Ngành giáo dục – Covid-19 ai sẽ “chiếu bí” đối thủ… Education sector – Covid-19 who would “checkmate” its opponent…

–             For English version, please scroll down –

 

Ngay cả với năng lực tấn công không biên giới của Virus, sức khỏe tinh thần luôn là giá trị quý giá nhất của con người trong cuộc sống… Nếu nó cũng bị tấn công theo cách như sức khỏe thể xác thì không còn có nơi nào an toàn để tránh né, vị Vua “điều khiển” này sẽ ở trong tình huống được gọi là “Chiếu tướng” – và con người sẽ thua ngay lập tức – gục ngã, nhanh hơn rất nhiều so với việc sức khỏe thể chất bị tổn  thương. Như vậy, dù dễ bị tổn thương, nhưng sức khỏe tinh thần lại có thể bảo đảm cho chiến thắng cuối cùng… nếu được chăm sóc và bảo vệ đúng mức…

Sự lây lan nhanh chóng ào lên như cơn bão của COVID-19 đã giải phóng những gì được coi là cú sốc lớn nhất đối với cuộc sống và sinh kế của chúng ta trong gần một thế kỷ. Hơn cả, COVID-19 là một cuộc khủng hoảng ví như loài người đang trong ván cờ mà lợi thế nghiêng về phía con Virus trên cả số đông lẫn tầm ảnh hưởng. Các tổ chức doanh nghiệp đều phải hứng chịu “nước bí” khi các nền kinh tế trên toàn cầu trượt dốc gần như ngưng trệ. Chính lúc này cũng là lúc xuất hiện những dấu hiệu của việc đổi mới vận hành kinh doanh sáng tạo, khi các tổ chức kinh doanh phải ứng phó với cuộc khủng hoảng đã ra các “nước đi” sáng tạo cần thiết. Họ đánh giá các giả định cũ chi phối cách thức vận hành kinh doanh, tư duy lại cách tương tác với cả khách hàng và nhân viên, tái lập lại chuỗi cung ứng linh hoạt hơn và định nghĩa rõ nét về quyền riêng tư và chia sẻ dữ liệu.

Khả năng sáng tạo những cách vận hành mới sẽ rất quan trọng để vượt qua khủng hoảng. Những người thành công sẽ nhanh chóng thiết lập “lối chơi mới” để ổn định hoạt động và xác định nền móng “bước đi” tiếp theo cho mô hình hành vi của người tiêu dùng và doanh nghiệp. Ở đó, chúng sẽ trở thành mô thức hoạt động trong những thập kỷ tới. Các công ty đặt mục tiêu vượt lên dẫn đầu nên bắt đầu với những câu hỏi cơ bản mà bản chất thứ hai của chúng thường làm rối các nhà hoạch định doanh nghiệp –  những người sẽ phải đảo ngược các giả định và tìm cách đổi mới trong không gian còn sót lại sau khi giả định lỗi thời bị loại bỏ. Các chuyên gia ý thức rằng cuộc khủng hoảng ở quy mô này sẽ mang lại sự dịch chuyển gây chấn động, thay đổi kỳ vọng của tổ chức và tạo ra những vận hội mới. Họ phải xây dựng các giải pháp mới để vừa giúp giải quyết hậu quả khủng hoảng vừa định hình lại các ngành công nghiệp. Không thể quay trở lại cách mọi thứ đã diễn ra, mục tiêu bây giờ là xác định lại “trạng thái ở điều kiện bình thường” tốt nhất để hướng tới sau khi khủng hoảng lắng xuống…

Những hạn chế và quy định gắt gao do cuộc khủng hoảng COVID-19 mang lại đã nhanh chóng đẩy các tổ chức vào những thách thức mà họ chưa bao giờ có thể hình dung được. Nhiều người đã phải tự thay đổi để thích nghi với việc vận hành từ xa gần như chỉ sau một đêm, hoàn thành các chuyển đổi kỹ thuật số trong vài ngày tới vài tuần thay vì vài tháng hoặc nhiều năm và ra mắt các sản phẩm dịch vụ mới chỉ trong vài ngày. Người ta dần nhận thấy rằng cuộc khủng hoảng COVID-19 sẽ là giai đoạn “thay máu” tái lập và cấu trúc lại các mô hình vận hành và kinh doanh một cách đáng kể…

Bốn phương thức cốt lõi có thể dựa vào trong quá trình ứng phó khủng khoảng và tái lập vận hành:

  • Hỗ trợ từ lớp/đơn vị quản lý cấp trên. Xây dựng tổ chức/ doanh nghiệp thành công đòi hỏi sự hỗ trợ thường xuyên và hữu hình từ lãnh đạo [đơn vị] cấp trên. Nghiên cứu cho thấy rằng hỗ trợ điều hành và liên kết là một trong hai yếu tố được viện dẫn nhiều nhất ảnh hưởng đến sự thành công của một doanh nghiệp.
  • Tiếp cận thế mạnh từ công ty/đơn vị quản lý cấp trên. Những nhà quản lý xây dựng tổ chức/ doanh nghiệp thành công hiểu được những thế mạnh hiện có của họ và có thể áp dụng chúng cho mô hình mới.
  • Giả định kiểm tra sức bền. Các nhóm quản trị thường đánh giá quá cao triển vọng thành công của họ. Để chống lại sự thiên kiến đó, các nhà xây dựng doanh nghiệp liên tục kiểm tra sức bền – khả năng chịu đựng của tổ chức và tái xác nhận các giả định quan trọng. Điều này đặc biệt đúng đối với các giả định về đề xuất giá trị cần được kiểm chứng trực tiếp với khách hàng và bao gồm các giả định kinh doanh như chi phí vận hành và quy mô thị trường.
  • Xây dựng đội ngũ chuyên biệt. Nhiều công ty thành công nhất trên thế giới là tập hợp của những nhà quản trị xây dựng doanh nghiệp nối tiếp nhau. Họ có thể tái tạo thành công bằng cách xây dựng các nhóm chuyên trách có thể đánh giá các ý tưởng, xác định các nhà lãnh đạo, cung cấp chuyên môn và hỗ trợ các sáng kiến ​​mới.

Các cách thức được đề cập xuất hiện trong thời điểm quan trọng, khi các tổ chức tìm thấy những phương pháp mới đột phá để giúp bảo vệ cuộc sống và sinh kế trong bối cảnh khủng khoảng như dịch COVID-19 bùng phát. Tuy nhiên, một khi một giả định được kiểm chứng, sẽ không có khả năng tự tái lập; ngay cả sau khi cuộc khủng hoảng ban đầu qua đi, khi các nhân viên đã “quen” với giải pháp thay thế “lối sống” công sở truyền thống, họ sẽ thấy rằng họ có thể làm việc ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào để hoàn tất nhiệm vụ. Cũng giống như các công ty được cho là tốt nhất sẽ vẫn tiếp tục tìm kiếm tài năng, bất kể họ đang ở đâu; hay các nhà bán lẻ sẽ tiếp tục tìm cách nhân tính hóa trải nghiệm kỹ thuật số.

Giáo dục được coi là một ngành công nghiệp; liệu,

học hỏi từ các nhà quản trị đổi mới và các nhà xây dựng doanh nghiệp có là nền tảng cơ bản không chỉ để phục hồi sau cuộc khủng hoảng này mà còn để luôn tự làm mới – áp dụng một chu trình quản trị lặp đi lặp lại. Các tổ chức thích ứng với các nguyên mẫu nổi lên từ cuộc khủng hoảng này sẽ tiếp tục lật ngược các giả định để tìm kiếm các cơ hội mới xuất hiện [từ trong cuộc khủng hoảng này] với khả năng phục hồi lớn nhất và với cơ hội lớn hơn để định vị một tương lai được “tưởng tượng” lại. Vậy tổ chức giáo dục [của chúng ta] đã sẵn sàng bước vào thử thách?

Hiển nhiên,

việc lý giải tầm quan trọng của một sự kiện khó hơn là việc kể lại chúng. Thiết nghĩ rằng chúng ta đang xem xét một sự phá vỡ cấu trúc của một định nghĩa kinh tế lượng đã thành quá khứ, trong đó nó biểu thị thời điểm trong dữ liệu chuỗi thời gian khi xu hướng và mô hình liên kết giữa các biến thay đổi…

Một cuộc khủng hoảng thường là một dấu hiệu cho thấy mô hình vận hành hoặc kinh doanh của tổ chức, cấu trúc cơ bản của ngành [công nghiệp cụ thể nào đó] đã thay đổi đáng kể, vì vậy những cách thức vận hành/ kinh doanh cũ không còn hiệu quả nữa. Ví như: ngành giáo dục đang khủng hoảng khi giãn cách xã hội, một cách đột ngột, Internet trở thành “cứu cánh” trong bối cảnh đó; nhưng việc thực hiện cung cấp “dịch vụ” giáo dục thông qua kênh truyền dẫn mới này còn là điều mới mẻ, các tương tác cũng như hành vi cần phải được điều chỉnh trong khó khăn, không chỉ là việc kiếm tiền từ nó. Nguyên tắc tương tự áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế.

Phá vỡ cấu trúc làm cho nhiều mô hình hành vi hiện có thay đổi hoặc biến mất, nhưng việc đó đơn giản là định hướng lại cũng như thích nghi với tình hình mới, tương tự ngay cả đối với toàn bộ nền kinh tế. Sự phá vỡ và thời điểm khó khăn là những dấu hiệu chắc chắn cho thấy một mô hình cũ đã được đẩy đến giới hạn và giá trị của chính nó đang bị phá hủy…

Nói chung, không có cái gọi là công thức kỳ diệu – “cây đũa thần”: cải cách một tổ chức/ doanh nghiệp luôn đòi hỏi có cái nhìn sâu sắc và trí tưởng tượng… Hơn cả, nhiệm vụ đầu tiên là hiểu cách một tổ chức, một ngành tồn tại, cạnh tranh và kiếm tiền trong quá khứ; nhất là khi đó là giáo dục, một ngành liên quan trực tiếp tới tương lai và bản thân  con người; ngành mà đòi hỏi trải qua quá trình đúc kết tích lũy và điều chỉnh song hành với thay đổi phát triển của xã hội…

Trải qua các biến cố lịch sử qua các thời kỳ: thời tiền sử, thời trước Bắc thuộc, thời Bắc thuộc, thời độc lập trung đại và cận đại, thời kỳ Pháp thuộc và thời độc lập hiện đại, nền giáo dục Việt Nam đã phải hứng chịu và đương đầu với các tác động là kết quả của sự xâm lược và đồng hóa từ bên ngoài trong thời gian dài, đã đặt ra câu hỏi lớn trong việc bảo tồn truyền thống dân tộc và việc giao thoa văn hóa của các trào lưu văn minh nhân loại trong quá trình hình thành một nền giáo dục của riêng mình. Chia thành các giai đoạn:

Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945

Sự ra đời và sử dụng rộng rãi chữ quốc ngữ theo bảng chữ La tinh trong nhà trường từ cuối năm 1919 đã báo hiệu sự chấm dứt nền cựu học truyền thống Nho giáo để thay thế bằng hệ thống tân học của chính quyền Pháp thuộc. Cũng trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trào lưu giáo dục Duy Tân yêu nước của Phan Bội Châu, Lương Văn Can đã khởi xướng cho khuynh hướng thực học, sử dụng chữ quốc ngữ trong dạy và học, tiếp cận với các khoa học tự nhiên và kỹ nghệ, từ bỏ lối khoa cử.

Giai đoạn 1945-1954

Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Cùng với việc xóa nạn mù chữ (bình dân học vụ), Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có những chủ trương cải tổ và xây dựng bước đầu đối với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc gia. Năm 1950, Trung ương Đảng và Chính phủ đã quyết định tiến hành cuộc cải cách giáo dục thực hiện hệ thống trường phổ thông 9 năm và chương trình giảng dạy mới và thực hiện giảng dạy bằng tiếng Việt.

Giai đoạn 1954-1975

Giữa năm 1954, cơ quan Bộ Giáo dục chuyển từ xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang về huyện Đại Từ, Thái Nguyên để về Hà Nội, cùng lúc đã có chỉ đạo các trường trực thuộc và các địa phương có vùng mới giải phóng chuẩn bị các điều kiện cần thiết để nhanh chóng phục hồi trường lớp. Nhiều công việc đã được chú trọng triển khai thực hiện: mở các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc để đón nhận các em học sinh miền Nam ra Bắc học tập; cải cách giáo dục năm 1956 đã đặt cơ sở cho việc hình thành Hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm gồm 3 cấp học. Hệ thống trường bổ túc công nông, trường phổ thông lao động được phát triển mạnh.

Giai đoạn 1975-1986

Trong thời kỳ này cũng đánh dấu việc mở rộng quan hệ hợp tác, cũng như chịu ảnh hưởng trong giáo dục đào tạo với Liên Xô, các nước XHCN ở Đông Âu thông qua các lớp lưu học sinh…

Giai đoạn 1986-1995:

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12/1986  đã mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam. Chủ trương của ngành trong thời kỳ này là đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, các hình thức đào tạo, quy chế các trường, lớp dân lập, tư thục đã được ban hành. Năm 1990 Chính phủ quyết định thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở sáp nhập Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề. Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý thống nhất hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến giáo dục đại học và sau đại học.

Giai đoạn 1996 đến nay:

Trong hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa XI họp vào tháng 10 năm 2012 để thảo luận về cải tổ giáo dục, Tiến sĩ Hoàng Tụy, một nhà giáo và nhà toán học quốc tế đã phát biểu: “Giáo dục của ta đang lạc điệu không giống ai, sự «không giống ai» nầy đôi khi chúng ta tự coi là bản sắc độc đáo để tự hào và cố gìn giữ. Sự lạc hướng, lạc điệu nầy nhìn từ gốc vấn đề tức là từ triết lý giáo dục, tư duy, quan niệm cơ bản về mục tiêu đường lối, cung cách làm giáo dục. Nói cách khác, nhà trường không thể chỉ dạy chữ, dạy kiến thức mà còn phải dạy làm người…” Cũng trong buổi hội thảo này, bà Nguyễn thị Bình, nguyên Phó Chủ Tịch nước, một trong số thành viên của Phong Trào Giải Phóng Miền Nam đã nhận xét: “Giáo dục VN đi ngược quy luật và GS Nguyễn Xuân Hãn, Ủy Viên Hội Đồng Giáo Dục Quốc Gia đã nói rõ hơn một tác hại trầm trọng của chánh sách giáo dục: Chương trình và sách giáo khoa hiện nay có hại cho học sinh.” (trích Hoàng Tụy. Giáo dục của ta đang lạc điệu /giaoduc.net.vn ngày 01/10/2012)

Nhìn chung những nhận xét đó cũng phản ánh quan điểm chung khi nền giáo dục còn chưa định nghĩa được cơ sở nền tảng với “triết lý giáo dục”, dẫn tới: chương trình cấp tiểu học không phù hợp với lớp tuổi, ở bậc trung học quá nặng lý thuyết nhưng chỗ dư chỗ thiếu, và ở bậc đại học xa rời với thực tế, kiến thức lạc hậu, không theo kịp tiến bộ công nghệ kỹ thuật thế giới. Hậu quả là sách giáo khoa cấp trung tiểu học soạn thảo bừa bãi, nội dung thiên lệch; và sách giáo khoa bậc đại học yếu kém về lượng lẫn chất. Các môn học không có sự kết nối liên tục hài hòa từ cấp nầy đến cấp khác theo một thể thống nhất bởi lẽ chương trình cho các cấp không được soạn thảo một cách hàn lâm, không có một  hội đồng chuyên môn chủ biên thống nhất để có một cái nhìn tổng thể từ lớp 1 đến lớp 12, không chuẩn hóa được quan điểm giáo dục giữa các nhà biên soạn chương trình, trong khi đa phần họ là cán bộ thiểu năng chuyên môn – những Phó Giáo sư Tiến sĩ Bùi Hiền – người đề xuất “Luật giáo dục” thành “Luật záo zụk” đầy tai tiếng; nhưng, thừa nhiệt tình tập trung vào giáo dục tư tưởng chính trị. Ngoài những cải cách được công bố chính thức, chương trình thường bị cắt xén tùy tiện, như chương trình bậc tiểu học gồm tới 4 chương trình khác nhau (chương trình 165 tuần, 120 tuần, 100 tuần, chương trình công nghệ giáo dục) cho mãi tới năm 2002 mới được nhập lại thành một chương trình tiểu học.

Không có một quốc gia nào có một chương trình học thiếu ổn định với những thay đổi hàng năm, rắc rối, đầu voi đuôi chuột như cấu trúc chương trình học, sách giáo khoa và tổ chức thi cử tạp nhạp như ở Việt Nam. Trải qua cải tổ này đến cải cách khác, giáo viên và học sinh hoang mang vì không biết dạy cái gì như thế nào, học cái gì, thi cái gì; những sản phẩm quái thai như giải toán bằng đặt biến ngay từ cấp bậc tiểu học, rồi tới “vuông tròn tam giác”, hay CVNSS 4.0 – tiếng Việt không dấu ra đời dưới cái mác “đổi mới”. Trong cái hỗn loạn của thi cử, tham nhũng đã lên ngôi, văn bằng trở nên “vô giá [trị]” và là nỗi ám ảnh kinh hoàng của cả đất nước vốn có truyền thống hiếu học, nơi mà người dân dù còn khó khăn, nghèo đói nhưng vẫn dành 20-30% thu nhập cho việc giáo dục của con em mình.

Những vấn nạn này rất cần được nhận thức sâu sắc và đầy đủ, vì nó đã và đang tác động trực tiếp và gián tiếp đến nhiều thế hệ học sinh – tương lai của một xã hội, một đất nước, cũng như nền giáo dục Việt Nam nói chung; trong khi nước ta đang còn tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực, thì chúng – những vấn nạn này, còn kéo chúng ta lùi thêm một bậc; thiếu hụt nhân công kỹ thuật, nhân công có trình độ trở nên thách thức đối với nhiều nhà đầu tư khiến họ phải thay đổi quyết định đầu tư sang các nước khác như Ấn Độ, Malaysia hay Philipines. Việt Nam đã gia nhập WTO và thực hiện Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ thế giới GATS, trong đó thừa nhận giáo dục là một lĩnh vực dịch vụ khả mại và từng bước đẩy mạnh hợp tác quốc tế và mở cửa thị trường dịch vụ giáo dục (theo cam kết)…

Mùa dịch,

trong báo cáo đánh giá tác động của Covid-19 đến nền kinh tế và các khuyến nghị chính sách thực hiện bởi Trường ĐH Kinh tế quốc dân, dịch vụ giáo dục có mức suy giảm kinh tế lớn nhất so với tất cả lĩnh vực. Kịch bản hết dịch vào tháng 4 sẽ suy giảm 35% với chuyển đổi học qua mạng; nếu dịch kéo dài đến hết tháng 6, mức suy giảm có thể lên tới 60% (dẫn đầu trong các lĩnh vực) và buộc phải tái cơ cấu ngành. Điều này cho thấy tính dễ bị tổn thương và khó phục hồi của lĩnh vực giáo dục, đòi hỏi chính sách hỗ trợ công phù hợp.

Theo ước tính, riêng chi phí lương cho 103.863 cán bộ quản lý, giáo viên ngoài công lập theo mức lương bình quân tối thiểu vùng đã là VND 400 tỷ/ tháng; chi phí thuê mặt bằng của 3.702 cơ sở giáo dục ngoài công lập  từ mầm non, tiểu học, THCS, THPT đến cao đẳng sư phạm, đại học cũng lên tới VND 450-500 tỷ đồng/ tháng. Ngoài ra, chưa tính tới các chi phí cho công tác tiêu độc, khử trùng, phòng chống dịch bệnh trong nhiều tháng qua và các chi phí khác còn chưa được thống kê hết… Rõ ràng đại dịch là một thử thách lớn, nhưng qua đây, các nhà xuất bản, trường và tổ chức sư phạm phối hợp với các sở GD-ĐT địa phương tăng cường hình thức bồi dưỡng giáo viên từ xa và đẩy mạnh việc tự học, tự nghiên cứu của giáo viên…

Trên thế giới, theo ước tính của UNESCO, đến ngày 24/03/2020, ít nhất có 138 nước đã áp dụng lệnh đóng cửa trường trên toàn quốc, ảnh hưởng tới 80% học sinh toàn cầu (khoảng 1,3 tỉ em). Vì vậy, các nước đã tập trung vào giải pháp học trực tuyến và truyền hình. Các nước như Trung Quốc, Nga, Argentina, Mexico, Hàn Quốc, Canada, Pháp, Anh, Mỹ,… đã đang đẩy mạnh dạy học trực tuyến.

Ở Việt Nam, việc dạy học trực tuyến đã được đề xuất từ lâu nhưng chưa có tỉnh, thành phố nào thực hiện được. Qua dịch Covid-19, tất cả 63 tỉnh, thành phố đều nỗ lực tổ chức giảng dạy qua truyền hình hoặc giảng dạy trực tuyến. Như vậy, đại dịch này cũng là cơ hội để giáo dục và đào tạo nước ta triển khai dạy học trực tuyến ở nhiều cấp học từ trường đại học xuống phổ thông, nhất là giảng dạy cho học sinh cấp 3 PTTH, tập trung vào lớp 9 và lớp 12. Tuy nhiên, việc học trực tuyến cũng bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục như không đảm bảo tính bình đẳng, vì còn nhiều học sinh chưa có máy tính và mạng internet ở nhà khiến học sinh trong gia đình có thu nhập thấp gặp bất lợi hơn so với các bạn đồng lứa có điều kiện hơn – nhóm học sinh này không có không gian học tập phù hợp, không có đủ trang thiết bị để học trực tuyến cũng như dễ gặp một số vấn đề tâm lý, nhất là khi đối mặt với thách thức của các kỳ thi; ngoài ra, học sinh chưa thực sự chủ động trong học tập, thậm chí một số học sinh đã để tên tài khoản (ID) và mật khẩu công khai trên mạng xã hội để một số đối tượng xấu vào lớp học để quậy phá. Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra việc đóng cửa trường học làm tăng nguy cơ xã hội, các bé gái dễ trở thành đối tượng bị bạo hành, lạm dụng thể xác.

Như vậy, tổng quát, đại dịch COVID-19 không chỉ là một cuộc khủng hoảng sức khỏe, mà còn là một cuộc khủng hoảng an ninh của loài người – tước đi sự tự do khỏi sự sợ hãi, tự do khỏi sự mơ ước và tự do sống với nhân phẩm. Đại dịch đòi hỏi một cách tiếp cận về nhu cầu [an ninh] mới của loài người về bảo vệ và trao quyền con người toàn diện. Lựa chọn duy nhất là hợp tác để xây dựng một phản ứng phối hợp toàn cầu thống nhất và từng khu vực. Bởi vậy, trước cuộc khủng hoảng kinh tế và nhân đạo toàn cầu, COVID-19 đã buộc các cá nhân và tổ chức/ doanh nghiệp phải nhanh chóng thay đổi cách sống, vận hành và làm việc. Nhiều yếu tố của kinh doanh và cuộc sống đang bị thách thức; có lẽ, sự quay trở về “trạng thái bình thường” tiếp theo có thể trông rất khác khi những phương thức làm việc mới được đưa áp dụng. Các tổ chức nói chung đang cố gắng hết sức vượt qua đại dịch này từ: (1) việc đảm bảo ứng phó khủng hoảng hiệu quả, (2) để quản lý sự gián đoạn chuỗi cung ứng, (3)để bảo vệ an toàn cho nhân viên của họ bằng cách điều chỉnh các hoạt động làm việc hàng ngày.

Cụ thể trong ngành giáo dục, báo cáo của hai tác giả Gwang-Chol Chang và Satoko Yano thuộc bộ phận chính sách giáo dục của UNESCO chia sẻ; các nước bị ảnh hưởng dịch đều đang nỗ lực triển khai các biện pháp nhằm giải quyết những thách thức trước mắt:

Trước hết, các nước tập trung vào các giải pháp nhằm duy trì tính liên tục của chương trình học. Với nhiều nước, đây thậm chí là ưu tiên số 1. Các nước đều đưa vào triển khai hoặc nâng cấp quy mô giảng dạy từ xa trên cơ sở tận dụng nhiều phương tiện công nghệ. Hầu hết các nước dùng phương tiện mạng Internet, cung cấp các nền tảng học online như Argentina, Croatia, Trung Quốc, Cyprus, Ai Cập, Pháp, Hi Lạp, Ý, Nhật, Mexico, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc, Saudi Arabia, UAE và Mỹ. Bên cạnh đó,

nhiều nước cũng chọn cách phổ biến bài giảng diện rộng qua truyền hình hoặc các phương tiện truyền thông khác như Argentina, Croatia, Trung Quốc, Costa Rica, Pháp, Iran, Hàn Quốc, Mexico, Rwanda, Saudi Arabia, Senegal, Tây Ban Nha, Peru, và Thái Lan. Saudi Arabia thậm chí còn dùng tài khoản Twitter chính thức của Bộ Giáo dục và đào tạo để phổ cập thông tin về việc học trực tuyến.

Thứ hai, điều chỉnh lịch học, lịch thi là một ưu tiên quan trọng không kém. Việc đóng cửa trường học kéo dài đã và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới lịch học tại nhiều nước. Trong nhiều trường hợp, điều này cũng gây ảnh hưởng tới cả thời gian tổ chức kỳ thi tuyển đầu vào đại học ở nhiều nơi. Nhiều quốc gia đã phải sắp xếp lại kế hoạch các kỳ thi và đánh giá chất lượng với mọi cấp học, trong đó có cả các trường đại học. Trong số đó có Chile, Trung Quốc, Pháp, Nhật, và Tây Ban Nha. Đặc biệt, Trung Quốc đã cho học sinh làm một số kỳ thi online… Hay khi ngày thi không thể thay đổi, nhiều nước cũng phải có những chính sách thu xếp đặc biệt (như giới hạn số thí sinh có thể làm bài cùng lúc) để đảm bảo an toàn sức khỏe cho các thí sinh. Nhật Bản và Thái Lan đang thực hiện cách này.

Riêng, Vương quốc Anh đã hủy kỳ thi GCSE (chứng chỉ giáo dục trung học phổ thông) và kỳ thi A-level (chứng chỉ giáo dục phổ thông bậc cao); Hội đồng Giáo dục trung học (CBSE) của Ấn Độ cũng đã hủy các kỳ thi lớp 10 và lớp 12; Australia hủy Chương trình đánh giá quốc gia về năng lực ngôn ngữ và số học (NAPLAN) năm nay. Bang Pennsylvania (Mỹ) sẽ hủy kỳ thi PSSA/Keystone…

Không chỉ chuyện học hành, thi cử, nhiều nước cũng đã chú ý tới những biện pháp giúp trẻ vượt qua sự bất ổn về cảm xúc khi buộc phải tạm xa thầy cô, bạn bè trong một thời gian dài. Nhiều nước (Thái Lan) đã sử dụng các ứng dụng liên lạc online như WhatsApp để giúp học sinh và thầy cô duy trì trao đổi. Các lớp học online cũng tạo cơ hội để các em có những tương tác xã hội, dù là qua mạng. Tại nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Ban Nha và Mỹ còn có thêm các chuyên gia hỗ trợ tâm lý cho những em cần giúp đỡ. Trong đó có cả đường dây nóng 24 giờ và những cuộc gọi giám sát để giúp trẻ tránh được cảm giác cô độc. Cụ thể, tại Trung Quốc, nhà chức trách đã cung cấp hỗ trợ trực tuyến kỹ năng sư phạm cho phụ huynh/người chăm sóc. Dù gánh chịu thiệt hại nặng nề, Ý cũng cung cấp các khóa học online giúp cha mẹ biết cách quản lý con cái trong môi trường bị hạn chế. Tây Ban Nha xây dựng những nền tảng liên lạc và các ứng dụng giúp phụ huynh và giáo viên chia sẻ, cùng xây dựng quá trình học tập cho con. Một số nước như Guatemala cung cấp các hướng dẫn giảng dạy và tài liệu học tập cho cha mẹ/người chăm sóc để đảm bảo việc học ở nhà của trẻ được liên tục…

Để đáp ứng như cầu giáo dục cấp thiết trong bối cảnh đại dịch bùng phát, bên cạnh những điều chỉnh có tính chất xã hội như vậy, các tổ chức giáo dục hay đơn vị kinh doanh nói chung cũng cần xây dựng phương án vận hành để kịp thời ứng phó khủng khoảng vượt qua đại dịch; không chỉ từ việc thống nhất và xây dựng chuẩn hóa giáo trình sách giáo khoa, chương trình học mà còn cần chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, phương pháp giáo dục và hơn cả là triết lý và mục tiêu giáo dục… – xây dựng nền tảng cốt lõi thay vì tập trung duy nhất vào phương tiện, vốn chỉ có tính chất đối phó thời điểm với dịch bệnh; ngoài ra, truyền hình, trực tuyến hay kỹ thuật số nói chung cũng cần nghiên cứu không chỉ về phương tiện mà cả về cơ sở hạ tầng hỗ trợ mặt bằng xã hội thay vì chạy theo xu hướng: tương tác trực tuyến, công nghệ 4.0 hay vạn vật internet (IoT)… ngay như ở cả nước tiên tiến, vẫn cần có sự phân lớp phân tầng để hài hòa mục đích giáo dục phổ cập xã hội cũng như các chi phí đầu tư; xét cho cùng, các tổ chức giáo dục cũng vẫn là tổ chức cung cấp dịch vụ khả mại, đặc biệt khối ngoài công lập:

Giảm thiểu rủi ro bằng cách giảm tương tác vật lý. Trách nhiệm xã hội đầu tiên ứng phó một đại dịch ở quy mô như Covid-19 là loại bỏ các nguy cơ lây lan virus, đặc biệt từ nhóm người có nguy cơ cao nhất. Các tổ chức giảm thiểu rủi ro lây nhiễm giảm thiểu hoạt động ở các nhiệm vụ thiết yếu, đặc biệt khi có liên quan đến các nhóm dễ bị tổn thương – trẻ em.

Tích cực đóng góp cho sự an toàn bằng cách đổi mới danh mục sản phẩm dịch vụ. Các tổ chức nên tự hỏi hai câu hỏi chung quan trọng:

  • Chúng ta có một sản phẩm mà thế giới cần ngay bây giờ không? Hoặc,
  • Chúng ta có thể nhanh chóng thích ứng danh mục sản phẩm của mình để cung cấp khi cần thiết khẩn cấp?

Theo đuổi phương pháp này, các tổ chức có thể sử dụng thế mạnh của mình để cung cấp các sản phẩm thiết yếu xã hội, ngay cả khi những hàng hóa đó nằm ngoài khả năng cung cấp sản phẩm hiện tại của một nhà sản xuất đơn lẻ. Ví dụ, một số nhà máy chưng cất đang sử dụng nguồn cung cấp ethanol của họ để cung cấp nguyên liệu cho chất khử trùng tay thông qua quan hệ đối tác với các nhà máy lọc dầu; các tổ chức cũng đang đẩy mạnh để đáp ứng nhu cầu về nhiều thiết bị y tế và thiết bị bảo vệ cá nhân; các nhà sản xuất trang phục đang điều chỉnh với việc giảm doanh số bằng cách sản xuất hàng ngàn mặt khẩu trang cần thiết; một số tổ chức sản xuất ô tô như GE, Tesla hay Vinfast đang chuyển sản xuất sang sản xuất máy thở; các tổ chức giáo dục sản xuất nghiên cứu chương trình và phương pháp giảng dạy và xây dựng trung tâm chăm sóc sức khỏe tinh thần cho các em học sinh từ xa…

Cung cấp trợ giúp thực tế cho khách hàng khi gặp khó khăn về tài chính. Một khi khách hàng đã đảm bảo an toàn cá nhân, mối quan tâm tiếp theo của họ thường là tài chính. Khi các tổ chức buộc phải giảm hoạt động trong một khoảng thời gian không chắc chắn, các cá nhân và hàng triệu chủ đơn vị kinh doanh/ doanh nghiệp nhỏ phải đối mặt với các vấn đề về thu nhập và thanh khoản lớn. Cung cấp các giải pháp linh hoạt khi đối phó với các thách thức tài chính giờ đây vừa là trách nhiệm vừa là động lực tin cậy rất lớn cho các tổ chức [lớn]: các tổ chức tài chính không xử phạt những khách hàng không thể đáp ứng nghĩa vụ thanh toán trong thời gian dịch; nhà mạng không chấm dứt dịch vụ hoặc thực thi phí thanh toán trễ cho khách hàng gặp khó khăn thêm 60 ngày; và, các nhà cung cấp năng lượng sẽ không cắt điện; trong một số trường hợp, họ thậm chí còn kết nối lại các khách hàng có dịch vụ đã bị cắt trước khủng hoảng; tương tự, học phí và những chi phí giáo dục đã thực thu thực trả cũng là vấn đề cần xem xét…

Mang lại niềm vui và hỗ trợ nhu cầu tinh thần tình cảm của khách hàng đang chịu cách ly tại nhà. Nhiều người buộc phải ở nhà, và trải nghiệm tất cả những mối vấn đề đi kèm với nghĩa vụ phải làm như vậy. Các tổ chức đang hành động để sao cho “cuộc sống ở nhà” trở nên thú vị hơn và cũng để đảm bảo hạnh phúc và an toàn của khách hàng của họ. Các gia đình phải giải trí cho con cái họ ở nhà trong nhiều tuần tới, làm cho việc truy cập vào nội dung trực tuyến dù là học, làm việc hay giải trí là một nhu cầu thực sự cơ bản. Nhà mạng đang cung cấp dữ liệu không giới hạn miễn phí trong 60 ngày tới cho tất cả các khách hàng di động có gói dữ liệu. Các tổ chức giải trí đã phát hành nội dung trước thời hạn: tổ chức Walt Disney đã phát hành bộ phim bom tấn thân thiện với gia đình Frozen 2 trên nền tảng phát trực tuyến Disney + của mình sớm hơn ba tháng so với kế hoạch; New York Metropolitan Metropolitan Opera cung cấp các chương trình kỹ thuật số miễn phí để giải trí; hàng loạt chương trình thương mại nổi tiếng được mở miễn phí như: vở ballet Hồ thiên nga, vở opera Bóng ma trong nhà hát, hay các chương trình xiếc nổi tiếng của Cirque du Soleil; trong khi Google Arts & Culture đã kết hợp với các bảo tàng trên khắp thế giới để vận hành các tour du lịch ảo – mục tiêu cuối cùng vẫn là chăm sóc sức khỏe tinh thần công đồng, nhất là đối với trẻ em…

Tích cực chuyển khách hàng sang các kênh trực tuyến. Với nhiều yêu cầu trên khắp thế giới về cách lý tại nhà, các tổ chức trước đây dựa vào các hoạt động thông qua kênh tiếp xúc vật lý đã phải hướng khách hàng đến các dịch vụ trực tuyến. Các tổ chức cung cấp dịch vụ hội thảo trực tuyến, như với Cisco từ Webex, đang hỗ trợ các trường học và trường đại học khi họ chuyển sang học từ xa bằng cách cung cấp các công cụ miễn phí cho giáo viên, phụ huynh và học sinh để hỗ trợ phát triển các kế hoạch học tập trực tuyến. Các tổ chức khác không có dịch vụ trực tuyến có thể tìm cách thiết lập và mở rộng quy mô dịch vụ trực tuyến với nhu cầu tăng đáng kể từ khách hàng khi nhu cầu của họ ngày càng dịch chuyển sang kỹ thuật số. Sự chuyển đổi này sang các kênh trực tuyến và kỹ thuật số có khả năng tiếp tục tăng đáng kể ngay cả sau khi phục hồi từ khủng khoảng…

Tiếp cận và đối xử với khách hàng một cách cẩn thận trong các tương tác cá nhân. Khi các kênh cần tiếp xúc vật lý như chi nhánh ngân hàng, trường học và cửa hàng bán lẻ tạp hóa đóng cửa, nhiều khách hàng đang chuyển sang các kênh khác giải đáp các vấn đề, cũng như, yêu cầu đòi hỏi được sự quan tâm và chăm sóc cá nhân. Các tổ chức dịch vụ trong ngành viễn thông và tài chính hiện đang gặp phải số lượng cuộc gọi không ngừng tăng lên tới các điểm dịch vụ khách hàng của họ, đồng thời phải chuyển trung tâm dịch vụ khách hàng của họ sang sắp xếp làm việc từ xa. Các tổ chức khác đã tăng cường các tùy chọn để tìm kiếm thông tin kỹ thuật số; tập đoàn Erdos đã khởi động một chương trình WeChat tại Trung Quốc để cung cấp tư vấn sản phẩm ảo. Ở nhiều nước, cơ quan quản lý giáo dục của chính quyền đã xây dựng trung tâm hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tinh thần cho học sinh, sinh viên 24/24 qua mạng trực tuyến và điện thoại…

Thể hiện sự quan tâm đối với cộng đồng thông qua các giá trị của tổ chức. (1) Hình thành một gắn kết hướng đến xây dựng giá trị: Các tổ chức giáo dục cũng thể hiện cam kết của họ đối với các cộng đồng nơi họ hoạt động có thể xây dựng một cơ sở gắn bó trung thành hơn về dài hạn. Một cuộc khảo sát năm 2019 của McKinsey cho thấy 64% người tiêu dùng nói chung lựa chọn các thương hiệu mà họ tin là đang làm tốt xã hội, tăng từ 13% trong năm 2017. Trong một nghiên cứu khác của McKinsey, 70% số người được hỏi cho biết họ cố gắng mua sản phẩm từ các tổ chức mà họ cho là đạo đức; Gen Z, sớm trở thành phân khúc người tiêu dùng lớn nhất, đặc biệt có thiên hướng xã hội, với khoảng 65% của phân khúc này cố gắng tìm hiểu nguồn gốc của các sản phẩm dịch vụ họ sử dụng… (2) Tạo kết nối lâu dài với khách hàng: Trong thời kỳ khủng hoảng, các tổ chức hàng đầu đang xoay vòng từ tiếp cận đến hỗ trợ và từ việc thực hiện mong muốn của khách hàng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các tổ chức có ý thức xã hội trong các lĩnh vực và khu vực địa lý đang tìm cách tiếp cận và hỗ trợ khách hàng và cộng đồng của họ.

Không hành xử như con người, virus WuHan không cần tôn trọng biên giới chủ quyền quốc gia khi lây lan truyền bệnh. Không một quốc gia nào có thể thoát khỏi đại dịch một mình. Nếu các quốc gia vẫn giữ thế cạnh tranh và đối đầu, loài người chắc chắn sẽ thua cuộc chiến này… Do đó, sự bùng phát COVID-19 hiện tại là một cuộc khủng hoảng toàn cầu và là cơ hội cho các nhà lãnh đạo hỗ trợ khách hàng – trực tiếp và cộng đồng của họ – gián tiếp. Xác lập quan hệ một cách chu đáo, đồng cảm trong những thời điểm khó khăn này sẽ có khả năng tạo ra những kết nối thực sự sẽ tồn tại lâu hơn các tác động xã hội và kinh tế của đại dịch. Và các tổ chức lớn nên coi đó là nghĩa vụ phục vụ cộng đồng nơi họ vận hành cung cấp dịch vụ và sản phẩm…

Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, tuy đã dường như đã biết được “nước” đi nhưng chưa kịp “trở tay” trước những tác động từ dịch bệnh trong khi còn quá nhiều quân cờ lỗi…

… kìm chậm trận đấu lay lức cho qua giờ…

… liệu nền giáo dục có bị “chiếu bí” không phải bởi Virus mà chính bởi các thế hệ tương lai…

… bia miệng ngàn đời.

Xxx – Npl

<Education sector – Covid-19 who would “checkmate” its opponent…>

Even with the virus’s ability to attack borderless, mental health was always the most precious value of human life … If it would be also attacked in the same way as physical health, there was no longer safety place to avoid, this “controlling” King would be in a situation known as “checkmate” – and humans would lose immediately – collapsing, much faster than physical health. Thus, although vulnerable, mental health could guarantee the ultimate victory … with proper care and protection …

The rapid stormy spread of the COVID-19 had unleashed what was considered the greatest shock to our lives and livelihoods in nearly a century. On top of that, COVID-19 had been a crisis like a human being in a chess game where the advantage leaned towards the virus in both piece numbers and influence. Business organizations all suffered from “checkmate threatening” when economies around the world slide down to nearly stagnant. It had been also at this time that signs of innovation in innovative business operations appeared, when business organizations that had to cope with the crisis had created necessary “creative moves“. They evaluated the old assumptions that governed the way businesses running, rethought how to interact with both customers and employees, re-created more flexible supply chains, and defined clear privacy and data sharing.

The ability to create new ways of operating would be important to overcome the crisis. Successful people would quickly establish a “new way of playing” to stabilize operations and determine the next “move” platform for behavioral patterns of consumers and businesses. There, they would become operational models in the coming decades. Companies that aimed to take the lead should start with the fundamental questions that their second nature often confused business planners – who would have to reverse assumptions and find ways to innovate in the left-over room space after the obsolete assumption was removed. Experts were aware that the crisis of this scale would bring shocking shifts, change organizational expectations and create new opportunities. They had had to develop new solutions to help address the aftermath of the crisis while reshaping industries.

Unable to go back to the way things had been going, the goal now was to redefine the best “state of normal conditions” to look forward to after the crisis subsides …

The severe restrictions and regulations brought about by the COVID-19 crisis had quickly pushed organizations into challenges they could never have imagined. Many had had to adapt themselves to adapt to remote operations almost overnight, complete digital transformations in days to weeks instead of months or years and launch products or new service in just a few days. It was gradually realized that the COVID-19 crisis would be a period of “blood transfusion” to re-establish and restructure operational and business models significantly …

Four core ways could be relied upon in crisis response and reestablishment of operations:

  • Support from upper management level/unit. Building successful organizations/ businesses required regular and tangible support from top management [units]. Research showed that executive support and alignment were one of the two most cited factors that affect a company’s success.
  • Access strengths from the company/ superior management unit. Successful organizational/ business building managers understood their existing strengths and could apply them to the new model.
  • Assuming stress test. Management groups often overestimated their prospects for success. To counter that bias, business builders continually tested the organization’s endurance – stamina and reaffirm important assumptions. This was especially true for value proposition assumptions that needed to be verified directly with customers and included business assumptions such as operating costs and market size.
  • Building a specialized team. Many of the most successful companies in the world were made up of successive business building managers. They could replicate success by building specialized teams that could evaluate ideas, identify leaders, provide expertise and support new initiatives.

The ways in question come at a critical time, as organizations fould innovative new ways to help protect lives and livelihoods in times of crisis such as the outbreak of COVID-19. However, once an assumption was verified, it would not be possible to replicate itself; even after the initial crisis was over, when employees are “accustomed” to the traditional workplace “lifestyle” alternatives, they would find that they could work anywhere and whenever to complete the mission. Just as the companies that were supposed to be the best would continue to seek for talent, no matter where they would be; or retailers would continue to seek to humanize the digital experience.

Education was considered as an industry; whether,

learning from innovation managers and business builders was a fundamental foundation not only to recover from this crisis, but also to continually refresh itself – applying an iterative governance cycle again and again. Organizations adapting to the prototypes emerging from this crisis would continue to overturn assumptions in search of new opportunities to emerge [from in this crisis] with the greatest resilience and with greater opportunity to locate a future “reimagined“. So would [our] educational institution be ready to face the challenge?

Obviously,

it was more difficult to explain the importance of an event than to recount them. It was thought that we were considering a structural break of an econometric definition that had become a thing of the past, in which it denoted a moment in time series data when trends and patterns linked between variables changed…

A crisis was often an indication that an organization’s business or operational model, the basic structure of a [particular] industry, had changed significantly, so the ways in which its operation/ old business manner was no longer effective. For example: the education industry was in crisis when the social gap was abruptly changed, the Internet had become the “last resource” in that context; but the delivery of educational “services” through this new channel was actually quite new, and the interactions and behaviors needed to be adjusted in difficulty, not just making money from it. The same principle applied to the entire economy.

Breaking down the structure made many of the existing behavioral patterns changed or disappeared, but it was simply reorienting and adapting to the new situation, the same even for the whole economy. Disruptions and hard times were sure signs that an old model had been pushed to the limit and its value had been under destroyed …

In general, there would be no such thing called as a magic formula – the “magic wand“: reforming an organization / business always required insight and imagination … Above all, the first task was to understand how an organization, an industry that existed, competed and made money in the past; especially when it was education, an industry directly related to the future and the humankind themselves; industries that required the process of accumulating and adjusting in parallel with the changing development of society …

Experiencing historical events through periods: prehistory, pre- Northern colonial period, Northern colonial period, medieval and modern independence period, French colonial period and modern independence period, Vietnamese education had been exposed to and coping with the effects of external aggression and assimilation for a long time, posed great questions in preserving the national tradition and cross-cultural civilization trends in the process of forming an education of their own. Divided into phases:

The period before the August Revolution in 1945

The establishment and widespread use of the roman alphabet in the school since the end of 1919 signaled the end of the former Confucian tradition being replaced with the new system of French colonial administration. Also in the late 19th and early 20th centuries, the patriotic Duy Tan educational movement of Phan Boi Chau, Luong Van Can had initiated the trend of practical learning, using the national language in teaching and learning, approaching with natural sciences and industry, giving up the nomination.

The period of 1945-1954

The Democratic Republic of Vietnam was established. Along with the elimination of illiteracy (educational popularization), the Government of the Democratic Republic of Vietnam had had policies to reform and build initially for the entire national education system. In 1950, the Party Central Committee and the Government decided to carry out an education reform to implement the 9-year school system and new curriculum and taught in Vietnamese.

The period of 1954-1975

In mid-1954, the Ministry of Education agency moved from Yen Nguyen commune, Chiem Hoa district, Tuyen Quang province to Dai Tu and Thai Nguyen districts to Hanoi, and at the same time instructed affiliated schools and localities with regions. The new liberation prepared the necessary conditions to quickly recover the school and class. A lot of work had been focused on implementing: Southern schools in the North to welcome Southern students to the North to study; education reform in 1956 laid the foundation for the formation of a 10-year general education system with 3 levels of education. The system of complementary schools for agriculture and agriculture and the labor unions had been strongly developed.

The period of 1975-1986

During this period also marked the expansion of cooperation, as well as being influenced in education and training with the Soviet Union, the socialist countries in Eastern Europe through overseas student…

Period of 1986-1995:

The 6th Congress of the Communist Party of Vietnam in December 1986 opened a comprehensive renovation process in Vietnam. The policy of the industry in this period was to diversify types of schools and classes, forms of training, and regulations on people-founded and private schools and classes. In 1990, the Government decided to establish the Ministry of Education and Training on the basis of merging the Ministry of Education, the Ministry of Higher Education and Vocational Training. The Ministry of Education and Training uniformly managed the national education system from preschool to university and postgraduate education.

From 1996 to present:

In the 6th Conference of the 11th Central Committee of the Party meeting in October 2012 to discuss educational reform, Dr. Hoang Tuy, an international mathematician and teacher, said: “our education is misleading like no other, this «unlike» sometimes we consider ourselves a unique identity to be proud of and strive to preserve. This misdirection, misleading is seen from the root of the problem as from the philosophy of education, the mindset, the basic concept of the objectives, the way of doing education. In other words, the school can not only teach literacy, knowledge but also to teach how to be a human being…” Also in this seminar, Ms. Nguyen Thi Binh, former Vice President of Vietnam, one of the members of the Vietnam Southern Liberation Movement commented: “Vietnamese education goes against the rules and Professor Nguyen Xuan Han, Member of the National Board of Education, clarified a serious harm of education policy: Current programs and textbooks are harmful to students now.” (excerpt from Hoang Tuy: Our education is misleading/giaoduc.net.vn, October 1, 2012)

In general, these remarks also reflected the general view when education had not yet defined the basic foundation with the “education philosophy“, leading to: the primary school curriculum was not suitable for the age group and at high school grade was too theoretical but a shortage, and at the university level that was far from reality, outdated knowledge, not keeping up with world technological advances. Consequently, middle school textbooks were prepared indiscriminately and the content was biased; and tertiary textbooks were weak in both quantity and quality. Subjects did not be in a continuous sequence, have a harmonious connection from one level to another in a unified way because the curriculum for all levels had not been designed in an academic way, without a specialized editorial board to have an overall view from grade 1 to grade 12, being not standardized in an educational perspective among program editors, while most of them were professionally incapable staff – Associate Professors Dr. Bui Hien – the proponent of the “Luật giáo dục as Education Law” into the scandalous “Luật záo zụk“; but, excess enthusiasm focused on political approach education. In addition to officially announced reforms, the program was often arbitrarily garbled, such as the elementary program consisting of up to four different programs (165-week, 120-week, 100-week programs, educational technology programs) was not re-entered into an elementary program until 2002.

No country had an unstable curriculum with annual changes, troublesome, and mouse-headed heads like curriculum structure, textbooks, and junk examination like in Vietnam. Rolling through one reform to another, teachers and students were confused because they did not know what to teach, what to learn, what to take; monstrous products such as solving math problems by setting variables right from the primary level, then “square-circles-triangle”, or CVNSS 4.0 – Vietnamese without accents appeared to be born under the “renovation” label. In the chaos of examinations, corruption had come to the throne, diplomas became “worth[less]” and was a terrible obsession of the country, which had a tradition of studiousness, where people were in difficult and poor, but still spent 20-30% of income for their children’s education.

These issues needed to be deeply and fully understood, as they had both directly and indirectly affected many generations of students – the future of a society, a country, as well as Vietnam education in general; while our country was still lagging behind many countries in the region, they – these problems, held us one step backward; The shortage of technical and qualified labor became a challenge to many investors, driving them change their investment decisions to other countries such as India, Malaysia or the Philippines. Vietnam had joined the WTO and implemented the General Agreement on GATS world trade and services, which recognized education as a commercialize-able service sector and gradually step up international cooperation and opened educational service markets (as committed)…

Season of epidemic,

in the report assessing the impact of Covid-19 on the economy and the policy recommendations made by the National Economics University, educational services had the largest economic decline compared to all fields. The scenario of ending the epidemic in April would decrease by 35% with online learning conversion; If the epidemic lasted until the end of June, the decline could be up to 60% (leading in the fields) and forced to restructure the industry. This showed the vulnerability and resilience of the education sector, requiring appropriate public support policies.

It was estimated that, in particular, the cost of salaries for 103,863 managers and non-public teachers at the regional average minimum wage was VND 400 billion/ month; the cost of renting premises of 3,702 non-public educational institutions from preschool, primary school, junior high school, high school to pedagogical college and university was up to VND 450-500 billion/ month. In addition, the costs of detoxification, disinfection, disease prevention in the past few months and other costs had not been accounted for … The pandemic was clearly a big challenge, but publishers, schools and pedagogical organizations were in collaboration with the local Department of Education and Training to strengthen the form of distance teacher fostering and promote self-study, self-research of teachers…

Globally, according to UNESCO estimation, as of March 24, 2020, at least 138 countries had imposed school closures nationwide, affecting up to 80% of students globally (about 1.3 billion students). Therefore, countries had focused on online learning solutions and television. Countries such as China, Russia, Argentina, Mexico, South Korea, Canada, France, the United Kingdom, and the US had all stepped up their online teaching.

In Vietnam, online teaching was proposed for a long time but no province or city had yet done it. Through Covid-19, all 63 provinces and cities were made efforts to organize television or online teaching. Thus, this pandemic was also an opportunity for education and training of our country to deploy online teaching at many levels from university to high school, especially for high school students focusing grades 9 and 12. However, online learning also presented many limitations that needed to be overcome such as not ensuring equality, because many students did not have computers and internet assessment at home, which made students in the lower-income family were more disadvantaged than their better capable peers – this group of students did not have suitable study space, did not have enough equipment to study online as well as had some problems psychologically, especially in facing the challenge of exams; In addition, students were not really active in learning, even some students revealed their account name (ID) and password publicly on social networks for some bad people to enter the classroom to harass. Many other studies also showed that school closures increased social risks, girls were more likely to become subject to violence and physical abuse.

Thus, in general, the COVID-19 pandemic was not only a health crisis, but also a human security crisis – depriving freedom from fear, freedom from dreams and freedom to live with dignity. A pandemic required an approach to the new human [security] needs for the protection and empowerment of comprehensive human rights. The only option was to cooperate to build a united and regional coordinated global response. Therefore, before the global economic and humanitarian crisis, COVID-19 forced individuals and organizations/ businesses to quickly change the way of living, operating and working. Many elements of business and life were under challenged; perhaps, the return to the next “normal state” may look very different when new ways of working were introduced. Organizations in general were trying their best to overcome this pandemic from: (1) effective crisis response assurance, (2) to manage supply chain disruptions, (3) to secure their employees by adjusting to their daily work activities.

Specifically in the field of education, the report of two authors, Gwang-Chol Chang and Satoko Yano of UNESCO’s educational policy division; countries affected by the epidemic were all working hard to implement measures to address the immediate challenges:

First of all, countries focused on solutions to maintain the continuity of the curriculum. For many countries, this was even the first priority. The countries had implemented or upgraded the scale of distance teaching based on the use of many technological facilities. Most countries used the Internet, providing online learning platforms such as Argentina, Croatia, China, Cyprus, Egypt, France, Greece, Italy, Japan, Mexico, Portugal, South Korea, Saudi Arabia, UAE and USA. Besides that,

many countries also chose to disseminate lectures in wide-ranging via television or other media such as Argentina, Croatia, China, Costa Rica, France, Iran, South Korea, Mexico, Rwanda, Saudi Arabia, Senegal, and Spain. Nha, Peru, and Thailand. Saudi Arabia even used the official Twitter account of the Ministry of Education and Training to disseminate information about online learning.

Secondly, adjusting the class schedule and exam schedule was an equally important priority. Prolonged school closures had seriously affected class schedules in many countries. In many cases, this also affected the length of time the college entrance examination held in many places. Many countries had had to reorganize their exams and assess their quality at all levels, including universities. Among them were Chile, China, France, Japan, and Spain. In particular, China had allowed students to take some online exams … Or when the exam date could not be changed, many countries also had special arrangements (such as limiting the number of test takers who could take the exam at the same time.) to ensure the health of the candidates. Japan and Thailand were working this way.

Particularly, the UK had canceled the GCSE (high school education certificate) and A-level (high school education certificate); The Council for Secondary Education (CBSE) of India also canceled grade 10 and grade 12 exams; Australia canceled this year’s National Assessment of Language and Numeracy (NAPLAN) Program. Pennsylvania (USA) would cancel the PSSA / Keystone exam …

Not only studying, taking exams, many countries had also paid attention to measures to help children overcome emotional instability when forced to leave teachers and friends for a long time. Many countries (Thailand) had used online communication applications like WhatsApp to help students and teachers maintain communication. Online classes also provided opportunities for children to have social interactions, even online. In many countries such as China, Japan, Spain and the United States, there were also experts to provide psychological support for children who need help. This included a 24-hour hotline and supervision calls to help children avoid loneliness. Specifically, in China, the authorities had provided pedagogical skills online support for parents/ caregivers. Despite the heavy losses, Italy also offered online courses to help parents learn how to manage their children in a limited environment. Spain had built communication platforms and applications to help parents and teachers share and build the learning process for their children. Some countries, such as Guatemala, provided instructional guides and learning materials for parents/ caregivers to ensure a child’s continuous home schooling …

In order to respond to the urgent need for education in the context of a pandemic, in addition to such social adjustments, educational institutions or business units generally needed to develop operational plans to promptly respond to crisis overcoming a pandemic; not only from the unification and standardization of textbooks and curricula, but also the standardization of teachers, educational methods and above all the philosophy and educational goals … – building the foundation the core rather than focusing solely on the means, which was just dealing with the moment of the epidemic; in addition, television, online or digital in general needed to study not only about the medium but also the infrastructure that supported society instead of following the trend: online interaction, 4.0 technology or the internet of things (IoT) … even in advanced countries, there was still a need for stratification to harmonize the purpose of universal social education as well as investment costs; after all, educational institutions were still commercial service providers, especially non-public sector:

Minimize risk by reducing physical interaction. The first social responsibility to respond to a pandemic on a scale like Covid-19 was to eliminate the risk of spreading the virus, especially from the most at-risk population. Infectious risk reduction organizations minimized their activities in essential tasks, especially when related to vulnerable groups – children.

Actively contributing to safety by innovating the product and service portfolio. Organizations should ask themselves two important general questions:

  • Did we have a product the world needed right now? Or,
  • Could we quickly adapt our product portfolio to deliver when urgent?

Pursuing this approach, organizations could use their strengths to provide socially essential products, even if those goods were out of reach of a single manufacturer’s current supply of products. For example, some distilleries were using their ethanol supply to provide raw materials for hand sanitizers through partnerships with refineries; organizations were also stepping up to meet the needs for many medical devices and personal protective equipment; costume makers were adjusting to reducing sales by producing thousands of necessary masks; a number of car manufacturers such as GE, Tesla and Vinfast were shifting their production to ventilators; educational institutions that produced program studies and teaching methods and built mental health centers for student cares from distance …

Provide practical assistance to customers while being financially difficult. Once customers had ensured personal safety, their next concern was often financial. When organizations were forced to reduce operations in an uncertain time period, individuals and millions of business unit owners/ small businesses faced major revenue and liquidity problems. Providing flexible solutions while dealing with financial challenges was now both a responsibility and a great source of trust for [large] organizations: financial institutions did not penalize customers unable to meet payment obligations during the epidemic period; the network did not terminate the service or enforce late payment fees for customers in trouble for another 60 days; and, energy suppliers would not cut off electricity; in some cases, they even reconnected customers whose services were cut before the crisis; similarly, the actual tuition fees and collected education costs would be eventually matter to be considered as well …

Bringing joy and supporting emotional needs of customers who had been isolated at home. Many people were forced to stay home, and experienced all the problems that came with the obligation to do so. Organizations were working to make “home life” more enjoyable and also to ensure the happiness and safety of their customers. Families had had to entertain their children at home for the next few weeks, making access to online content whether schooling, working or entertaining a truly basic need. The network was providing unlimited free data for the next 60 days to all mobile customers with data plans. Entertainment organizations had released content ahead of time: Walt Disney Foundation released blockbuster family-friendly Frozen 2 on its Disney + streaming platform three months earlier than planned; The New York Metropolitan Opera offered free digital programs for entertainment; a series of famous commercial programs were offered free of charge such as: Swan Lake ballet, Phantom in Theater opera, or famous circus shows of Cirque du Soleil; while Google Arts & Culture had partnered with museums around the world to run virtual tours – the ultimate goal was still to take care of public mental health, especially for children …

Actively converting customers to online channels. With so many requests from around the world for home insulation, organizations that previously relied on activities through physical contact had to direct customers to online services. Online conferencing organizations, like Cisco from Webex, were supporting schools and universities as they moved to distance learning by providing free tools for teachers, parents and students to support the development of online learning plans. Other organizations that did not have online services may find ways to set up and expand online services with a significant increase in demand from customers as their needs increasingly shift to digital. This transition to online and digital channels would be likely to continue to increase significantly even after recovering from the crisis …

Approaching and treating customers carefully in personal interactions. When physical contacting channels such as bank branches, schools and grocery stores had been closed, many customers were turning to other channels to address issues, as well as, requiring caring and personal care. Telecommunications and financial service organizations were currently experiencing an ever-increasing number of calls to their customer service points, and their customer service centers had to be relocated to remote work. Other organizations had stepped up options to find digital information; Erdos Group had launched a WeChat program in China to provide virtual product advice. In many countries, the government’s education administration agency had established a center for mental health care for students 24/24 via online and telephone …

Showing interest in the community through the values ​​of the organization. (1) Forming an engagement towards value creation: Educational institutions also demonstrated their commitment to the communities in which they operate could build a more loyal base of long-term loyalty. A 2019 survey of McKinsey found that 64% of consumers in general chose brands that they believed were doing well in society, up from 13% in 2017. In another McKinsey study, 70% the number of respondents said they tried to buy products from organizations they considered to be ethical; Gen Z, soon became the largest consumer segment, especially socially oriented, with about 65% of this segment trying to find the origin of the products and services they used… (2) Creating long-term connection with customers: In times of crisis, leading organizations were turning from access to support and from fulfilling their customers’ wishes to meeting their needs. Socially aware organizations in geographic areas and regions were seeking to reach and support their customers and community.

Had not behaved like humans, WuHan virus did not need to respect the national sovereignty border while spreading the disease. No country could escape the pandemic alone. If nations remained competitive and confrontational, mankind would surely lose this war … Therefore, the current COVID-19 outbreak was a global crisis and an opportunity for leaders to support the customer – directly and their community – indirectly. Setting careful and sympathetic relationships during these difficult times would be able to make real connections that would outlast the social and economic impacts of the pandemic. And large organizations had to consider it as an obligation to serve the community in which they operated to provide services and products …

Education in Vietnam in the current context, although it seemed to have known the “moves” to take but could not “re-act” before the impact of the disease while there were too many chess pieces in error positions…

… slowing down the game to passing time …

… whether education would be “checkmated” not by viruses but by future generations …

… a thousand years of verbal stele.

Xxx – Npl

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s