyone has always been served—during the Jim Crow era of segregation, the Hansens had refused to follow separate but equal laws since their backyard chinaberry pop-up.

Many sno-balls. Many colors.

Defined by its people, Hansen’s is beloved decrepitude. It is the James Beard medal shining near hand cut letters under 60 layers of pink paint. As you wait, the wait becomes important, an opportunity to take in the multitudes of this shabby glory. As you talk to people around you, you learn their stories and their flavors. You make friends. Photo collages of 50 years of neighborhood kids cover the walls, along with 50 years of peculiarly Crescent City traditions and poems and signage from every decade.

With that first taste, that perfect spoonful of perfect snow, everyone wishes their own town or street had a branch of this perfection, this joyous place. And yet, as you walk outside, you realize the impossibility of this stand in some gleaming space in the French Quarter or, God help us, another city or state. There cannot be Sno-Bliz franchises or a factory churning out machines, because a Hansen would not be behind the counter and Ernest’s hands would not have made the machine. You can get shaved ice and syrup the world over. Some places even call what they are selling a snow-ball—visit Baltimore for a taste. But a Sno-Bliz, this quintessential representation of all that is New Orleans, could not exist anywhere but here.

By R. BLAKESLEE GILPIN

Full link: https://www.atlasobscura.com/articles/best-snoball-new-orleans?utm_source=Gastro+Obscura+Weekly+E-mail&utm_campaign=5d338fddb2-GASTRO_EMAIL_CAMPAIGN_2019_08_27&utm_medium=email&mc_cid=896e7be41d&mc_eid=df51e46713

Stoic – Heaven Beside You…Hell Within

It’s late summer now and you might be thinking it’s time to squeeze in a last-minute vacation. Or maybe you’ve been looking forward to a long-planned one to some distant location. This is just what I need, you’re thinking. I can’t wait to get out there on the beach…or the mountains…or those beautiful ruins.

We think we can escape from our job. From our problems. From our depression. From our low-grade dissatisfaction with our ordinary lives. But what do we find when we arrive to the exotic location? After we check in to the hotel or the Airbnb? We find, after the rush wears off, that we don’t feel any different. We brought ourselves with us…the true source of our unhappiness.

Seneca was an avid traveler who saw how often his fellow tourists were in denial, how they foolishly thought a change of scenery could exempt them from the real inner-work they needed to do. He liked to quote Epicurus who said that “every man flees himself.” We can imagine Seneca enjoying the lyric from a song by Alice in Chains: heaven beside you…hell within.

That’s why vacations often disappoint. Because as beautiful as they are, as much as we design them for relaxation, they are incapable of overriding our anxiety and our dysfunction. If our soul is tense, no amount of massages will relax it. If our mind is chaos, no amount of time in the water will order it. If our life is a mess, eventually we’ll have to return to it—and all the tours and long dinners will evaporate it in a minute.

If you want to be happy, if you want to relax, look inward. Do the work. Not only will you be happier at home, but you’ll enjoy your time on the road more too.

Collection – Become a Better Version of You… with Science

How neuroplasticity can give your life the 360 you’ve always wanted

know the feeling. You stand before the bathroom mirror, look at the person across from you, and think “what happened?” Maybe this isn’t your mirror talk — and it’s not mine every day, but some. We get close to that turning point where we know we really need to turn something around in our lives.

It’s time.

Not only can you become the opposite of that person across from you, but it doesn’t have to be a struggle. There is a way to develop new habits and behaviors without fighting against your natural wiring.

No, you can’t wish your way to a different eye color or the ability to fly. There are limits to this process. But not many.

Most of us try for the whole 360 at once. All or nothing. “If I’m not a different person by tomorrow, dammit, then I’m a total failure.” We put 110% effort into the transformation for a couple days. We miss something on the checklist. The whole transformation dies in a fiery ball of self-flagellation.

There’s a better way to change. And an easier way… with less fire and more science.

Instead of fighting our hard-wiring, we’ll work with it. Instead of trying to trick our own brains into becoming something we’re not, we’ll work with ourselves. It’s not like we can tag-team for a new self. Our brains don’t like all-or-nothing change. We’ve got built-in gate-keeping mechanisms to protect us from harm. Those gate-keeping mechanisms are what make us give up on the third day of an all-immersive, do-or-die transformation.

How about a better you? Using a method that works with your brain instead of against it.

Five Hidden Cognitive Biases That Keep Us From Our Best Creative Work
Whether we write, paint, build, move, or think — our minds are wired to sabotage our success
medium.com

OK, so what does this all mean for you?

You’ve heard this a lot lately — the amygdala and limbic system as a whole, is your fight-or-flight alarm — the dirty, old man of your brain. The ancient part. Back when the Flintstones peddled cars with their feet. The part of our brain that hasn’t evolved as fast as our environment. Writers and speakers love to use the ‘running from lions’ analogy, so I’ll refrain. I doubt our ancestors had to run from many lions — not enough to alter our brains forever.

Run. Hide. Fight.

Your limbic system thinks that unwanted phone call you have to make is a predator, “run!” It thinks your planned, daily, 500 push-up regimen is a forest fire, “escape and hide!” This lizard brain of yours looks in the mirror and says “let’s keep everything easy, the way it is. Lazy and static. So there’s no rift in the space-time continuum. I like you better on the couch, in sweats.”

Your brain is wired to conserve as much energy as possible. New, personal change requires a lot of energy.

Every new change our prefrontal cortex delivers to our conscious mind, you’ve got old man lizard back there, pumping the brakes and keeping you from imaginary harm.

The limbic system even lights up before that uncomfortable conversation where you’re supposed to ask for a raise, but you cave at the last minute, or the moment you’ve got your business plan all laid-out and you get a negative email from your first customer, which sends you into a tailspin.

Traditional methods of self-transformation don’t work well.

Yes, you can force your way through the limbic response. Some people have the capacity to do so, but it’s incredibly hard.

The more you activate your fight-or-flight, the more likely it will activate again. Self-transformation becomes a self-made wheel of yuck and peril. If you want to get off the wheel you’ve got to change the way you look at habit-building and all-or-nothing approaches.

Ivy Lee’s Secret: The Best To-Do List Method You Never Knew Existed
This 100-year-old productivity hack is more relevant today than ever
medium.com

How to make a self-transformation plan that works

Instead of fighting against our fight-or-flight, we’ll work around the alarm system altogether. We’ve got a secret weapon in our back-pockets. Like a cat burglar in the night, we’ll don our black masks and tip-toe over the tripwires and lasers, leaving the alarm system to rest.

Instead of sweeping change, we make micro-commitments.

A term coined by Ryan Levesque, of the books Ask and Choose, Levesque found that micro-commitments can bypass this ancient alarm system and reward you instead. Ryan teaches his methods for business-use, but they have great application for self-transformation as well.

We reward the mid-prefrontal cortex instead of alarm the amygdala.

If you were to start exercising today, for the first time. And you went after your workout with so much enthusiasm you worked your face off — tomorrow you’d feel like death. And two days later every muscle in your body would hurt like punishment. Maybe you’d try again in a week. By the third week of this all-or-nothing routine you’d probably give up. Your limbic system would call it quits. “Get back to the couch or else.”

Instead, we’ll make this workout a reward.

We’ll give ourselves a little dopamine squirt. Our prefrontal cortex lights up our neurons and looks forward to the workout. We want to do it again tomorrow. Instead of punishing ourselves with something adverse, alarm bells ringing, we give ourselves a reward.

How to make your self-transformation a reward:

  • With micro-commitments. Say you can do ten pull-ups as your maximum. Instead of doing all ten, once a week until you can’t feel your arms, you do three. Every day. You do enough so it feels good — like you accomplished something — a reward. But not enough that you feel spent (adverse — training the fight-or-flight to stop you next time).
  • One or two small changes at a time. If you made it this far a certain way, what makes you think you can change your entire life overnight. Your brain is now hard-wired to keep you in your current condition. You’ve got to circumvent the alarm, with daily micro-commitments to reward the prefrontal cortex and avoid the amygdala.

You also get to pack a parachute.

Fight-or-flight expects to be followed by a lot of running (aka. fast movement). Your limbic system thinks it did you a solid by warning you, now it wants you to run. If you don’t run, the system makes you feel terrible about yourself. You haven’t metabolized the excess cortisol through vigorous movement.

So, your parachute is movement. When you feel your brain fighting against your new idea, get moving, a lot, NOW. Jump, run, flap your arms, walk fast — do anything to get your heart moving and the cortisol out of there.

…but we’ll do our best not to sound the alarm. Tip-toes. Micro-commitments.

What Kind of Creator are You?
Uncover the five creator types and find your best work system
medium.com

Start today. Not tomorrow

Pick one thing you want to transform about yourself. Write the big thing at the top of your paper. Break the big thing down into the smallest measurable chunks.

If you want to be the person who exercises every day do one push-up per day until the habit is the reward. Then make it ten a day. Then fifty.

If you want to be more assertive, say hello first, to every cashier you encounter. Keep a mental scorecard, like a game. If get 100 points you get a reward.

If you want to read more, do more, be more, break it down to the simplest, most-rewarding daily task you can think of. Neurons that fire together, wire together.

You’ll become the person you always wanted to be. And you can do it without sounding the alarm.

You want to start a business and tell your boss to stick-it — start today. Write the big goal at the top of the paper and work your way down until the daily practice is so small you want to put it in your pocket.

We need you to be a better version of yourself.

Now you’ve got the keys to the kingdom. The process takes awhile. Self-transformation is a life-long pursuit, but it’s worth it. If we’re not growing we’re shrinking. There’s no stasis in anything. Even rocks move really slow.

We’re waiting for you.

By August Birch

Full link: https://medium.com/swlh/become-a-better-version-of-you-with-science-fe1fb598f7f3

Collection – What can you do when you’re flattened by depression? Plan for it

By adopting a take-charge approach towards living with depression, you can start to feel more in control and less powerless, says health activist Jessica Gimeno. She shares three helpful strategies.

“Depression takes practice,” says Chicago-based health activist and writerJessica Gimeno in a TEDxPilsenWomen talk. Wait — that sounds unrealistic and unwise. Depression just happens to a person, and if you’ve ever been seriously depressed, it’s something that you sincerely hope will never happen again, right?

“What I’m saying is that living well with depression takes practice,” clarifies Gimeno. “Being productive every day despite depression takes practice. Being a student or an employee with depression takes practice.”

Knowing how to live with depression is important for many of us — with more than 300 million people across the globe living with chronic depression, it’s the leading cause of disability worldwide“With a visible disability, we assume it will take practice to cope, including things like physical therapy,” says Gimeno, who has a blog called Fashionably Ill. “Yet when it comes to depression, we think that a label and medication are enough to cope. It’s time to go beyond getting a diagnosis, into giving people actual coping mechanisms. Without coping mechanisms, we’re trapped in a downward spiral. Being depressed leads to falling behind; falling behind leads to more depression.”

After she was diagnosed with bipolar II disorder when she was in college, Gimeno was helped by therapy and medication. However, she was eager to find out how to continue living her life and get things done while she was depressed. In the absence of existing resources and dealing with other challenges to her health including myasthenia gravis (a debilitating autoimmune neuromuscular disease) and polycystic ovarian syndrome, she created her own strategies. Note: This advice is not intended to cure or treat depression but to help you better manage the rest of your life while living with depression.

1. Be proactive.

It’s a cliche because it’s true — the best defense is a vigorous offense. Do you know what you’ll do the next time you’re depressed? “In order to make a plan, you need to know two things: your symptoms of depression and the strategies that work for you,” Gimeno explains.

While mental-health professionals and physicians have uncovered many common symptoms of depression — such as feelings of anxiety and hopelessness; changes in sleep, appetite and energy; inability to concentrate — Gimeno says it’s important for you to pinpoint your individual signs. It could be sleeping too much or barely sleeping at all, losing your appetite or wanting to eat all the time, excessive irritability or excessive apathy, or anything else. Your signs don’t have to be only physical, however — they may be specific behaviors. For example, writer Chris Dancy has noticed that when he’s feeling depressed he spends much more of his time using particular apps (in his case, Twitter, Fitbit and Facebook).

Next, you need to identify helpful actions that you can take as soon as these symptoms arise. Gimeno asks: “What do you need when you get depressed? Is it faith, is it family, is it friends, is it exercise, is it reading, is it listening to music?” Note: Your go-to activities should be ones that can truly make you feel better, not just cope, and also ones that won’t make you feel worse in the long run. While eating a pint of ice cream is one coping strategy, getting ice-cream with a friend or family member is a better tactic to take. Be prepared to act whenever you notice an episode of depression is beginning for you. As Gimeno says, “Know yourself, plan now, don’t wait.”

2. Zoom in on what’s most important for you to accomplish.

For Gimeno, this means prioritizing her to-do list. She says, “If something’s due today, it gets 4 stars; if it’s due tomorrow, 3 stars; sometime this week, 2 stars, next week [or later], 1 star. And when I’m depressed, I ignore anything that has less than 3 stars.”

Urgency isn’t only about getting things done, she says. It’s “also about being able to say no to non-essential tasks. So, meeting your work deadline is essential; the church bake sale is non-essential. When we say yes to everything, we amplify our stress.”

3. Figure out the difficulty of your tasks, and let this guide your actions.

Gimeno says, “When I’m depressed, I label all tasks as a 1, 2 or a 3. If it’s an easy task, it’s a 1; examples include eating breakfast or taking a shower. If it’s a moderately difficult task, it’s a 2, and a 3 is reserved for difficult tasks. For example, finishing a paper in college, scheduling an appointment with your child’s teacher, or meeting a difficult work deadline.”

If she’s in the midst of an episode of depression, she explains, “I focus on finishing all the 1 level tasks first. And every time I cross something off my list, even if it’s taking a shower, I feel empowered … And as I finish off all the 1 and 2 level tasks, I build the confidence to tackle the 3 level tasks.”

When it’s possible, she also tries to turn 3 tasks into 1s or 2s. For example, when she’s depressed, working out for 30 minutes is a 3. But working out for just 10 minutes makes it easier to accomplish, so that’s what she does.

Despite all her best efforts, plans and lists, Gimeno admits that there are still days when illness wins. Know that’s OK, and don’t add to your suffering by beating yourself up because you’re human. She says, “I want to share this with anyone who … fights depression or who loves someone that does. Yes, depression is real. But hope is real. Courage is real. Resilience is real.”

Watch her TEDxPilsenWomen Talk now:

Full link: https://ideas.ted.com/what-can-you-do-when-youre-flattened-by-depression-plan-for-it/

Collection – What to Put on Your Résumé When You Have Nothing to Put on Your Résumé

http://money.com/money/5652138/resume-tips-college-students/?cid=424533&did=424533-20190829&mid=24039599649&utm_campaign=daily-money_newsletter&utm_content=082919&utm_medium=email&utm_source=money.com

Staring down at my resume well into my twenties, I had a gut-punch realization that a career change would mean more than a new degree and a will to succeed — I wanted to be a writer and I hardly had enough to fill a Post-it note, much less a sheet of paper.

It felt like a cruel joke, and unfortunately I’m not the last person to ever feel victimized by it.

If you’re one of the three million people who just graduated with their associate’s or bachelor’s degree, a current student hoping to land your first internship, or trying to start a new career, it’s daunting to submit a resume that looks like it’s starving for more.

Fortunately, Andrei Kurtuy, the chief communications officer and co-founder of online resume and cover letter builder Novorésumé, has some ideas for filling those spaces with useful content — without having to experiment with font size.

Courtesy of Novorésumé

Here, we see John Smith’s resume. It’s stacked, right? Well a breakdown of each section shows us just how achievable that is, even when it feels like you have nothing good to share on your resume:

Introduce Yourself

This matters above all else — pretty literally.

State whether you’re a student, recent graduate, or a working professional hoping for a career change, and follow it up with a short summary to set the tone. The summary is just one or two sentences describing the following: who you are in terms of your work ethic, what you’d like to achieve with this job search (or why you’re job hunting), and what you’d like to work towards once you get there.

Kurtuy advises against including a picture on your resume and avidly against unprofessional email addresses.

“This has been said so many times online, but we still see people with unprofessional email addresses,” he said. “And if you have experience or not, when they see that the email is unprofessional, they would just not consider it.”

A professional email address would be some combination of your first name and your last name, meaning nothing about your hobbies, adjectives that describe you, or your high school mascot. Avoid numbers if possible.

Focus on Your Skills

These will footnote your resume well into your career, but when you’re lacking in the experience department, they take center stage. Include your soft skills and your technical skills.

Your soft skills will be personal attributes that require no tools per say, but apply to a work environment. John Smith included time management, teamwork, and storytelling under this section on his resume, but other young applicants might also consider including things like organization, problem solving, or self-motivation. There is no shortage of options.

For technical skills, consider any program or website that you’re good with and how to fit it into your narrative. The know-how to use Reddit or the ability to shoot and produce YouTube videos with nothing but a cell phone are actually things that could set you apart. And remember that when you’re starting out, even the tools you think are most obvious are useful to include …and yes, that means Microsoft suite applications like Powerpoint.

John Smith, a marketing hopeful, featured Excel and Powerpoint under his Technical Skills, but left Microsoft Word out. He also created a section just for Digital Marketing to highlight the skills needed for the position he’s vying for.

Volunteer work

Give “Volunteer Work” a separate section and talk about it like you would work experience: Your role, name of the organization, time period, and a couple of bullet points describing metrics, achievements, or general participation.

“We’ve talked to some recruiters, and [they’re] actually seeing volunteer experience as work experience,” said Kurtuy. “The work and tasks that you have there are similar to the ones that you will have in the workplace.”

This includes time spent at a food or animal shelter, but it certainly isn’t limited to philanthropic volunteer work. It could also mean helping your school club promote itself using social media the way John Smith did, or doing administrative work for a company you believe in — any organizational cause you’ve put unpaid hours towards.

Special Projects

This goes for personal projects or projects at school. Bonus points if the project applies to a passion that’s relevant to the job you’re applying to, like the book club John Smith co-founded specifically for people in his industry.

Even more bonus points if you had to work with others to complete it, which would help bulk up other parts of your resume.

“You learn verbal communication [and] teamwork, so you can mention that [under ‘soft skills’]. And then in the project, [say] ‘I worked with four colleagues to find…’” and then state whatever the conclusion of the project is, suggests Kurtuy.

Hobbies & Interests

And if you’re still lacking, make sure you talk about how you use your time outside of school or work. This applies even if your extra time is spent doing something commonplace like reading, as Kurtuy shows us using John Smith as an example.

“If you apply for a first time job in marketing, you should add [that] your hobby is reading and then you should say ‘I’m reading the Journal of Marketing and I’ve read these last three issues where I learned about…’”

The point is to find a way to talk about what your interests have done for you personally or professionally.

Summer Activities

For current students and new graduates, talking about how you use your extra time also means talking about your summer vacations. Did you have a summer job? Put that under work experience.

“Even if you just sold ice cream, you can put ‘Communications skills’ or ‘Sales skills’ and be like, ‘I improved the sales of the ice cream by like 20 or 30 percent per day by doing something.’”

Did you take classes? Talk about them: Create a section entitled “Summer Classes” or “Summer School” and use subheads to name each course. Then dive into details about the skills you developed in these classes, the grades you made, or any pertinent takeaways.

By PRACHI BHARDWAJ

Full link: http://money.com/money/5652138/resume-tips-college-students/?cid=424533&did=424533-20190829&mid=24039599649&utm_campaign=daily-money_newsletter&utm_content=082919&utm_medium=email&utm_source=money.com

Collection – 7 Best ETF Trading Strategies for Beginners

Main Image 1

Exchange-traded funds (ETFs) are ideal for beginning investors because of their many benefits likes low expense ratios, abundant liquidity, wide range of investment choices, diversification, low investment threshold, and so on. For more, see Advantages and Disadvantages of ETFs.

These features also make ETFs perfect vehicles for various trading and investment strategies used by new traders and investors. Here are our seven best ETF trading strategies for beginners, presented in no particular order.

KEY TAKEAWAYS

  • ETFs are an increasingly popular product for traders and investors that capture broad indices or industry sectors in a single security.
  • ETFs also exist for various asset classes, as leveraged investments that return some multiple of the underlying index, or inverse ETFs that increase in value when the index falls.
  • Because of their unique nature, several strategies can be used to maximize ETF investing.

Dollar-Cost Averaging 

We begin with the most basic strategy: dollar-cost averaging. Dollar-cost averaging is the technique of buying a certain fixed-dollar amount of an asset on a regular schedule, regardless of the changing cost of the asset. Beginner investors are typically young people who have been in the workforce for a year or two and have a stable income from which they are able to save a little each month. Such investors should take a few hundred dollars every month and, instead of placing it into a low-interest saving account, invest it in an ETF or a group of ETFs.

There are two major advantages of such periodic investing for beginners. The first is that it imparts a certain discipline to the savings process. As many financial planners recommend, it makes eminent sense to pay yourself first, which is what you achieve by saving regularly. The second is that by investing the same fixed-dollar amount in an ETF every month—the basic premise of dollar-cost averaging feature—you will accumulate more units when the ETF price is low and fewer units when the ETF price is high, thus averaging out the cost of your holdings. Over time, this approach can pay off handsomely, as long as one sticks to the discipline.

For example, say you had invested $500 on the first of each month from September 2012 to August 2015 in the SPDR S&P 500 ETF (SPY), an ETF that tracks the S&P 500 index. Thus, when the SPY units were trading at $136.16 in September 2012, $500 would have fetched you 3.67 units, but three years later, when the units were trading close to $200, a monthly investment of $500 would have given you 2.53 units. Over the three-year period you would have purchased a total of 103.79 SPY units (based on closing prices adjusted for dividends and splits). At the closing price of $210.59 on Aug. 17, 2015, these units would have been worth $21,857.14, for an average annual return of almost 13%.

Asset Allocation

Asset allocation, which means allocating a portion of a portfolio to different asset categories such stocks, bonds, commodities and cash for the purposes of diversification, is a powerful investing tool. The low investment threshold for most ETFs—generally as little as $50 per month—makes it easy for a beginner to implement a basic asset allocation strategy, depending on his or her investment time horizon and risk tolerance. As an example, young investors may be 100% invested in equity ETFs when they are in their 20s because of their long investment time horizons and high risk tolerance. But as they get into their 30s and embark on major lifecycle changes such as starting a family and buying a house, they may shift to a less aggressive investment mix such as 60% in equities ETFs and 40% in bond ETFs.

Swing Trading

Swing trades are trades that seek to take advantage of sizeable swings in stocks or other instruments like currencies or commodities. They can take anywhere from a few days to a few weeks to work out, unlike day trades which are seldom left open overnight. (See Pros & Cons of Day Trading vs. Swing Trading)

The attributes of ETFs that make them suitable for swing trading are their diversification and tight bid/ask spreads. In addition, because ETFs are available for many different investment classes and a wide range of sectors, a beginner can choose to trade an ETF that is based on a sector or asset class where he or she has some specific expertise or knowledge. For example, someone with a technological background may have an advantage in trading a technology ETF like the Invesco QQQ ETF (QQQ), which tracks the Nasdaq-100. A novice trader who closely tracks the commodity markets may prefer to trade one of the many commodity ETFs available, such as the Invesco DB Commodity Tracking ETF (DBC). Because ETFs are typically baskets of stocks or other assets, they may not exhibit the same degree of upward price movement as a single stock in a bull market. By the same token, their diversification also makes them less susceptible than single stocks to a big downward move. This provides some protection against capital erosion, which is an important consideration for beginners.

Sector Rotation

ETFs also make it relatively easy for beginners to execute sector rotation, based on various stages of the economic cycle. (See: Sector Rotation: The Essentials)

For example, assume an investor has been invested in the biotechnology sector through the iShares Nasdaq Biotechnology ETF (IBB). With IBB up 137% over the preceding five years (as of Jan. 31, 2018), the investor may wish to take profits in this ETF and rotate into a more defensive sector like consumer staples via the Consumer Staples Select Sector SPDR ETF (XLP).

Short Selling

Short selling, the sale of a borrowed security or financial instrument, is usually a pretty risky endeavor for most investors and hence not something most beginners should attempt. However, short selling through ETFs is preferable to shorting individual stocks because of the lower risk of a short squeeze – a trading scenario in which a security or commodity that has been heavily shorted spikes higher – as well as the significantly lower cost of borrowing (compared with the cost incurred in trying to short a stock with high short interest). These risk-mitigation considerations are important to a beginner.

Short selling through ETFs also enables a trader to take advantage of a broad investment theme. Thus, an advanced beginner (if such an obvious oxymoron exists) who is familiar with the risks of shorting and wants to initiate a short position in the emerging markets could do so through the iShares MSCI Emerging Markets ETF (EEM). However, please note that we strongly recommend beginners stay away from double-leveraged or triple-leveraged inverse ETFs, which seek results equal to twice or thrice the inverse of the one-day price change in an index, because of the significantly higher degree of risk inherent in these ETFs.

Betting on Seasonal Trends

ETFs are also good tools for beginners to capitalize on seasonal trends. Let’s consider two well-known seasonal trends. The first one is called the sell in May and go away phenomenon. It refers to the fact that U.S. equities have historically underperformed over the six-month May-October period, compared with the November-April period. The other seasonal trend is the tendency of gold to gain in the months of September and October, thanks to strong demand from India ahead of the wedding season and the Diwali festival of lights, which typically falls between mid-October and mid-November. The broad market weakness trend can be exploited by shorting the SPDR S&P 500 ETF (SPY) around the end of April or the beginning of May, and closing out the short position in late October, right after the market swoons typical of that month have occurred. A beginner can similarly take advantage of seasonal gold strength by buying units of a popular gold ETF, like the SPDR Gold Trust (GLD), in late summer and closing out the position after a couple of months.

Note that seasonal trends do not always occur as predicted, and stop-losses are generally recommended for such trading positions to cap the risk of large losses.

Hedging

A beginner may occasionally need to hedge or protect against downside risk in a substantial portfolio, perhaps one that has been acquired as the result of an inheritance. Suppose you have inherited a sizeable portfolio of U.S. blue chips and are concerned about the risk of a large decline in U.S. equities. One solution is to buy put options. However, since most beginners are not familiar with option trading strategies, an alternate strategy is to initiate a short position in broad market ETFs like the SPDR S&P 500 (SPY) or the SPDR Dow Jones Industrial Average ETF (DIA). If the market declines as expected, your blue-chip equity position will be hedged effectively since declines in your portfolio will be offset by gains in the short ETF position. Note that your gains would also be capped if the market advances, since gains in your portfolio will be offset by losses in the short ETF position. Nevertheless, ETFs offer beginners a relatively easy and efficient method of hedging.

The Bottom Line

Exchange-traded funds have many features that make them ideal instruments for beginning traders and investors. Some ETF trading strategies especially suitable for beginners are dollar-cost averaging, asset allocation, swing trading, sector rotation, short selling, seasonal trends and hedging.

By 

Full link: https://www.investopedia.com/articles/investing/090115/7-best-etf-trading-strategies-beginners.asp?utm_source=personalized&utm_campaign=bouncex&utm_term=17917809&utm_medium=email

Collection – How to double the odds that your change program will succeed

Large-scale organizational change is more likely to stick if executives apply equal discipline and rigor to the hard and soft elements that matter.

Hello, and welcome to this episode of the McKinsey Podcast, with me, Simon London. There is an oft-quoted statistic that about 70 percent of organizational-change programs fail to meet their objectives. This sobering fact actually comes from McKinsey research of a few years ago. And of course, it invites the question from executives, “Is there anything we can do to radically increase the chances that our change program will succeed?” The good news is, that yes, based on years of additional research and experience, we can say categorically that there is a way to flip the odds. The methodology is laid out in a new book, Beyond Performance 2.0: A Proven Approach to Leading Large-Scale Change [John Wiley & Sons, July 2019]. The book is actually a thoroughly revised and updated edition of the original Beyond Performance: How Great Organizations Build Ultimate Competitive Advantage [John Wiley & Sons, 2011], reflecting a decade of additional research into the science of organizational change.
Simon London
1:22
To find out more, I caught up in Chicago with the authors of Beyond Performance 2.0, McKinsey senior partners Scott Keller and Bill Schaninger.
Simon London
1:34
So, Scott and Bill, you’ve both done this before, but welcome to the podcast.
Scott Keller
1:39
Great to be here.
Bill Schaninger
1:40
Thank you for having us.
Scott Keller
1:40
Thanks for having us.
Simon London
1:41
You’ve written a book about organizational change, change management. And I think you would concede there are a lot of books out there on this topic. So why add to the pile?
Scott Keller
1:51
The promise of transformational change, which people use as a phrase often, what do they really mean by that? One analogy we use from nature about what people are trying to get at is the analogy of the caterpillar to a butterfly. And, why is that transformational change and not just change like you change your tires, you change your shirt, you change your shoes.
Scott Keller
2:13
The key thing we think about in that kind of transformational-change environment is, you think about a caterpillar to a butterfly, this thing can’t go back. To achieve change on the order of magnitude where it truly is a fundamental shift in how our organization operates that’s self-perpetuating and self-improving upon, that just from a professional standpoint to help organizations and to help human beings achieve that level of change, that gets really exciting.
Scott Keller
2:38
That’s the type of change we’re talking about in the book. Everyone sets out for a caterpillar-to-butterfly change. You look at ten people in a room, and you say, “Great, you’re going to go do this. Oh, by the way, seven of you are going to kind of waste your time.” It’s not good enough for our clients. “It’s not good enough for humankind” is sort of an underlying ethos of what we have. And so our view is, is there something new under the sun to share in the space? And we think there is. So why this book amidst all that, is because it actually says something different and something that we know works.
Simon London
3:07
There’s this number that gets kicked around a lot, like rule of thumb: 30 percent of big change efforts succeed; 70 percent, frankly, don’t meet their targets. That’s what you’re talking about when you’re talking about the numbers and the success rates.
Bill Schaninger
3:21
We are. There’s a known set of things. It’s not mystical. That you can get that number, a likelihood of success up closer to 80 percent, but it’s not easy. It does require resilience and “stick-to-itiveness.”
Bill Schaninger
3:33
And also it’s not simple like, oh, one bullet’s going to fix it. The more units you have, you have more people identifying with something smaller and smaller pieces that aren’t the overall entity. Now you’re trying to get all these people to do something different.
Bill Schaninger
3:46
At its core, there’s the metachange, which is the organization has to be faster. It has to make more money. Or it has to spend less, or it has to come out with new product lines quicker, all those sorts of things that are normal. One step underneath that, you go, “Oh wait, we do have 200,000 employees in 50 countries.”
Bill Schaninger
4:04
How are we going to get them to do this? That’s the essence of it. The essence that the organization, itself, while an interesting construct, works or fails whether or not you get every individual in the organization to think and behave differently in a sustained manner in pursuit of something common. That’s the hard part.
Simon London
4:21
So just to clarify because it’s quite a big claim, that we think that if an organization follows the approach outlined in the book, they can get their odds of success up from the 30 percent closer to 80 percent.
Scott Keller
4:33
I would say we are reporting the facts when we say that. If the answer was 50 percent or if the answer was 33 percent, we would be bound to report the facts. We are saying that. Absolutely.
Bill Schaninger
4:43
The type of research we’ve done now over a decade, 2,500 organizations—had I stayed in academics and not joined McKinsey, I would’ve been the toast of academia for this data set. These findings are spectacular in a way that says, “Hey, actually there’s an interesting relationship here.”
Simon London
5:00
So let’s get to the meat. What’s the big idea?
Scott Keller
5:04
The big idea, if you want to see an increase from the 30 percent success rates to the 79 percent success rates, if you want to see caterpillar-to-butterfly results in terms of your change management, is to do what we call putting equal emphasis on the performance and the health elements of the change program you’re leading. Let me talk about each of those.
Scott Keller
5:25
First, on the performance side of things, this is what you’re doing to deliver the operational and financial results that you’re looking for. If I use a manufacturing example, this is what you’re doing to buy things cheaper or of higher quality. It’s what you’re doing to make them into something else, more efficiently or more effectively. It’s what you’re doing to sell them into the market and service them better than you would have before.
Simon London
5:48
The changes you’re making to your operations, broadly defined.
Scott Keller
5:52
Absolutely. It’s really the what of what you’re doing. Most leaders can get their head around that and say, “Yes. I know what I want to do when I take over this department or this business or this company in terms of what needs to be done to improve performance.”
Scott Keller
6:06
What doesn’t often happen is that they put equal emphasis, time, effort, rigor, into the health side of the change. What’s the health side? The health side is how do I align the organization on the direction we need to go? How do we execute in that direction with minimal friction in the system? How do we create a sense of meaning and renewal that fuels and perpetually improves the organization as we go? Performance is kind of the buy, make, sell side, then health is the align, execute, renew side of the change.
Scott Keller
6:45
What organizational health is is it’s a way to measure and manage that alignment, execution, and renewal as you’re doing the work of the what—quite frankly, in an integrated way, which is what we’ll get into when we talk about the methodology. Most leaders, by the way, when you share that with them, are intuitively like, “Yeah, I mean, of course, we need to align the organization on the direction. We need to execute without friction in the system.”
Simon London
7:07
You’ve got to address the people stuff.
Scott Keller
7:09
We’ve got to do that. But if you ask them, “Well, what would you do with 50 percent of your time if you’re going to do that stuff?”
Scott Keller
7:14
After town halls and memos, most people run out of like, well, I don’t know. Which is where Beyond Performance 2.0 comes in is because it’s a tool kit and a playbook for how you manage the people side of the equation with equal discipline and rigor to how you’d manage the what, or the performance side.
Simon London
7:32
All right. So let’s talk a little bit about the change journey. In the book, you described it as being, basically, in five phases or stages. Just elaborate on that a little bit.
Scott Keller
7:41
Any change journey typically follows kind of an S-curve. That journey can be broken up, and we break it up into five stages.
Scott Keller
7:48
The first stage is the aspiration stage. It’s where you’re actually trying to go. It sounds pretty basic, but you’ve got to have an answer both on the performance side—what are our strategic objectives? And on the health side—what are our health goals? It’s less clear to a lot of leaders on how do you set health goals. Once you’ve got that, you’ve got a great kind of light on the hill, if you will.
Scott Keller
8:08
That’s our aspiration. What’s an often-missed step and why our change journey has five steps instead of three, which a lot of them do. A lot of times you’ll hear, “You know, hey, diagnose, design, deliver.” Once you have that light on the hill, it’s absolutely imperative that you take stock of your change readiness to go there [which is step two, assess].
Scott Keller
8:26
The skill and will of your organization or the capabilities and mind-sets is the way we talk about it. That gives you a lot more information in terms of what you’re going to need to do when you get to step three, which we call the architect stage. In the architect stage, you’re actually creating the plan. And then you’ve got what we call the act stage, which is the fourth stage.
Scott Keller
8:43
Now that stage actually takes most of the time. That’s the steep part of the S-curve. You’re actually doing those things you planned to do, or you’re building the blueprint that you created. You are asking people to ride the bike while they’re changing the tires. You are asking them to do more, so there’s a lot of work to be done in that act phase in terms of being able to adjust as you go and to be able to manage the energy during the process. That’s stage four.
Scott Keller
9:06
Then you get to the fifth stage [advance], which is, again, why we have five often missed, which is you get to the top of that S-curve. Many change programs have a pretty big infrastructure to help drive them because this is an extraordinary act of increasing the metabolism of the organization.
Scott Keller
9:23
There are PMOs [project-management offices] or transformation officers. There’s a whole set of infrastructure. There’s a whole set of the way communications work. To just dismantle those and to kind of let everything go back to where it was is typically a recipe for that S-curve not to look like an S but to look like a mound.
Scott Keller
9:38
Things will revert back to the way they were before. To thoughtfully transition into a stage of continuous improvement is what that advance stage, that last stage, does.
Bill Schaninger
9:46
At the end of that fourth and fifth stage, you’re looking back and saying, “Actually, we’re permanently changing the operating model. We’re permanently changing the cadence and tenor and tone of management meetings and who gets to be in management.” It is as close as we can get to the switch to the butterfly because you dismantle all the old stuff.
Simon London
10:07
So let’s assume I’ve done my aspiration both on the performance side and on the health side. I’ve got a sense of where I want to go, the kind of critter I want to be as an organization. What goes into that second stage?
Scott Keller
10:18
Stage two is really the crux of why we believe we achieve truly transformational change in that caterpillar-to-butterfly sense. It’s that step two that when missed, people miss the opportunity for that fundamental shift in how an organization approaches work.
Bill Schaninger
10:34
If you lay out the scale of the change that’s necessary on the performance side and some of the things that you should be doing seem obvious, then we should ask the question, “Why would an otherwise well-intended person not already be doing it?” You could have the people who are buying the equipment in procurement talk to the frontline operators who are using the equipment in the field. You get a blank stare and an “Oh, why would we do that?”
Bill Schaninger
11:00
So this idea of mind-sets and prevailing sentiments, if you think about when people behave, you know, they’re not robots. They are all trying to solve for something. But particularly when you get to the lack of adoption of things that seem obvious, it does tend to break into things where it’s not clear to them that they’re allowed to do it, or they don’t believe that they can either through time or resources, which is really just saying a priority thing. Or they don’t want to.
Bill Schaninger
11:24
Sometimes the want to do stuff is really sticky, and it’s intractable. Scott has a spectacular way of doing this with top teams where we can tease out some of these “I-don’t-want-tos” because that gets into the world of power, influence, legacy, relationships, just wanting to be liked and accepted. There’s a lot of smart people who have been derailed by those things.
Simon London
11:46
Do you find that senior execs, CEOs are often reluctant to tackle mind-sets?
Scott Keller
11:52
Yes. We find that’s the case, and [that is] because it’s, typically, the one they feel less equipped to add value or drive in terms of knowing what to do. It also feels a bit like, “Are we putting our employees on the couch and being armchair psychologists here?”
Scott Keller
12:08
However, once they’re introduced to a robust tool kit, there’s an interview technique called laddering that is used. There’s a number of focus-group techniques that leverage visual cues as opposed to kind of traditional let’s-just-talk-about-it type things that really surface underlying thought processes.
Scott Keller
12:23
There’s also a whole level of what they call QDA, qualitative data analysis. Most people are familiar with word clouds. That’s a very simple version of qualitative data analysis. You can run a number of analyses that can give you lots of good cues and good evidence for what underlying mind-sets might be in an organization. Then the last thing, I think, when you play it out for leaders just in terms of practical—how does this actually work and why would you tend to it—most leaders are onboard right away.
Scott Keller
12:47
Let me give you an example. Let’s say your strategic objectives are we want to double share price. How are we going to do that? We’re going to cross-sell more, bring the whole firm to our clients or the whole company to our customers. Essentially, that’s the strategy. That’s your strategic objective.
Scott Keller
13:02
What are your health goals? Let’s just say the analysis takes you to the health objectives of let’s increase customer focus, let’s get more knowledge sharing, let’s improve how we do performance management—these changes to how we run the place that’ll make the biggest difference.
Scott Keller
13:14
We just finished the aspire stage. Now in that assessstage, on the performance side, you’re going to assess capabilities. Do we have the capabilities we need? If not, where can we get them? You’re going to get really sharp on that. Well, let me go to the health side because this is the mind-set piece. When you play this through, what would most companies do if they just went straight to action if they need more knowledge sharing? Most companies would look for the companies who do this well. They would find that most of those companies have a large information infrastructure, kind of a portal that you can upload data on and download data on.
Simon London
13:46
Yeah, that’s not so with knowledge management.
Scott Keller
13:48
Totally. They would invest hundreds of millions of dollars potentially building this knowledge infrastructure. What would most companies do for performance management? Similar, they’d look at best practice. They’d find that the years of the annual performance review and long-winded forms are done. They would go to form-light, regular-basis conversations, and they’d say, “OK, that’s going to really help us on performance management.”
Scott Keller
14:10
Customer focused, they’d say, “Well, what do great customer-focused, sales-oriented organizations do? They have salespeople who profile customers really well and understand their needs. They also know the product set really well, and so they match those two. Let’s build scripts for our salespeople to ask the right questions, let’s educate them on knowledge.” That’s going to cost a ton of money to do all that. It might be the right thing to do.
Scott Keller
14:36
To Bill’s point, why are smart, hardworking people who are generally well intentioned not sharing knowledge today? You do the laddering interviews. You do the focus groups using some visual cues and different techniques. You do the QDA. Pretty quickly, you find, wow, here’s the way people think.
Scott Keller
14:53
They might not consciously think it. But they’re introduced into and indoctrinated into a culture where the mind-set that predominates is that knowledge is power: “If I share my knowledge, I lose my advantage; if I share my knowledge, I find places for other people to poke holes and see what’s going wrong; my goal is to not share any knowledge; my goal is to use the knowledge I have to actually let my performance be better than the next person.”
Scott Keller
15:19
Now if you put in a big knowledge-management system and the mind-set is knowledge is power, people will give it lip service. They’ll fulfill the KPIs [key performance indicators]. I submitted three things last month. And they’ll never share anything of value.
Scott Keller
15:30
They’ll never draw on it for anything because they’ll know it’s useless. Now if you shifted the mind-set to, “Your power in the organization is proportional only to the extent to which you share your knowledge”—if that was the mind-set, you probably wouldn’t need the technology infrastructure. You probably would have people self-organizing into centers of excellence saying, “Hey, let’s share how we do this purchasing thing across the world. Let’s share best practices.” They would find out who knows what, and they would get on the phone. You still might put in a system, but it’s a completely different result.
Scott Keller
16:01
Let me take the other two just because it really brings it to life. Performance management: if people think, “You know what, giving people real feedback is a fast track to destroying relationships,” no one wants to hear it. I’m not going to be the person who’s going to do that. I want everyone to like me because that’s a totally different mind-set than a mind-set that says, “Real relationships have a foundation of honesty.” That’s the only way to establish real trust with people. If you approach a performance review with that mind-set, it kind of doesn’t matter what the forms are. It’s just going to be a different conversation.
Scott Keller
16:35
With salespeople, there are people who believe, “My job is to give the customer what they want.” It’s not a bad mind-set. A smart, hardworking, well-intentioned person could very well believe that. That’s kind of their operating system. Great salespeople say, “My job is not to be a subordinate to the person across from me, to kind of be the order taker, to give them what they want. My job is to add value in this conversation. My job is to help them understand what they really need.”
Scott Keller
17:04
I don’t need a script if that’s my mind-set because I will ask all of the questions that the company wants me to be asking. I will find out the product information. As soon as you get into this mind-set realm, you get to the root cause of why smart, hardworking, well-intentioned people aren’t already behaving in the way that you want them to behave from a management-practice standpoint. You’ve unlocked the key to transformation because if you can shift that mind-set, people can’t go back.
Simon London
17:27
OK. But the downside of this is that once you’ve unlocked the Pandora’s box of mind-sets, then you’ve got to change those mind-sets. Let me put this to you, Bill. When you come to the stages that follow, when you come to the architect and act, what’s the trick? Actually how do you change mind-sets across an organizations? That sounds like a mighty hard challenge.
Bill Schaninger
17:52
Well, I think one of the things that Scott was getting at there is that once you unlock it, you can’t unknow it. You have to do something about it. It’s also you’re not doing 20 of these. In that case, actually really understanding what everyone knows was important, because you’d work on that one.
Bill Schaninger
18:08
I spent a ton of time with heavy-industrial companies where capital allocation and capital productivity was important. We discovered that along their seven-step, beautiful process was seven steps of padding.
Bill Schaninger
18:19
What it really came down to, when you teased it out, was that it was better to be predictably mediocre than to be usually brilliant and occasionally really wrong. If you were to look at that kind of idea, a normal distribution of performance would be to be aggressive, push for what your really can, drive for value, drive for reliability. Every once in a while, because it’s a distribution by math, you’re going to have something on the other side of tail, and that should be OK. Because we condition people this way.
Bill Schaninger
18:44
No one rolls into your employment and is automatically thinking that way. They’re conditioned. You said, “How do you architect it?” The essence of architect on the health side in a framing that we call the “influence model” is really simple. People have traits. That’s who they are. It’s their personality. It’s their competencies. It’s their aptitude. That’s all there. Then they go into an environment. That environment is created by you, the people who run the place. Then those two things come together, and it creates a state, and state increases the likelihood that you’re going to behave in a certain way.
Bill Schaninger
19:18
Now that’s the psychobabble part of it. But architect is about creating an environment that dramatically increases the likelihood that you will change how you think and behave. That’s why you pick a relatively small number of these: management practices, the ethos you want adopted, stated mind-sets that you’d like to be brought forward. You say, “OK. What’s the best way we know how to change this environment?” Four pretty simple buckets really help people understand why you’re asking them to do what you want them to do, why it’s important. And make sure you stick with it until they actually have some conviction.
Bill Schaninger
19:52
You don’t need people singing from the rooftops right out of the gate. You do need to have enough, though, that when you’re not watching, they’re going to try it. They’re going to do it. Adoption is a big deal. Storytelling is a big part of this, so is making sure that they hear the story with an ear toward something that matters to them, their sense of meaning.
Bill Schaninger
20:09
It can’t just be about the stock price. For many people, it has to be about customers, the community they’re in, their colleagues, their business unit. It might even have to be, “What does this mean for me?” There are a whole lot of rules in a workplace: the formal mechanisms, the operating model, the processes, the systems. But in short, it’s how resources are allocated, and it’s how decisions are made. Who’s involved, how fast, and with what repercussions?
Bill Schaninger
20:33
If you want people to change their behavior and change what they think is important, make it easy to comply. So many times we’ll say to people, “I want you to act like an owner; be entrepreneurial.” Then you force them to get 12 signatures to hire an assistant. That would be inconsistent. That is an early, early proof test for the employees of the organization to look at leaders and go, “You’re actually not serious.”
Bill Schaninger
20:56
That’s the first two: the understanding and conviction and the formal mechanisms. Then we think about, “Do they have the skills they need?” Most people look at something and go, “Well, if I put forth the effort, how likely is it I’m going to get the result that they want and I want? What’s the reward I’m going to get or the outcome? And does that mean anything to me?” Most people don’t want to run into brick walls.
Bill Schaninger
21:17
They want to believe that the work they’re working on is important, is material; the outcomes matter; and, by the way, they have a chance in heck of being successful. The beauty of that, of course, is people also don’t want to think it was a Hail Mary pass—in American football parlance. They don’t want to think it was chance. If it does work, they want credit for it. They also don’t want “mission impossible.” Find a balance.
Bill Schaninger
21:38
Interestingly enough, we talked about formal mechanisms, beyond the process of target setting. The actual target is hugely impactful to motivation, strong enough to be stretched, strong enough to show it’s new and matters. But it can’t be so far out that people, the minute they see it, go, “Well, that’s not mine.” That’s crazy. You have to believe you have a chance.
Bill Schaninger
21:56
The last one is role modeling. And this one, actually, between the two books, we’ve learned quite a bit about because I would say that, historically, we’ve been disproportionately focused on the value of the cascade, the leader, change leaders. They’re still all very important. But, increasingly, as we are a workforce comprised of a generation that has a lot of their actions that are digitally based, we’ve had to come to grips with the idea that influencers and opinion leaders and people in the social network, their role modeling matters way more.
Bill Schaninger
22:26
You still need the formal leader to set out the North Star, but the validation cycles and the encouragement cycles are also coming from these influencers. Being able to know who’s in that and who matters, it’s a huge deal to generating real role-modeling reinforcement, saying, “Hey, this matters. We’re going to do it. And you should do it, too.”
Simon London
22:43
So those four elements of the influence model—understanding and conviction, reinforcement and formal mechanisms, giving people confidence in the skills that they need, and then the role modeling—if you put those four things together, we think we can address a small number of critical mind-sets. It’s doable. It’s knowable, how to do it.
Scott Keller
23:03
It’s important that all of those be done in concert. Let me run the analogy of a soccer game—football, to our international folks—and an opera house. Let’s say on Friday night, you go to the opera house. During the best part of the performance, a big crescendo at the end of the opera, what do you do in the audience to show your appreciation? Well, you likely give a genteel clap.
Scott Keller
23:28
Now let’s go to the next night. You’re at the soccer finals, and your favorite team’s playing. They’re now tied, and the time is about up. A fullback steals the ball and makes a fullback run and does this amazing crossover toward the front of the goal. And it’s this big header, and it doesn’t actually go in because it hits the crossbar. But then it bounces off the back of one of the other team’s players, and then it’s in the goal, and your team wins.
Scott Keller
23:48
What do you do at the best part of the performance? Probably not a genteel clap. You’re going to be jumping up and down, throwing your cup, hugging, high-fiving, whatever. What if you had that behavior in the opera house at the best part of the performance? Well, you’d never do it. Why would you never do it? Because the role modeling is totally different. The story around the cultural significance of this event is totally different. By the formal mechanisms, you’ll get thrown out of the opera.
Scott Keller
24:13
In this particular example, you probably have the capability and skills to do either one. But employees during change are caught somewhere between a football stadium and an opera house, and it’s a totally confusing place to be. The story says football stadium, but the formal reinforcement and the consequences say opera house. The role modeling says opera house, but then the training I’m getting says football stadium. The idea is to work all four together to make it clear: “Hey, on this mind-set and these set of behaviors that relate to it, we’re in an opera house now, people.”
Bill Schaninger
24:46
By social norms, even if you don’t have a rule—I mean, in some cases, you have a rule, in some cases you don’t have a rule—you’ve just been told, “We don’t do that around here.” It’s unbelievable how, over generations of employees, that impacts how people behave.
Simon London
24:57
It’s striking me, there’s a common theme here around asking people. How do you find out what mind-sets are? You need to ask people. You need to do structured interviews, laddering techniques, these kind of things. But, ultimately, you need to talk to the people to understand what the people are feeling and how they’re thinking. You’d have to do that.
Scott Keller
25:17
You do. You have to have an approach, a methodology, an expertise, to not just tell them the time by looking at their watch. What gets exciting is, people could never pick the management practices that typically the predictive analytics will show are the management practices to focus on. People typically are not conscious of the mind-sets that are kind of underlying the culture—or the unlocks. When you elevate these, what you get is this really wonderful feeling in the organization. Bill’s felt it, too. It’s this, “Finally we’ve surfaced the real stuff. We’re actually having real conversations.”
Bill Schaninger
25:54
There’s one thing I want to add about that because there’s a legacy of old human-dynamics consultation, or even some of the old process consultation. A lot of that would’ve been divorced from the performance side. We used to do a ton of safety work and reliability work in plants. Sometimes you’d find organizations that had allowed themselves to fall into this idea that cost effectiveness was the enemy of safety and reliability. It’s the classic false trap. Sometimes you’d start a conversation and say, “Well, you know, the safest plant is the one that’s not running.”
Bill Schaninger
26:25
Surely we don’t mean that. But we might be really saying, “We need a plant that’s safe, makes products reliably on spec, and actually has an opportunity to turn a fair margin to justify the capital,” because in those places, it’s like a couple billion dollars of capital on the ground. We’re just trying to get them to handle that we’re not willing to sacrifice, but there is an “and.” It’s not an “either–or.”
Simon London
26:44
That hints at a failure mode here: that even if an organization and senior management accepts they need to be working on the performance side and the health side, they’ve got to be working at it together. These aren’t two separate workstreams with separate teams that aren’t talking to each other. Is that something that we see in practice?
Scott Keller
27:02
Yes. It absolutely is. And it’s a huge failure mode.
Scott Keller
27:05
When performance is thought of as, “That’s what our business leaders are going to do,” and health is, “Hey, can the head of HR sponsor that?,” and it’s run largely as, “That’s the HR stuff, and this is the business stuff,” that never ends up going well.
Bill Schaninger
27:15
Never works.
Scott Keller
27:16
Starts out fine.
Simon London
27:17
It’s all business.
Scott Keller
27:18
It’s all business. It’s an integrated steering-committee approach, sponsorship approach. Again, nothing against HR—HR has a wonderful role to play in all this. But it’s not solely the domain of HR, nor is performance solely the domain of the CFO, for example.
Bill Schaninger
27:32
In fact, now, when we see the setup, the antennae immediately go up, and we go, “No, actually, we’d like you to put a BU [business-unit] leader in there with the head of HR. By the way, we’d like the head of talent to be over in those two performance initiatives because, frankly, you have no idea how your people are going to start doing that.”
Scott Keller
27:47
In the beginning of these large-scale change programs, there typically is a health team and a performance team working together. By the time you get to that phase three, where you’re architecting the program, and by the time you get into the act stage, for sure, it’s actually indistinguishable to the employees who are experiencing this what’s performance and what’s health.
Scott Keller
28:06
Those four levers for shifting mind-sets that Bill talked about, you literally would take all of your performance initiatives, and you would ask all of those to build into their plans, “How are you improving our health using these levers to get at those practices and those mind-sets that we need?”
Scott Keller
28:23
Then it turns out, the work of performance does the work of health for you. Everyone’s experiences on how health can actually improve performance are like, “Wow, this actually going really well, and we’re getting great results. Who would’ve thought?”
Simon London
28:33
So if you had to think about other failure modes, even for organizations that, on the surface, get that they’ve got to be working on two sides at once, they’ve got to be addressing performance and health, what are the things where you see organizations typically will go wrong?
Bill Schaninger
28:49
Well, two come to mind for me. One is if you get an economic shock during the period of the effort, and you resort to type—the first time you have to announce a surprise, you know, to the markets. You go, “OK, we’re stopping all this, and we’re going just to cost or something else.” So you deviate. That would be one.
Bill Schaninger
29:07
The other, I think, is tolerance of a leader who is just not living up to it. They know where they all are. Everyone knows everything, particularly leaders who aren’t really living up to the what we’re calling here “health aspiration.” They’re just not behaving the way that you want them to.
Simon London
29:22
Well, and this is the role modeling.
Bill Schaninger
29:24
One hundred percent. You will immediately signal, this really isn’t that important. There are others, but those two [are critical] to me. The first test is always going to come, and will you carry people who aren’t living up to what it means to be a leader in that organization?
Scott Keller
29:40
Yeah. I’ll just add a couple. First of all, we really hoped, in a way because we thought it would be counterintuitive and kind of push the envelope, that we could say, “Actually, you know, the role modeling of the CEO or the top team is far less important than what we all thought.”
Scott Keller
29:54
It turns out, it’s just as important as what we all thought, if not more. We sometimes describe it as the “gear-reduction theory of management,” which is, you’ve got a big gear that can turn one direction, one way, one click, and then a littler gear beneath it—you know, at the next level. It kind of goes three or four clicks, and you go down. The next one’s spinning, and you go all the way to the front line. You’ve got this “bzzz!” just because of one little decision or comment up at the top.
Simon London
30:17
Yeah, the signaling.
Scott Keller
30:19
Then the CEO or the senior leader kind of decides to go backward one click. Actually, I didn’t mean that. So there’s shearing beneath it. It’s a visual metaphor for the power of senior leadership in organizational life. A senior leader not being onboard is a massive failure mode.
Scott Keller
30:38
The second failure mode is, to what extent can you make it personal for people, make the change personal? What do we mean by that? Let me give you an example. If you ask men age 20 to 30, “Are you in the top half of male athletic capability,” you know, 93 percent will say, “Yeah. This guy.”
Scott Keller
30:55
That makes sense, actually, because people have a natural self-serving bias to think they’re already doing what needs to be done. You want more knowledge sharing, more customer focus, better performance management.
Scott Keller
31:07
“Scott, how are you going to change?” “Oh, I’ll change.” But, secretly, I’m like, “I’ve already got this. It’s everyone else’s problem. If only they would just change.” How do you shift it to, “Hey, for things to change, first, I must change?”
Scott Keller
31:21
How do I get it to be, “My role needs to be to be even better because I need to role model the ability to change, not just that which we need to change to”? All of the kind of blame mentality or below-the-line mentality for those who are kind of steeped in the language can be let go of. Instead, an above-the-line, fully accountable, “if it is to be, it’s up to me” type of mind-set takes over. When that is in place, it’s a massive accelerant.
Scott Keller
31:48
What does it mean to me and the legacy I want to leave? What’s my role in creating a trust-based environment versus not? To what extent do I operate below the line or out of blame or out of fear versus above the line, out of passion and opportunity and hope? It sounds super soft, but I’ll tell you: super heavy impact.
Simon London
32:06
Yeah. I mean, it’s adjacent to mind-sets. It’s almost like the ultimate existential mind-set that you bring to how you live and how you work.
Bill Schaninger
32:14
One hundred percent. If you think about what we’re asking of people, in the aspiration setting, we’re asking them to change what they might have done on their own, if it was just their own backyard, toward this aspiration for the whole entity. Then we’re asking them to ask if, not just assume that, they know why the people around them and their employees are behaving the way they are.
Bill Schaninger
32:32
Then on this leadership part, we’re saying, “We’d like you to have the humility to acknowledge that, in some ways, you might not be good enough right now. Talk about it. Then have the courage to do something about it.” Huge unlock. But it is not by rote, and it’s not just a harder and faster version of yesterday’s plan.
Scott Keller
32:49
The first conversation we often have with CEOs is around this. “Do you have the humility, and do you have the courage, to pull this off?”
Scott Keller
32:57
That conversation is always a robust and exciting one. Quite frankly, we’ve walked away from a few situations where it hasn’t felt like there’s a path there. Those two features at the senior levels in particular are critical.
Simon London
33:10
All right. Well, thank you for a fascinating and important conversation, Bill and Scott.
Bill Schaninger
33:15
Thank you.
Scott Keller
33:16
Thank you. Pleasure to be here.
Simon London
33:17
And thanks, as always, to you, our listeners, for tuning in to this episode of the McKinsey Podcast. If you want to learn more, please check out the book Beyond Performance 2.0 or visit us at McKinsey.com.

By Scott Keller, Bill Schaninger, Simon London

Full link: https://www.mckinsey.com/business-functions/organization/our-insights/how-to-double-the-odds-that-your-change-program-will-succeed?cid=podcast-eml-alt-mip-mck&hlkid=0b8286a2055644e8b4fb4a6c4f664aee&hctky=2618809&hdpid=3a8aa012-367e-45e9-ae51-b7ea60c4a5f5

Collection – 11 big things: The strange world of WeWork

Where to begin? This week, WeWork unveiled one of the most anticipated IPO filings in recent memory, a rather confounding document about which many thousands of words could (and already have) been written. Buried within its 350-plus pages are a bunch of revealing, controversial and otherwise interesting nuggets about the most valuable VC-backed company in the US.

Missing, though, is any indication of how WeWork actually plans to make money anytime soon.

The past seven days brought two other major IPO filings, as well as the stunning fall of a former unicorn and a deal that could help shape the streaming wars to come. But our rundown of 11 things you need to know from the past week couldn’t start with anyone other than WeWork:

WeWork has the buildings. Can it find the profits? (igorlale/iStock/Getty Images Plus)

1. WeIPO

There’s a lot to say, and I’m still recovering from the devastating absence of the phrase “community-adjusted EBITDA” anywhere within WeWork’s IPO prospectus. So let’s just dive into the highlights, lowlights and other kinds of lights:

• The most obvious question about WeWork is how it plans to make a profit. The New York-based company’s S-1 filing revealed run-rate revenue of $3.3 billion, up 86% YoY, which is great; it also reported a net loss of more than $1.9 billion for 2018, which is more than twice as much as the company lost in 2017, which is in turn more than twice as much as it lost in 2016. That part is not so great.

The future “profitability profile” WeWork outlines in the prospectus is based on its existing locations maturing and generating additional cash. The company says it believes the timing of any future profitability “depends to a significant degree on levers we control,” referring mainly to the planning of new locations. Fewer expensive new locations, the theory goes, would lead to fewer expenditures. Which seems fair enough. But this concept also seems to be at odds with WeWork’s statements elsewhere in the filing that it plans to continue its rapid expansion.

Perhaps the most relevant statement on the matter from the IPO filing is this: “We have a history of losses and, especially if we continue to grow at an accelerated rate, we may be unable to achieve profitability at a company level (as determined in accordance with GAAP) for the foreseeable future.”

• It was difficult to ignore that the filing dropped during a week when the US stock markets experienced their biggest dip of 2019 and signs of a coming recession continued to mount. It’s long been posited that WeWork’s real estate-heavy business model could encounter stress if the economy turns south. Is it a hypothesis that’s about to be tested?

• The first two sentences of the filing really set the tone: “We are a community company committed to maximum global impact. Our mission is to elevate the world’s consciousness.” That’s one way to describe a business that rents out office space, I suppose. I don’t know how much it does to justify WeWork’s on-paper valuation of $47 billion.

• Speaking of which, here’s a list of companies that closed the week with market caps of less than $47 billion: Target, Tesla, Ford, FedEx, Delta Air Lines, Marathon Petroleum, Humana, Dollar General, eBay, Allstate, Thomson Reuters and General Mills. These aren’t apples-to-apples comparisons, but again: WeWork posted a loss last year of nearly $2 billion.

• The business often cited as WeWork’s closest analog on the public market is IWG, a European co-working space company that has more locations than WeWork and currently turns a profit. Its market cap at Friday’s close: a bit shy of $4 billion.

• I’ve got to get to Adam Neumann, I suppose. The filing certainly did: As Bloomberg noted, the name Adam appears 169 times across the whole of the prospectus. The most eyebrow-raising occurrence, in my opinion, came when WeWork revealed that, as part of its rebrand to “The We Company” earlier this year, it paid $5.9 million to acquire the trademark related to the We name. The previous owner of those trademarks? None other than Neumann. The filing also confirms earlier reports that Neumann has leased buildings he owns back to WeWork, another unusual arrangement.

• WeWork will go public with a three-class share structure that will concentrate a large amount of power in Neumann’s hands. It only adds to the quasi-messianic role that Neumann seems to play at the business. In its prospectus, WeWork says that its “future success depends in large part on the continued service of Adam Neumann,” shortly before noting that the company has “no employment agreement in place with Adam, and there can be no assurance that Adam will continue to work for us or serve our interests in any capacity.” Well alright then.

• Another random note: If Neumann doesn’t donate $1 billion to charity in the next 10 years, his extensive voting rights will be cut in half.

• I could keep going, but it’s probably time to wrap this up. I didn’t even get to the $10.7 billion SoftBank has pumped into WeWork over the past three years, or various other Neumann-related self-dealings and conflicts of interest. If you’re the sort of person who enjoys perusing financial documents (and you’re reading this newsletter, aren’t you?), I’d really suggest giving the whole thing a read.

2. Tumblr’s tumble

Six summers ago, Verizon paid a reported $1.1 billion for Tumblr, which had raised well over $100 million in prior VC funding. This week, Verizon unloaded the blogging and social media site to Automattic (which owns WordPress) for what Axios reported was a price of less than $3 million, a stunning dip in value for a company that was once an internet darling. Is it a coincidence that the sale comes about eight months after Tumblr banned pornography?

3. Pools of PE

Friday bought a trio of major developments from the world of private equity fundraising. Ares Management is seeking $9.5 billion for what would be its biggest PE vehicle ever, while Apollo Global Management is targeting $1 billion for its first impact investing fund, both according to Bloomberg. The creation of Apollo’s new impact arm comes shortly after KKR reportedly raised more than $1 billion for its impact investing debut. New York’s Veritas Capital also got in on the action this week, establishing a $6 billion target for its seventh flagship fund.

4. Ice cream

It’s hard to explain the Museum of Ice Cream in a sentence. Earlier this week, I wrote that it was “like if you dropped acid before touring the Ben & Jerry’s factory.” If that doesn’t draw you in, maybe the fact that it was just valued at $200 million will do the trick. Another startup with a name that reminds you of cold, creamy goodness was also in the news this week, as Scoop brought in $60 million at a $250 million valuation to fuel its corporate carpooling services.

As Steve Harrington once said: “Dude, not my scooper!” (MmeEmil/E+/Getty Images)

5. A filing flurry

Cloudflare, a VC-backed company with a $1.8 billion valuation, was in the headlines earlier this month for severing the internet services it was previously providing to 8chan, a controversial message board that’s been linked to multiple mass shootings. This week, it hoped to change the narrative by releasing an IPO filing of its own, revealing a leap in revenue and net losses that are on track to decline in 2019. SmileDirectClub also filed for an IPO this week, less than a year after raising $380 million at a $3.2 billion valuation from Kleiner Perkins, Spark Capital and Clayton, Dubilier & Rice.

6. Transportation

Scoop raised cash this week for cars. San Diego’s TuSimple did the same for trucks, revealing that UPS Ventures has acquired a minority stake in the developer of autonomous trucking technology. In the realms of bikes and scooters, Lime is in talks with SoftBank and other backers about a new round that could total $500 million, per Business Insider. And on the water, a peer-to-peer boatsharing company called Boatsetter banked $10 million this week at a $65 million valuation.

7. The waiting game

After literally years of on-and-off discussions, CBS and Viacom consummated an all-stock merger worth a reported $11.7 billion, which will create a media behemoth with more than $28 billion in combined revenue. The deal will also bolster CBS’ content catalog just as the streaming wars with Netflix, Disney and others are heating up. Another long-awaited merger inched closer to completion this week, too, as the chairman of the US Federal Communications Commission recommended his organization approve T-Mobile and Sprint’s plans to combine.

8. In-air entertainment

Some travelers prefer a magazine. Others might want to dive into an immersive 3D experience. This week brought something for everyone. BlackRock invested $875 million into Authentic Brands, reportedly valuing the new owner of Sports Illustrated at more than $4 billion. And on a smaller scale, a startup called Inflight VR raked in €4 million (about $4.4 million) to develop its VR headsets designed for those soaring through the friendly skies.

9. Sports stakes

Earlier this summer, the Brooklyn Nets signed superstars Kevin Durant and Kyrie Irving to massive new contracts. Now, the franchise has a new majority owner, as Alibaba co-founder Joseph Tsai officially agreed this week to buy out Mikhail Prokhorov’s 51% stake for $2.35 billion, a record figure for an NBA team. Moving from the hardwood to the (artificial) grass, the Seattle Sounders of the MLS were also involved in some dealmaking, as Microsoft CEO Satya Nadella and NFL star Russell Wilson were part of a group that acquired a stake in the team.

10. VC debuts

New York hedge fund Two Sigma is deepening its commitment to VC, as the fund’s Two Sigma Ventures unit brought on Villi Iltchev to help lead its first dedicated venture fund, per Axios. Bain Capital Ventures alum Salil Deshpande is planning a VC debut of his own, according to The Wall Street Journal, a $100 million vehicle that will focus on software and cryptocurrency. And a scion of the Bechtel construction empire has his eyes on VC, too, as Darren Bechtel and his Brick & Mortar Ventures closed an inaugural fund this week on $97.2 million.

11. BC’s buys

London-based private equity firm BC Partners lined up two deals this week worth more than $2 billion apiece. First, it agreed to buy a stake in British software giant Advanced from Vista Equity Partners, with the Financial Times reporting a valuation of £2 billion (about $2.4 billion). BC Partners followed that up with a deal to take IT infrastructure specialist Presidio private for $2.1 billion.

By Kevin Dowd

Full link: https://pitchbook.com/news/articles/11-big-things-the-strange-world-of-wework

Landscape – Bretton Woods and the China challenge

On the 75th anniversary of the Bretton Woods Agreement this year, French Finance Minister Bruno Le Maire called for a rethink of China’s role in the global financial system. Talking about Bretton Woods reform, Le Maire argued that ‘the Bretton Woods order as we know it has reached its limits’ and that ‘unless we are able to reinvent Bretton Woods, the New Silk Roads might become the new world order’. These developments beg the question, does China need Bretton Woods?

People walk along a busy street at Pudong financial district in Shanghai, March, 2013 (Photo: Reuters/ Barria).

The Bretton Woods system came into place as an arrangement aimed at reconstructing a world economy affected by trade war and the Great Depression. Its central institutions — the IMF and World Bank — have made significant contributions to the global economic agenda and helped secure a stable international financial system.

Although these institutions have undergone changes in order to adapt to new global economic realities, the liberal economic principles they espouse and the Anglo-American hegemony they represent have come under severe strain since the 2008 global financial crisis. This crisis of legitimacy is exposing the limitations of Bretton Woods and its ability to cope with the rapidly changing realities of the world.

These developments have coincided with the rise of China in the global economic system. Beijing’s rise became more pronounced after it began to initiate multilateral entities like the Asian Infrastructure Investment Bank (AIIB), as well as the New Development Bank and the Contingency Reserve Arrangement (CRA) in collaboration with the BRICS emerging economies. This generated speculation about China’s global economic intentions and the efficacy of the Bretton Woods system in general.

Bretton Woods does require major reform of its governance structure. The reform package, which came into effect on 26 January 2016 after a five year delay, failed to line up with the demands proposed by developing countries. The increase in quota and voting shares were disproportionate to the GDP shares of the emerging economies, to which China belongs.

China’s relationship with Bretton Woods is complex. Since the second half of the 20th century, China has emerged as a reliable borrower and constructive partner in the Bretton Woods order. Beijing depends on the World Bank not only for access to the below-market interest rate loans that it receives for funding infrastructure projects. It also gives China access to international experts across a range of sectors, including those experts who help conduct feasibility studies for proposed Chinese projects.

Newly created institutions like the AIIB depend on international capital markets and are dollar-denominated entities. Some of the clauses that relate to their lending arrangements are similar to those that exist in arrangements with the World Bank and the IMF. The World Bank remains one of the main financing partners for the AIIB. This way, the AIIB can pass on the expensive task of project evaluation and evades the risk of being the main financier. What sets these new financial instruments apart is their project-centred focus, their reluctance to play an advisory role to the borrowers and their adherence to a principle of non-interference in borrowing countries’ domestic economic policies.

It would be misleading to label these new entities ‘alternatives’ to Bretton Woods institutions. China’s leadership in these new bodies by no means indicates that China or the BRICS economies will leave the World Bank or the IMF. Beijing has pushed hard for its currency to be included in the IMF’s special drawing rights. Since the start of this push, there have been no major instances of renminbi manipulation by Beijing, not even at the peak of the ongoing US–China trade war. China’s contribution to the World Bank has also increased in the last two years.

China’s capital market liberalisation is far from complete. It is struggling to implement recommendations from the World Bank on the reform of its state-owned enterprises. Despite the weakness of the Bretton Woods institutions, Beijing still depends on them for advanced methods and techniques in financial governance. It will find it very difficult to forge high international standards and transparency in the governance of these new institutions.

The 15th quota review deadline of the IMF is nearing. It is uncertain whether the United States will support a substantial increase in IMF quotas and sure up financial resources. Given the Trump administration’s shift away from multilateral organisations, China’s role is crucial. The IMF’s liquidity for the next decade will be largely dependent on China’s voluntary contribution to the pool, irrespective of its quota share.

The IMF being vital to advancing Washington’s interests, it is highly unlikely that the United States will give up its veto power in the organisation. The choice lies with other major countries and hinges on whether they are willing to come together with China to revive Bretton Woods, to make it more representative and to do so by placing pressure on Washington to re-distribute quota shares and voting rights. No matter how this international financial diplomacy plays out in the near term, China remains an indispensable partner in the reform of global economic governance.

Author: Priyanka Pandit, ICWA

Full link: https://www.eastasiaforum.org/2019/08/31/bretton-woods-and-the-china-challenge/

Landscape – China’s hegemonic choice in the Mekong region

If you are the world’s second-largest power, what do you dream about? How do you go about making this dream come true?

A Chinese boat with a team of geologists surveys the Mekong River, at the border between Laos and Thailand, 23 April 2017 (Photo: Reuters/Jorge Silva).

Put bluntly, the Mekong River region represents a crucial testing ground for Beijing’s mid- to long-term ambitions — not acknowledged officially — to become the hegemon in East Asia and possibly beyond.

This is in part because the Mekong River region is situated in China’s immediate vicinity. The region is comprised of mostly small countries amenable to influence but with great strategic importance. China is also the river’s most upstream riparian, with more than 10 mainstream dams completed or under construction. The geographic and economic advantages over the other Mekong countries have already made China the Mekong’s quasi-natural hegemon.

The key question for China’s leaders is how to best perform this hegemonic role. One of the primary objectives of a hegemon is to ensure compliance. Four mechanisms can be identified to achieve this: coercive, utilitarian, normative and ideological.

China makes use of a mixed but interlinked strategy that seeks to avoid open coercion of the Mekong river states. First, China most visibly relies on a utilitarian approach that offers economic and financial incentives to meet diplomatic ends. To no small extent, this approach is also driven by domestic rationales, especially China’s intention to develop its remote south-western regions and provide them with access to new markets. Over the 2000s, China rapidly emerged as the top trader, investor and donor in the Mekong River region, spurring much of the economic growth there.

The Belt and Road Initiative (BRI) has further bolstered China’s status in the region as it includes the China–Indochina Peninsula Economic Corridor — one of the six main BRI corridors. Consequently, the countries in the Mekong River region have, to varying degrees, become economically dependent on China. This is particularly true for Laos and Cambodia, but even Vietnam, not generally China-friendly, is struggling.

Second and more recently, China has additionally engaged in a normative approach — signing treaties and building institutions — to protect its position as hegemon. Over the course of the 1990s as China’s renewed interest in the Mekong River region slowly gathered speed, it was still confronted with a predetermined institutional order dominated by Western actors and Japan. The founding of the Lancang-Mekong Cooperation (LMC) in March 2016 reflects China’s growing desire to exercise greater authority over the region. The mechanism boasts a comprehensive agenda, exclusive membership for all Mekong riparian countries and enormous financial resources from which they can draw.

While the LMC should do much more in terms of codifying rules and procedures for cooperation, the mechanism still has the potential to eclipse other firmly established regional bodies. This includes the Mekong River Commission and the Asian Development Bank-led Greater Mekong Subregion (GMS), let alone smaller venues like the US-driven Lower Mekong Initiative or the Japan–Mekong Summit.

Third and finally, China has long been anxious to sell its goals and actions in the Mekong River region under the benign slogan of ‘common development and prosperity’. This persistent rhetoric belongs to an attempt at discursive knowledge construction, which not only aims at the acceptance of China’s authority, but also at the internalisation of China’s values and norms. It has steadily evolved into a sanctioned discourse presented as a win-win strategy without alternatives. Highways and railroads for enhanced connectivity and dam building for increased energy supply are the examples of the narrative that touts all-out economic progress as a panacea.

Yet despite China’s great efforts, not everybody in the region has bought into China’s rhetoric as there are many that do not benefit from China’s behaviour. This is especially true for the large number of local communities that make their living directly from the Mekong’s resources.

These communities continually challenge China’s preferred discourse, turning China’s dam-building activities into a particularly controversial issue. Blaming China’s dams for current low water levels is the latest episode of an enduring counter-narrative that questions China’s sincerity. It also seeks to shift attention to urgent ecological matters, illustrated by the motto ‘We want to eat fish, we cannot eat electricity.’ But these local communities do not always enjoy governmental support, making it impossible for them to effectively challenge Beijing’s strategy. This is particularly true in Laos and Cambodia where — often China-sponsored — dam building is high on the national agenda.

For China’s leaders, the status quo means that their hegemonic project in the Mekong River region is not yet accomplished. The recent US–Japan announcement to set up a joint Mekong Power Partnership indicates that powerful external players are willing to remain involved in the region and present it with an alternative to China.

China must choose between two distinct forms of hegemony. One is characterised by positive leadership, particularly through the creation of fairly distributed public goods and the inclusion of all actors in decision-making processes. The other is narrowly focused on domination and self-interest. These two forms are similar to the Chinese terms wangdao (benevolent rule) and badao(despotic rule).

While being a hegemon is not easy, China’s leaders can still do much more to tip the scales in favour of the virtuous wangdao in the Mekong region.

Author: Sebastian Biba, Goethe University Frankfurt

Full link: https://www.eastasiaforum.org/2019/08/30/chinas-hegemonic-choice-in-the-mekong-region/