Brief – Tuần 07 – 11/01/2019

Các sự kiện chính:

Thế giới chứng kiến Dow Jones vượt mốc 24.000 điểm, phố Wall đã “lấy đà” bật mạnh nhất trong 13 năm; các chỉ số đã tăng ngay trong đêm cuối tuần hôm qua ngày 11/1, nhưng mức tăng đã bị cản lại khi doanh số bán hàng trong kỳ nghỉ từ Macy gây thất vọng cùng với việc hãng American Airlines cắt giảm dự phóng doanh thu gián tiếp tạo áp lực lên nhóm cổ phiếu bán lẻ và hàng không – với đánh giá có thể trở thành mối lo ngại trong trung hạn…

Ở nền kinh tế có quy mô đứng đầu sau vài thập kỷ tăng trưởng mạnh mẽ, kinh tế Trung Quốc đang có dấu hiệu “hụt hơi”; trong đó, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế trong năm 2018 của quốc gia này đạt mức thấp nhất kể từ năm 1990.

Một phần hưởng lợi từ chiến tranh thương mại năm 2019, GDP Việt Nam sẽ thuộc nhóm tăng nhanh nhất thế giới năm 2019. Dự đoán năm 2019, GDP của Việt Nam được EIU đánh giá sẽ tăng 6,7%, thuộc nhóm cao trên toàn cầu.

Tuy nhiên, ở lĩnh vực phát triển hạ tầng, cho tới cuối 2018, Bộ GTVT mới giải ngân được 90,3% vốn đầu tư của toàn bộ năm.

Tại sao nó ảnh hưởng:

Tuy đạt được bước nhảy cải thiện tình hình nhưng nỗi sợ chính phủ Mỹ tiếp tục đóng cửa cũng vẫn tạo áp lực lên thị trường.

Tương tự, kinh tế của quốc gia đông dân nhất thế giới đang dấn sâu vào một thời kỳ khủng hoảng chưa từng có trong lịch sử và có thể ảnh hưởng tiêu cực đến phần còn lại của thế giới phần lới ảnh hưởng từ chiến tranh thương mại. Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung được cho là cũng sẽ có lợi cho một số quốc gia; trong đó, Việt Nam là một ví dụ, với tốc độ tăng GDP dự báo 6,7% năm nay. Đây được coi là phương án thay thế Trung Quốc cho các doanh nghiệp khi lựa chọn địa điểm sản xuất. Năm 2018, GDP Việt Nam tăng 7,08% – cao nhất 10 năm.

Vẫn phải đối mặt với cải cách môi trường doanh nghiệp, các vấn đề chậm tiến độ, chất lượng thấp đặc biệt nổi lên từ lĩnh vực hạ tầng – là cơ sở nền tảng phát triển xã hội. Lý giải nguyên nhân của vấn đề trên, Thứ trưởng Nguyễn Nhật cho biết, nguyên nhân là do các đơn vị chủ đầu tư, ban quản lý dự án đăng ký nhu cầu kế hoạch cao hơn khả năng thực tế do lạc quan vào khả năng thực hiện của dự án, không lường trước được hết những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện các thủ tục đấu thầu, đền bù giải phóng mặt bằng, các sự cố công trình, điều kiện thời tiết bất lợi…

Xu hướng chính:

S&P 500 đã tăng 0,4% lên 2.596,64 – ghi nhận tăng điểm năm ngày đầu tiên kể từ tháng 9 năm ngoái – khi các lĩnh vực bất động sản và công nghiệp tăng điểm. Chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones cũng có chuỗi tăng trong 5 ngày, tăng 122,80 điểm lên 24.001,92 nhờ ông lớn Boeing. Nasdaq Composite tăng 0,4% lên 6,986,07. Đây là mức chạy đà năm mới tốt nhất trong 13 năm qua.

Trong đó Trung Quốc lại đang chứng kiến sự chững lại phát triển kinh tế mang lại những lo ngại; trong những thập kỷ phát triển vừa qua, sự “bùng nổ” tầng lớp trung lưu đã biến quốc gia này thành thị trường hàng hóa tiêu dùng như xe hơi, điện thoại thông minh và bia lớn nhất trên thế giới, tạo ra nguồn doanh thu hàng tỷ USD cho các công ty như General Motors và Apple. Nỗi lo sợ về sức khỏe nền kinh tế Trung Quốc phần nào được phản ánh thông qua thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán của quốc gia này đã chính thức vào “thị trường giá xuống” hồi tháng 6/2018, mất đi 25% giá trị so với đầu năm. Sự kiện này cũng có những tác động nhất định lên thị trường chứng khoán Mỹ và châu Âu.

Dĩ nhiên, bên cạnh đó toàn cầu cũng có nhiều mảng tối. Chứng khoán thế giới đã có năm 2018 rất tồi tệ và xu hướng này dường như đang kéo dài sang năm nay. Một phần nguyên nhân là nhà đầu tư ngày càng lo lắng về kinh tế toàn cầu, đặc biệt là hai nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Cái gì tiếp theo:

Phố Wall cân nhắc khả năng đóng cửa chính phủ liên bang Hoa Kỳ kéo dài. Trước đó vào thứ Năm, Tổng thống Donald Trump đã tweet rằng ông sẽ bỏ qua Diễn đàn kinh tế thế giới hàng năm ở Davos do chính phủ ngừng hoạt động.

Các phái đoàn từ Washington và Bắc Kinh đã kết thúc ba ngày đàm phán thương mại tại Trung Quốc vào thứ Tư. Bộ thương mại Trung Quốc cho biết hôm thứ Năm các cuộc đàm phán đã được mở rộng và đã giúp thiết lập một nền tảng cho các cuộc đàm phán tiếp theo. Các cuộc gặp mặt trực tiếp trong tuần này là cuộc gặp mặt đầu tiên diễn ra kể từ khi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đồng ý thỏa thuận “ngừng bắn” 90 ngày vào tháng trước.

Theo các chuyên gia, “cú tát” từ chiến tranh thương mại được dự đoán còn có những hệ quả nặng nề hơn đối với Trung Quốc trong vài tháng tới, ảnh hưởng nghiêm trọng lên lượng hàng hóa xuất khẩu cũng như lợi nhuận của các công ty của quốc gia này.

Bức tranh kinh tế tại châu Âu năm nay cũng khá u ám. Anh sẽ rời Liên minh châu Âu (EU) vào tháng 3. Quốc gia này được dự báo chỉ tăng trưởng 1,5%. Pháp đối mặt với ít bất ổn hơn, nhưng tốc độ tăng GDP cũng không khá hơn. Mỹ được dự báo tăng trưởng 2,3% năm nay, thấp đáng kể so với ước tính 2,9% năm ngoái. Nguyên nhân là ảnh hưởng từ chính sách giảm thuế phai nhạt dần và Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ. Với Trung Quốc, tốc độ này cao hơn nhiều – 6,3%. Tuy vậy, nó vẫn thấp hơn ước tính năm 2018.

Bên cạnh đó, tại Việt Nam, công tác chuẩn bị đầu tư cho các dự án thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công có nhiều thủ tục hơn so với các quy định trước đây nên tốn nhiều thời gian hơn gây ảnh hưởng chung tới tiến độ triển khai các dự án. Ở lĩnh vực hạ tầng, trong hơn 27 nghìn tỷ, gồm hơn 14.100 tỷ đồng vốn nước ngoài, hơn 5.850 tỷ đồng vốn trong nước, hơn 3.140 tỷ đồng vốn trái phiếu chính phủ (TPCP), 2.936 tỷ đồng vốn 2017 kéo dài sang năm 2018 và gần 1.150 tỷ đồng vốn TPCP 2016 kéo dài sang năm 2018.

Dự kiến đến hết thời điểm chỉnh lý quyết toán ngân sách Nhà nước (31/1/2019), Bộ Giao thông vận tải sẽ giải ngân được khoảng 90,3%, tương đương hơn 23.785 tỷ đồng.

Dấu hiệu rủi ro:

Nếu cả hai bên Trung – Mỹ không thể đảm bảo một thỏa thuận thương mại toàn diện vào ngày 2 tháng 3, Trump đã nói rằng ông có kế hoạch tăng thuế lên 25% từ 10% đối với hàng nhập khẩu trị giá 200 tỷ USD của Trung Quốc.

Bên cạnh việc áp mức thuế nhập khẩu mới, chính phủ Mỹ đã ra sức ngăn cản hai công ty công nghệ lớn của Trung Quốc mua linh kiện điện tử được sản xuất tại Mỹ này, cân nhắc kỹ lưỡng hơn các đề nghị đầu tư từ nước ngoài; nổi cộm là yêu cầu dẫn độ giám đốc tài chính tập đoàn Huawei, công ty được Trung Quốc kỳ vọng sẽ dẫn đầu công nghệ 5G trên toàn thế giới.

Dẫn tới, nhiều người thậm chí cho rằng tăng trưởng của Trung Quốc sẽ còn sụt giảm nữa, do cuộc chiến thương mại với Mỹ và chính sách giảm nợ trong nền kinh tế.

Cùng với nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, tranh thủ ảnh hưởng có lợi từ chiến tranh thương mại cũng như hạn chế các ảnh hưởng xấu, các vấn đề từ việc giải ngân vốn nước ngoài còn có sự khác biệt về quy trình, thủ tục đấu thầu theo quy định trong nước và của nhà tài trợ; chênh lệch về niên độ tài khóa; quy định về mức vốn tối thiểu được làm thủ tục thanh toán, thủ tục ghi thu, ghi chi vốn đã thực hiện… Công tác giải phóng mặt bằng của các dự án phức tạp, vướng mắc kéo dài làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công; Điều kiện thời tiết bất lợi (mưa, bão…) vào đúng thời điểm phải đẩy nhanh tiến độ thi công cần phải được nỗ lực xử lý.

Xxx – philong

Advertisements

Article – Cái khó có ló ra cái khôn…

Image result for nông nghiệp

Những ngày cuối năm, dịp nghỉ ngơi thảnh thơi sau bao xô bồ đầy toan tính trong cả một năm dường như đã chậm hẳn lại để rồi dừng, cái được hay chưa được, cái mất cũng phải ngưng lại trước thềm năm mới…, đây có lẽ là thời khắc duy nhất để “gạch sổ”, nghiệm lại mọi điều trong cuộc sống và chuẩn bị cho tương lai, gần hơn là cuộc hành trình năm tiếp theo với bao mơ ước và dự định…

Nhìn lại dòng thời gian 2018 đầy biến động, không chỉ với đỉnh điểm chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, thế giới còn chứng kiến nhiều quốc gia oằn mình gánh nợ công mà dường như khả năng thanh toán gần như bằng không. Việc đánh đổi với nguồn tài nguyên thiên nhiên, hạ tầng chiến lược là không thể tránh khỏi với những quốc gia này… đó là chưa kể những khó khăn từ các vấn đề địa chính trị dẫn tới những quyết định tẩy chay thông qua cấm vận ở một loạt các quốc gia gần đây…

 

Trước kia, ngay sau khi Việt Nam thống nhất đất nước năm 1975, lệnh cấm vận của Washington đối với Việt Nam đã siết chặt với việc cắt đứt toàn bộ quan hệ ngoại giao với Hà Nội: không có bất kỳ một hình thức bang giao nào giữa hai nước, ngoại trừ một số có chọn lọc các hoạt động vì mục đích nhân đạo, nhưng ngay cả việc này cũng bị ngáng trở rất nhiều. Trong cuốn “Traveling to Vietnam” (Đường đến Việt Nam), tác giả Mary Hershberger đã nhận xét “…chính phủ Hoa Kỳ  đã chống lại Việt Nam trên từng bước đường đi và phong tỏa mọi mối liên hệ quốc tế của Việt Nam, ngay cả khi điều đó có nghĩa là Hoa Kỳ  sẽ phải liên kết với quân Khmer Đỏ ở Campuchia.

Đó là quá khứ; việc bình thường hoá quan hệ và thúc đẩy hợp tác với Việt Nam vừa xuất phát từ nhu cầu nội tại của Hoa Kỳ nhất là từ “Hội chứng Việt Nam” lúc đó đang chia rẽ xã hội nước Mỹ, thêm sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu sau Chiến tranh lạnh nói chung, với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á nói riêng cùng với các nhân tố quốc tế thời kỳ đó. Mối quan hệ bình thường với Việt Nam, quốc gia vừa có vị trí địa – chiến lược quan trọng với tiềm năng phát triển, đã không chỉ đáp ứng lợi ích nhiều mặt của Hoa Kỳ trong các mối quan hệ song phương [Việt Nam – Hoa Kỳ], và trong cả các mối quan hệ đa phương và song phương khác của Hoa Kỳ khu vực Đông Nam Á, Châu Á – Thái Bình Dương.

Ngày nay, nhân dân Việt Nam vẫn còn giữ hình ảnh thân thiện của Tổng thống Bill Clinton và phu nhân đi mua lụa Hà Đông và ăn phở Hà Nội những ngày tháng 07/1995 đáng nhớ đó…

 

Giờ đây, lịch sử cấm vận lại được ông lớn Hoa Kỳ qua đạo luật H.R.3364 áp đặt lên Nga, được cả Hạ viện và Thượng viện Mỹ thông qua vào hồi 27/7/2017 và được Tổng thống Trump phê chuẩn; tuy rằng các biện pháp cấm vận của Mỹ và phương Tây nhằm vào Nga liên quan tới cuộc khủng hoảng Ukraine đều đã bị coi là thất bại, hoàn toàn thất bại; vì tất cả là…

nhờ… cấm vận!

kể từ khi sáp nhập Crimea dẫn tới các quyết định trừng phạt của Mỹ và EU và các khó khăn nội tại từ nền kinh tế, Moscow đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 phải đủ sức tự cung tự cấp lương thực. Với 145 triệu dân phải chăm lo, an ninh lương thực chính là an ninh quốc gia, Tổng thống Putin khẳng định điều đó năm 2015; do đó, đối mặt với lệnh cấm vận và tự điều chỉnh nền kinh tế chính là việc cấp bách ưu tiên hàng đầu. Từ đó, Moscow quyết định tăng trợ cấp cho công nhân nông nghiệp và cho phép người nước ngoài thuê đất. Các công ty thương mại lớn bắt đầu đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp để có được phần bánh của họ. Các tỉ phú Nga như Oleg Deripaska và Vadim Moshkovich, được thúc đẩy bởi việc hỗ trợ cắt giảm thuế cùng với những trợ cấp khác từ nhà nước, đã đầu tư lớn vào nông nghiệp.

Ngay sau cấm vận giá thực phẩm ở Nga tăng vọt, là kèm theo những lời chỉ trích các nhà chức trách, dần dần cú sốc qua đi, giá thực phẩm đã ổn định kể từ khi xuất hiện các nhà sản xuất trong nước và các nhà nhập khẩu từ các nước khác. Biện pháp trả đũa cấm nhập khẩu nông sản châu Âu giải phóng thị trường cho các nhà sản xuất trong nước, dù bằng cái giá của lạm phát cao; kết quả là chưa đến cột mốc 2020, chỉ từ năm 2016 Nga đã trở thành một nước nông nghiệp có thể tự cung tự cấp, từ ngũ cốc tới thịt gia súc, gia cầm. Đồng rúp mất giá hóa ra cũng có lợi hơn cho sản phẩm nông nghiệp Nga xuất khẩu…

…cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi, giá điện và phân bón giảm, những điều kiện thuận lợi vẫn tiếp tục tạo đà phát triển, cũng trong một cuộc làm việc hồi tháng 10/2018, Tổng thống Putin tuyên bố sẽ kéo dài chương trình phát triển bền vững nông nghiệp Nga cả sau năm 2021.

Chúng tôi nhận thấy sự gia tăng rõ rệt trong ngành công nghiệp thực phẩm, sự tăng trưởng trong nông nghiệp, đặc biệt là thịt và sữa. Sản xuất rau trong nhà kính cũng tăng lên. Tất cả điều này làm tăng mức độ an ninh lương thực của đất nước và chống lại những cú sốc tiếp theo nếu chúng xảy ra“, nhà phân tích chính của Rosbank, ông Evgeny Koshelev cho biết.

Sự gia tăng sản phẩm nông nghiệp của Nga có thể trở thành cơ sở để đa dạng hóa xuất khẩu. Nga đã chứng minh tiềm năng của mình trong lĩnh vực cung cấp ngũ cốc ở nước ngoài, và doanh thu từ xuất khẩu kinh doanh nông sản phẩm nông nghiệp đã vượt quá doanh thu từ bán… vũ khí.

Nga có triển vọng tốt để trở thành một trong những cường quốc thực phẩm hàng đầu thế giới“, cố vấn của Viện Phát triển đương đại Nikita Maslennikov cho biết; Nga đang tiến hành mở các thị trường mới, đặc biệt là ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Theo ông Maslennikov, các nhà sản xuất trong nước có triển vọng gia tăng xuất khẩu đậu nành, thịt gia cầm và thịt lợn…

Còn nhớ, sau khi mối quan hệ giữa Ukraine với Nga xấu đi từ sự kiện Crimea thì Tổng thống Ukraine – Poroshenko luôn ép Nga trong việc vận hành của đường ống (tuyến ống cung cấp khí đốt của Nga cho Châu Âu đi qua nước này). Điều này không chỉ ảnh hưởng xấu tới kinh tế Nga mà còn đe dọa an ninh năng lượng của nhiều nước Châu Âu, nhất là vào mùa đông…

châu Âu cần khí đốt từ Nga – đó là điều nhìn thấy rõ.

Nhưng bên cạnh đó về khía cạnh chính trị, chính một số nước Châu Âu lại hay cùng với Mỹ, Anh gây sức ép cho Chính phủ của Tổng thống Putin. Và chiêu bài cấm vận kinh tế đối với Nga đã được họ đã sử dụng làm con bài nhằm khuất phục nước này… đầu tiên là lương thực…

Dĩ nhiên không chỉ dựa vào tự cường về lương thực, thực tế, Nga không khờ dại để không áp dụng hỗn hợp các biện pháp chống lại cấm vận; một trong đó chính là khí đốt – loại năng lượng mà Châu Âu đang rất cần nhưng lại lệ thuộc vào Nga. Năm 2017, Nga đã cung cấp gần 200 tỷ mét khối khí cho Liên minh châu Âu, chiếm gần 40% tổng lượng khí đốt của châu Âu; rõ ràng khí đốt không chỉ đem lại ngoại tệ cho Nga mà còn là vũ khí sắc bén để Nga mặc cả với Châu Âu về các vấn đề chính trị.

Với việc khơi thông tuyến đường ống khí đốt “Dòng chảy Thổ Nhĩ Kỳ” Nga đạt được ít nhất 4 mục tiêu: không bị động bởi chính sách thù địch của Tổng thống Ukraine, tiếp tục thu tiền từ khí đốt, có vũ khí để chống trả cấm vận kinh tế và giữ thế chính trị của mình.

Trong bối cảnh này, Bộ trưởng Năng lượng Nga Alexander Novak cho biết, mặc dù Moscow không phải là nhà độc quyền ở thị trường châu Âu, nhưng năm nay, nguồn cung cấp khí đốt của Nga cho châu Âu dự kiến sẽ đạt mức kỷ lục dù cho thế giới đang bước vào ngả rẽ phát triển thị trường khí đốt, tuy nhiên, điều đó không áp dụng đối với Nga. Ông nói thêm rằng, sự lựa chọn nguồn cung khí đốt là tùy thuộc vào người tiêu dùng, bất cứ nước nào có khí đốt rẻ hơn sẽ cung cấp nhiều hơn. Đối với khí hóa lỏng, con đường dẫn đến thị trường châu Âu luôn mở cửa, Bộ trưởng Novak khẳng định.

Cũng theo tạp chí Financial Times của Anh, trong năm 2017, lượng xuất khẩu của công ty sản xuất khí đốt Gazprom – công ty lớn nhất thế giới trong lĩnh vực, sang châu Âu đã tăng 8,1%, đạt mức kỷ lục 193 tỷ mét khối khí đốt, trong đó, đạt gần 40% lượng nhiên liệu xanh cho châu Âu trong năm 2017. Trong bối cảnh một số nước thành viên EU muốn “giảm phụ thuộc” vào Moscow những năm gần đây, Gazprom đã tiến hành chính sách giảm giá để duy trì thị phần; ví dụ, Ba Lan, Litva và các nước khác xây dựng kho trữ khí tự nhiên hoá lỏng để tăng nhập khẩu từ Mỹ và Qatar.

Ngoài ra, một số thành viên của Liên minh châu Âu đang cố gắng chặn các dự án năng lượng của Gazprom, kể cả Nord Stream-2, nhằm làm suy yếu Nga với lý do trừng phạt Moscow đã sát nhập trái phép bán đảo Crimea của Ukraine. Giám đốc kỹ thuật công ty Nord Stream-2 AG Sergei Serdyukov nói với các phóng viên hôm 03/10/2018 rằng, việc lắp đặt tuyến đường ống “Dòng chảy phương Bắc-2” (Nord Stream-2) ở vùng biển của Nga sẽ bắt đầu vào tháng 12 tới khi máy đặt đường ống Solitairy di chuyển tới nơi từ trong vùng biển Phần Lan và bắt đầu khởi động…

Không tiết lộ cụ thể là tuyến đường ống “Dòng chảy phương Bắc-2” lắp đặt vào cuối năm 2018 sẽ có chiều dài bao nhiêu km, dự án “Dòng chảy Phương Bắc-2” liên quan đến việc xây dựng hai tuyến ống dẫn khí, chạy dài từ bờ biển Nga đến Đức thông qua Biển Baltic. Tổng công suất khí vận chuyển cho mỗi tuyến là 55 tỷ mét khối khí mỗi năm. Tuyến ống mới dự kiến sẽ được xây dựng bên cạnh Nord Stream 1 đang hoạt động. Tuy phải đối mặt với một số trục trặc và được điều chỉnh về lộ trình nhưng cơ bản kế hoạch không thay đổi phương án và tuyến đường…

Tuy nhiên, bất chấp những khó khăn, Gazprom đã xuất khẩu khối lượng khí đốt kỷ lục sang châu Âu trong năm thứ hai liên tiếp. Với 2 tuyến ống Nord Stream-2 và Turk Stream đi vào hoạt động, Nga vẫn là nhà cung cấp khí đốt số 1 cho châu Âu.

 

Thoát khỏi cấm vận, cũng như nước Nga, Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành tựu kinh tế, tuy nhiên ở quy mô và hoàn cảnh địa chính trị của mình, rất nhiều thách thức và vấn đề trong quá trình “mở cửa” và “hội nhập”… khiến Việt Nam phải nỗ lực hơn nữa…

Nếu nhận xét về một nền kinh tế, “tiết kiệm là yếu tố quan trọng hơn cả GDP; đối với nguồn lực kinh tế qua tiết kiệm ngày càng nhỏ thì để tồn tại và tiếp tục sản xuất thì vay mượn là chuyện đương nhiên. Vấn đề của Việt Nam là nợ, càng chú trọng vào thành tích tăng trưởng GDP thì nợ càng nhiều“, chuyên gia kinh tế Bùi Trinh nhận xét; đối với Việt Nam, phía cung không có gì, hoàn toàn là gia công. Muốn tăng GDP rất dễ: đào đường, lấp đường lại, xây trụ sở… đều làm tăng GDP – chi thường xuyên, xuất khẩu than, khai thác dầu khí, tăng trưởng FDI… cũng đều tính vào GDP. Nhưng khai thác dầu khí phải trả cho đối tác nước ngoài theo tỷ lệ nhất định, FDI tăng trưởng thì tiền của nhà đầu tư chuyển về nước họ, không phải của Việt Nam… kỳ vọng FDI giúp giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; trên thực tế, lao động người Việt tại các doanh nghiệp FDI năm cao nhất cũng chỉ chiếm 6-7%, trong khi đó lao động trong khu vực kinh tế tư nhân chiếm tới 43%; trong đó, công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam hoàn toàn là làm gia công từ trước nay, tăng trưởng về giá trị sản xuất của công nghiệp chế biến chế tạo luôn luôn ngược với tăng trưởng giá trị gia tăng của những ngành này. Vì thế, việc tăng trưởng này không có nhiều ý nghĩa.

Tôi vẫn cho rằng, càng lao vào tăng trưởng GDP thì nền kinh tế Việt Nam càng rủi ro, đặc biệt rủi ro về nợ rất lớn. Tăng trưởng GDP không phải là tăng trưởng kinh tế“, chuyên gia kinh tế TS Bùi Trinh chỉ rõ.

Nhấn mạnh những con số mà Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đưa ra chỉ là những con số dự báo có tính chất tham khảo, TS Bùi Trinh cảnh báo một lần nữa, tăng trưởng GDP càng cao thì rủi ro về nợ càng cao. GDP là một chỉ tiêu đo lường do Keynes đưa ra để quản lý trong ngắn hạn và thời điểm; Keynes cho rằng, để có tăng trưởng GDP trên một đơn vị tiền tệ thì phía cung cũng phải đạt tăng trưởng tương ứng, khái niệm kích cầu được định nghĩa từ mối quan hệ này…

 

Tăng trưởng kinh tế năm 2018 đã đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất 10 năm theo báo cáo tóm tắt năm 2018 của Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia cho biết, ước tăng trên 7%; tất cả nhờ vào động lực chính là ngành công nghiệp chế biến chế tạo và ngành dịch vụ, nông, lâm thủy sản tăng trưởng tốt. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo đóng góp khoảng 2,5% vào tăng trưởng; ngành dịch vụ đóng góp khoảng 2,75% vào tăng trưởng. Như như TS Bùi Trinh đã nhận xét, chúng ta cũng cần xem các chỉ tiêu đánh giá thể hiện một cách tổng quát hơn… Do đó, điều mà người Việt Nam nên vui hay buồn hay lo lắng không phải là tăng trưởng GDP mà nên là chỉ tiêu Tiết kiệm (Saving), là chỉ tiêu tổng thu nhập quốc gia (GNI).

Để đạt được phát triển bền vững, trong những chính sách phát triển, việc cân đối giữa các yếu tố của nền kinh tế đóng một vai trò quan trọng, trong đó, các chính sách về năng lượng là yếu tố bắt buộc – một trong những động lực cho xã hội phát triển nói chung và nên kinh tế nói riêng, và còn phải tính đến khía cạnh bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu để đạt được yếu tố bền vững dài hạn.

Tuy nhiên trên thực tế, nước ta đang từ chỗ là nước xuất khẩu dầu mỏ và than đá nhưng gần đây cũng đã bắt đầu nhập khẩu cỡ 5-7 triệu tấn và sẽ tiếp tục tăng lên mức vài ba chục triệu tấn sau này, đây chính là giới hạn của tài nguyên, khoáng sản, đặc biệt là nguồn năng lượng hóa thạch không tái tạo như than đá, dầu mỏ…

Có lẽ đây là điểm khác biệt so với người anh cả, với mục tiêu “đảm bảo an ninh năng lượng, Việt Nam đang chuyển đổi từ nước xuất khẩu năng lượng sang nhập khẩu năng lượng. Nếu như trước đây, Việt Nam từng xuất khẩu năng lượng, điện sang Campuchia, Lào và xuất khẩu than lớn nhưng đến năm 2016 đã nhập khẩu gần 10 triệu tấn than và mua điện từ Trung Quốc với thời điểm cao nhất lên đến 5 tỷ kWh. Hiện sản lượng điện nhập khẩu từ Trung Quốc có giảm hơn, nhưng cũng đạt trên dưới 1 tỷ kWh/năm. Dự kiến, ta cũng sẽ phải nhập khẩu 17 triệu tấn than, chiếm khoảng 31% nhu cầu than cho phát điện năm 2020 và tăng mạnh hơn vào những năm sau đó”, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng cho hay.

Trong bối cảnh điện hạt nhân đã được hủy bỏ, nhiệt điện than bị phản ứng về vấn đề môi trường; còn năng lượng khác từ nguồn sạch như nhiệt điện khí tập trung ở Miền Nam đang đối mặt với hạn chế nguồn khí (bể Nam Côn Sơn không còn nhiều, Cá Voi Xanh còn chưa đi vào khai thác), điện rác, điện gió, điện mặt trời còn nhiều hạn chế về quy mô, về công nghệ với mức chi phí rất cao, sẽ là thách thức và Việt Nam sẽ phải đối mặt với bài toán chênh lệch không chỉ cung – cầu mà còn giữa các vùng miền ngày càng tăng. Thêm vào đó, trong 15 năm trở lại đây, mức tăng trưởng điện năng thương mại đã liên tục tăng cao và tương lai sẽ còn tiếp tục tăng nhanh hơn trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội; theo cách tính GDP, vì để có 1% tăng trưởng, ngành năng lượng phải đạt ở mức 1-1,2% tăng trưởng, như vậy, ít nhất trong 10 năm tới, nhu cầu điện năng sẽ tăng trưởng tối thiểu trung bình khoảng 10%.

Một khía cạnh khác là sự lãng phí…

Số liệu cho thấy, lãng phí năng lượng trong công nghiệp ngành xi măng ở mức 50%, gốm sứ 35%, dệt may 30%, thép 20%, nông nghiệp 50%”… việc sản phẩm của Việt Nam không thể cạnh tranh, một phần với lý do chi phí quá cao, mà chi phí năng lượng chiếm một tỷ lệ lớn trong cơ cấu chi phí (nếu so sánh ngang với các nước trong vùng, chi phí trên một đơn vị năng lượng của Việt Nam ở mức thấp, nhưng so sánh trên tỷ lệ thu nhập đầu dân thì vọt rất cao); yếu tố đánh giá cao ở đây thực tế chủ yếu lại từ nguyên do của sự lãng phí trong quá trình sử dụng; các chuyên gia cho rằng, cần phải thay đổi toàn bộ tư duy và cách tiếp cận chiến lược năng lượng. Bên cạnh sự nỗ lực từ phía nguồn cung điện, việc tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và tiêu dùng phải đưa lên có tính thiết chế chứ không chỉ là “sự lựa chọn” như hiện nay…

 

Nhìn lại hành trình vượt ra khỏi khủng khoảng cấm vận, liệu kinh tế Việt Nam có thể giải phóng được như Nga; liệu ngoài năng lượng, nông nghiệp nói chung và lương thực nói riêng vốn đã là thế mạnh của Việt Nam, có thể trở thành động lực cho nền kinh tế phát triển?

Tính tới 2017, nông nghiệp đã tăng trưởng tích cực với mức 2,65% (so với mức -0,18% cùng kỳ năm 2016). Tuy tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GDP cả nước đã giảm trong những năm gần đây nhưng mức đóng góp vào tăng trưởng vẫn ổn định ở mức 16-18%. Ngành vẫn đóng vai trò rất quan trọng khi tạo ra trên 40% tổng việc làm cho lao động cả nước.

Nhìn lại,

ở giai đoạn 1990-2015; diện tích đất trồng trọt tăng bình quân 2%/năm, đến cuối năm 2015 đạt gần 15 triệu hecta. Suốt trong thời kỳ này, đất trồng lúa tăng chậm hơn, bình quân 1%/năm, thay đổi rất ít sau đó kể từ năm 2000. Theo thống kê gần nhất diện tích đất trồng lúa hiện nay ở mức 7,8 triệu hecta, chiếm 52,5% tổng diện tích đất trồng trọt với năng suất được cải thiện rất nhiều so với 20 năm trước. Cần phải đánh giá vai trò cây lúa trong đời sống người Việt từ ngàn xưa – nền “văn minh lúa nước”, cây lúa luôn được chú ý, ưu ái với vai trò quan trọng trong bất cứ chính sách khuyên nông nào; giờ đây, để đạt được mục tiêu an ninh lương thực và xoá đói giảm nghèo, sự ưu ái của Chính phủ dành cho cây lúa – một trong những cây chủ lực, thể hiện rõ với đất nông nghiệp đồng bằng có chất lượng tốt nhất kèm theo hệ thống tưới tiêu đặc thù luôn được dành để canh tác lúa.

Từ năm 1990 đến 2014, quá trình đa dạng hoá cây trồng ở Việt Nam diễn ra khá chậm với cơ cấu không thay đổi đáng kể. Diện tích thu hoạch ngũ cốc tăng 39%, chiếm trên 70% tổng diện tích đất trồng. Trong khi đó nhóm trái cây và rau xanh do có xuất phát điểm thấp đã tăng lần lượt 94% và 215% tuy nhiên vẫn đóng góp tỷ trọng rất thấp.

Nhiều chuyên gia cho rằng nông nghiệp vẫn tồn tại những vấn đề cố hữu nên chưa thể là động lực lớn cho tăng trưởng của cả nền kinh tế. Nguyên nhân được nhận định xuất phát từ việc ưu tiên phát triển cây lúa trong một thời gian quá dài và sự manh mún trong sở hữu đất nông nghiệp;

Tình trạng đất nông nghiệp phân mảnh manh mún là một vấn đề nan giải…

Theo số liệu thống kê tổng điều tra nông nghiệp, khoảng 90% đất nông nghiệp là thuộc các hộ nông nghiệp và trang trại, 6% thuộc các doanh nghiệp và số còn lại thuộc các cơ sở khác. Đa phần các hộ nông nghiệp đều có quy mô [gia đình] rất nhỏ, trong đó, nhóm hộ canh tác trên ruộng dưới 0,5 hecta chiếm tới 69%, nhóm có diện tích từ 0,5 đến 2 hecta chiếm 25% và nhóm có diện tích lớn hơn 2 hecta chỉ chiếm 6% – đây cũng là vấn đề có tính lịch sử trong quá trình phát triển để lại.

Độ phân mảnh tới manh mún như vậy thể hiện sự khác biệt lớn giữa các vùng địa lý; trong đó, đồng bằng sông Hồng và Trung du miền núi phía Bắc có mức độ phân mảnh cao nhất. Như vậy, diện tích canh tác bình quân trên mỗi lao động nông nghiệp Việt Nam ở mức 0,34 hecta, chỉ bằng từ 0,6 đến 0,8 lần các nước trong khu vực như Campuchia, Myanmar và Philippines…

Mô hình phát triển của ngành Nông nghiệp Việt Nam chưa thực sự bền vững…

Trong giai đoạn 2005 – 2016, ngành Nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng khoảng 36,8% tuy nhiên, nhập khẩu vật tư nông nghiệp lại tăng vượt xa mức này – đặc biệt là sản phẩm bảo vệ thực vật, điển hình nhập khẩu phân bón tăng 43% và nhập khẩu thuốc trừ sâu & nguyên liệu hoá chất tăng tới 337%.

Trong báo cáo phát triển về Việt Nam, các chuyên gia WorldBank đã chỉ ra rằng tốc độ tăng năng suất (TFP) trong ngành Nông nghiệp của Việt Nam đã và đang trong xu thế giảm kể từ năm 2000; không chỉ vậy, giá trị sản phẩm nông nghiệp trên mỗi hecta đất trồng trọt sau giai đoạn tăng trưởng nhanh đã có dấu hiệu chững lại; trong khi theo số liệu thống kê của IPSARD, tốc độ tăng năng suất của nông nghiệp Việt Nam chiếm trung bình khoảng 40% tăng trưởng trong các năm gần đây trong khi Thái Lan là 83%, Trung Quốc là 86% và Malaysia là 92%. Đây rõ ràng là xu hướng rất đáng lo ngại.

Nông sản Việt Nam bị gán mác giá rẻ trên thị trường xuất khẩu…

Thực tế trong nhiều năm, nông sản xuất khẩu của Việt Nam đều bị đánh giá và bán ở mức giá thấp hơn so với sản phẩm cùng loại của các nước khác trong khu vực, chủ yếu là do chất lượng kém và ở dạng [nguyên liệu] thô.

Nguyên nhân quan trọng nhất bên cạnh yếu tố kỹ thuật canh tác và giống; sự lạm dụng quá mức các loại hoá chất – vật tư bảo vệ thực vật, thậm chí ngày một nhiều, là yếu tố dẫn tới chất lượng kém của sản phẩm. Ngoài ra, tình trạng kém phát triển ở các công đoạn bảo quản, chế biến sau thu hoạch cũng là yếu tố cản trở nâng cao giá trị của sản phẩm. Điều này dẫn đến đa số nông sản của Việt Nam phải phụ thuộc vào một số thị trường “dễ tính” giá thấp như Trung Quốc, Philipines và các nước Châu Phi.

Thị trường vẫn là khâu yếu…

Thị trường tiêu thụ nông sản đã có nhiều chuyển biến, nhưng nhìn chung vẫn là khâu yếu. Công tác dự báo cung – cầu còn bất cập nên có lúc, có nơi đã xảy ra tình trạng nông sản bị tồn đọng, tiêu thụ chậm, giá giảm, nhất là vào thời điểm thu hoạch chính vụ, ảnh hưởng đến sản xuất, thu nhập và đời sống của một bộ phận người dân hoặc nguồn cung thiếu (như thịt lợn) nên giá tăng cao”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho hay. Thêm vào đó, ông Bộ trưởng cho biết thêm; năng lực trong công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản, công nghiệp phụ trợ dần từng bước được cải thiện nâng cao cùng với dự án đầu tư mới từ một số tập đoàn lớn tập chung vào khâu chế biến (riêng rau quả trên cả nước có 8 nhà máy hiện đại được khánh thành trong năm vừa qua) nhưng những thay đổi này còn vẫn rất chậm để đáp ứng với yêu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn; sản phẩm chế biến sâu vẫn còn tỷ lệ thấp, cơ chế còn tồn tại nhiều bất cập khiến giá cả sản phẩm phụ thuộc biến động qua từng mùa vụ, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch còn cao…

Chúng ta đã bị dưa hấu mấy trận rồi, bây giờ đến thịt lợn, sắp tới còn bị cái gì nữa?“, đó là câu hỏi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đặt ra trong phiên họp Chính phủ thường kỳ hồi tháng 4/2018 vừa qua. Mục tiêu tăng trưởng GDP được giao trọng trách lên một số ngành được xem là trọng tâm như công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.

Nhiệm vụ của ngành Nông nghiệp và PTNT là rất lớn trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và trong nước vẫn diễn biến phức tạp, biến đổi khí hậu được dự báo tiếp tục gây nên những hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai khó lường.

Để tự cường thoát ra khỏi khó khăn như bài học Nga, rất cần sự quyết tâm, nỗ lực của các cấp chính quyền, các chuyên gia và mỗi cá nhân nước Việt cùng với các chính sách, giải pháp toàn diện để ngành Nông nghiệp phát triển đúng với những thế mạnh, nâng cao vị thế kinh tế, đóng góp và bảo đảm an sinh xã hội – an ninh lương thực…

xxx

Article – Kinh tế – ngọn roi mềm…

Chủ nghĩa tư bản dường như là bất cứ cái gì mà mọi người muốn nó trở thành. Hay nói cách khác, chủ nghĩa tư bản là tất cả đối với tất cả mọi người; nhưng điều đó lại khiến chúng ta thậm chí hiểu về nó còn mờ nhạt hơn – và khiến chúng ta mù quáng, bối rối và đi lùi. Thời kỳ đen tối nằm ở cuối con đường mà sự thật chưa có câu trả lời; cụ thể là nơi mà nước Mỹ, và có thể là cả thế giới, đang hướng tới ngày hôm nay… và

liệu có một ngày nào đó, mọi người đều trở thành một nhà tư bản – với một cuộc sống giàu có, thoải mái và dễ dàng, mà không cần phải làm việc…

Bạn cũng sẽ có thể như vậy chăng,

hoặc ít nhất – bạn có thể dễ dàng thích nghi với chủ nghĩa tư bản nhiều hơn chứ không phải ít hơn; đúng nhỉ?

Có lẽ vậy mà vào ngày 30/9 vừa qua, khi phát biểu trước các ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc (CPC), ông Tập Cận Bình tuyên bố Đảng Cộng sản Trung Quốc cần nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản hiện đại nhưng vẫn kiên định lập trường của chủ nghĩa Marx…

Toàn cầu hóa – Xu hướng hay “mốt”:

Ở bên kia chiến tuyến của cuộc chiến thương mại, Chủ tịch Tập Cận Bình tìm cách thuyết phục mọi người rằng Trung Quốc luôn là quốc gia ủng hộ toàn cầu hóa và trật tự thương mại hiện nay. Ông Tập cùng giới quan chức Trung Quốc đã nhiều lần nhấn mạnh về nguy cơ phá vỡ trật tự này song song với việc cài trong đó cam kết sẽ dần dần nới lỏng chính sách tham gia thị trường Trung Quốc luôn được coi là tiềm năng hấp dẫn. Không chỉ hứa hẹn mở cửa thị trường với châu Âu, Bắc Kinh còn đưa ra “củ cà rốt” là những khoản đầu tư lớn thông qua sáng kiến Vành đai và Con đường của ông Tập nhằm kết nối cơ sở hạ tầng từ châu Á tới châu Âu, vốn còn đầy ý kiến trái chiều, nhằm cổ súy cho xu hướng toàn cầu hóa…

Xét bề dầy lịch sử, toàn cầu hóa không phải là một hiện tượng mới; cũng chỉ là “hợp – tan, tung – hoành” mà thôi. Trước khi bước vào “Toàn cầu hóa mới” thời hiện đại, từ những năm cuối thế kỷ 20, loài người đã từng chứng kiến ba lần xảy ra hiện tượng “Toàn cầu hóa”:

  1. Lần thứ nhất vào cuối thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 19, sau khi Christopher Columbus tìm ra châu Mỹ, châu Âu “khai hóa thế giới”, theo đó tư bản được tích lũy lớn để nước Anh trở thành bá chủ toàn cầu.
  2. Lần thứ hai vào nửa cuối thế kỷ 19 đến năm 1914, khi người châu Âu chinh phục châu Á, còn Nhật Bản nắm cơ hội tiến hành cuộc “Duy tân” hưng thịnh đất nước.
  3. Lần thứ ba kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1970.

Đặc điểm chung của ba lần “Toàn cầu hóa” này đều có chung tác nhân của chiến tranh và chính sách thực dân, trình độ phát triển của nhiều nước còn thấp, mỗi thời kỳ có các quốc gia giữ vai trò bá chủ thế giới, các vấn đề chung mang tính toàn cầu hóa xuất hiện chưa nhiều, chưa mạnh mẽ. Các vấn đề toàn cầu hóa chưa được thể chế hóa hoặc thể chế hóa ở một số lĩnh vực rất hẹp.

“Toàn cầu hóa hiện đại” được tính là lần thứ tư bắt đầu từ thập niên 80 đến nay. Toàn cầu hóa hiện đại được thúc đẩy bởi sự bùng nổ của công nghệ thông tin và bao trùm hầu hết các lĩnh vực xã hội, với động lực từ toàn cầu hóa về kinh tế, thông qua việc xóa nhòa biên giới vật lý giữa các vùng địa lý – giá trị cốt lõi của thương mại điện tử; do đó, toàn cầu hóa về kinh tế được tăng cường sâu rộng, cả lượng và chất bởi ba động lực: kỹ thuật công nghệ thông tin, không gian địa lý và tiền vốn lưu chuyển xuyên quốc gia và còn được thể chế hóa nhiều hơn. Tuy nhiên, là xu hướng nhưng do thời gian tiến hành công nghiệp hóa, các điều kiện địa chính trị, nguồn lực và thực trạng phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia không giống nhau, do vậy, sự tham gia và mức độ hưởng lợi hay chịu tác động tiêu cực từ quá trình toàn cầu hóa trên thực tế cũng khác nhau cơ bản giữa các quốc gia.

Toàn cầu hóa mang lại sự thay đổi vượt bậc nhưng đi kèm với cơ hội chính là những thách thức mà con người cần đối mặt và loại bỏ chúng, biểu chưng qua: Nóng, phẳng, chật…

Một vành đai một con đường – Các vấn đề:

Cùng với xu hướng “hợp tung” toàn cầu hóa hiện đại, lần đầu được gọi tên năm 2013 bởi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, sáng kiến “Vành đai và Con đường” (One Belt, One Road – OBOR) được kỳ vọng sẽ tạo ra những liên kết và cơ hội kinh doanh mới cho Trung Quốc sau thời đại mở cửa năm 1979 khởi xướng bởi Đặng Tiểu Bình. Sau hơn 3 năm, kế hoạch này nâng tầm trở thành một trong những tầm nhìn không chỉ về kinh tế mà còn bao hàm nhiều ý nghĩa chính trị, ngoại giao đầy tham vọng của chính quyền Bắc Kinh. Các nhà nghiên cứu cho rằng Trung Quốc sẽ là phương án thay thế Mỹ trong việc thúc đẩy toàn cầu hóa; với “phiên bản” này, toàn cầu hóa được lót đường bằng bê tông và sắt thép – với những tuyến đường sắt, cao tốc, đường biển cùng hệ thống ống dẫn và cảng biển…

Vậy thế giới sẽ trông như thế nào sau Vành đai và Con đường?

Trong hội nghị thượng đỉnh Vành đai và Con đường đầu tiên vào năm 2017, ông Tập đã gọi đó là dự án của thế kỷ, để rồi nếu tất cả diễn ra theo đúng kế hoạch, Vành đai và Con đường sẽ thay đổi hình dạng của nền kinh tế và chính trị thế giới, đưa chúng ta trở lại thời gian khi Trung Quốc tự coi là “Trung Nguyên”…

Một cách hình dung khác, một số dự án Vành đai và Con đường thể hiện phần nào nỗ lực cao nhất của con người để làm chủ các lực lượng tự nhiên và phải cần tới hai mươi hoặc ba mươi năm nữa để thực hiện điều này; với một cây cầu bắc qua biển Caspi có thể giúp việc vận chuyển đường bộ giữa châu Âu và Trung Quốc trở nên nhanh chóng và dễ dàng, thay đổi các bản đồ hiện tại đang ngăn cách các lục địa; hay, kênh đào Kra Isthmus ở Thái Lan sẽ làm tương tự thông Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương…

Có điều cơ sở hạ tầng cuối cùng chỉ là một phương tiện; không gian địa lý được chuyển đổi phải được định hình kết nối trước khi nó có thể bắt đầu phát triển các hoạt động kinh tế theo từng khu vực; các chuỗi công nghiệp dọc theo các tuyến cơ sở hạ tầng đang dần được tích hợp để thiết lập các chuỗi giá trị khu vực và cuối cùng chuyển hóa Trung Quốc vươn lên thành một siêu cường, dẫn đầu các biến đổi của tương lai – từ vai trò của chủ nợ…

OBOR

Vành đai và Con đường sẽ không bao giờ trở thành phổ quát, cũng giống như phương Tây không bao giờ trở thành phổ quát; tuy ở một số khu vực trên thế giới, nó sẽ “cai trị” mà không bị cản trở và độ ảnh hưởng tuy khác nhau nhưng đều sẽ được thấy ở mọi nơi.

Vấn đề là xác định cốt lõi trong bức tranh thế giới mới của một Tân Trung Quốc; và định nghĩa những đặc tả mà qua đó nó sẽ trở nên ấn tượng. Nhiều đặc điểm trong số đó đã được nhìn thấy ngay trong giai đoạn xây dựng dự án Vành đai và Con đường.

“Bỏ qua sự ma mị: Đối với người Trung Quốc, sáng kiến này đã là một sai lầm chiến lược.”

Bằng cách nạp vào ý tưởng thiếu sót rằng những thùng tiền là tất cả những gì cần thiết để giải quyết các vấn đề địa chính trị phức tạp, Trung Quốc đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng. Chế độ tập quyền của ông Tập đã khiến nước này gần như không thể thừa nhận sai lầm này hoặc từ bỏ dự án “thú cưng” của mình. Hoa Kỳ và các đồng minh về bản chất cũng không thu được gì từ việc Trung Quốc tự thân mắc những sai lầm ngớ ngẩn này.

Đối với người Trung Quốc, ông Tập (như ông Hồ và ông Giang – người tiền nhiệm đã làm trước kia), người đã “phối” chủ nghĩa xã hội với điều kiện hiện đại, đã duy trì cách đó để tạo ra một cách lý giải độc đáo của Trung Quốc đối với “những vấn đề nhân loại đang phải đối mặt”. ông Tập rõ ràng cho rằng “trí tuệ của Trung Quốc và cách tiếp cận của Trung Quốc” đang mang lại lợi ích cho những người ngoài. Sáng kiến Vành đai và Con đường được đẻ ra để thay đổi điều đó. Thông qua sử dụng mô hình chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc để phát triển các khu vực nghèo hơn thế giới, sáng kiến biện minh cho những tuyên bố hùng hồn của ông Tập về sứ mệnh lịch sử của Đảng trên sân khấu quốc tế.

Để phù hợp với các mục tiêu cao cả này, các học giả và nhà phân tích chính sách của Trung Quốc trong nhóm cố vấn (“think tank”) ưu tú của Đảng đã đưa ra nhiều mục tiêu xuống sát thực tế hơn cho sáng kiến ​​này. Theo họ, những khởi xướng viên chương trình (Belt and Road Initiative – “BRI”) hứa hẹn sẽ tích hợp các thị trường nội địa Trung Quốc với các nước láng giềng; làm như vậy sẽ đưa các nước láng giềng xích lại gần hơn với Trung Quốc về mặt địa chính trị và mang lại sự ổn định cho khu vực.

Ngoài ra, bằng cách tăng cường các hoạt động kinh tế ở khu vực biên giới Trung Quốc, như Tân Cương và Tây Tạng; Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường sẽ giảm bớt ảnh hưởng của tư tưởng ly khai có thể có xử lý phần nào các vấn đề nhức nhối vốn tồn tại trong một thời gian dài. Bên cạnh đó, một khía cạnh lợi ích ​​khác chính là an ninh năng lượng; thông qua việc xây dựng các tuyến giao thông và ống dẫn do BRI tài trợ. Cuối cùng, bằng khớp nối các vùng địa lý và thông qua một sáng kiến gom lại quyền lực từ sự phát triển chung về kinh tế, Trung Quốc sẽ giành được lợi thế so với các nước lớn khác (cụ thể: Nhật Bản và Hoa Kỳ), vốn đang phân định thế giới trong một cuộc cạnh tranh đen trắng cho vị thế lãnh đạo. “Cộng đồng của số phận chung” (community of common destiny), theo các nhà phân tích nhận định, là một cộng đồng sẽ mang lại lợi ích vô cùng lớn cho Trung Quốc.

Sáng kiến Vành đai và Con đường chỉ mới chớm lên năm tuổi (trong khi nhiều thành viên chính của nó đã tham gia với một thời gian ngắn hơn nhiều) nên kết quả của nó chưa thể đánh giá được. Tuy nhiên, một vài nét sơ bộ có thể được khái quát cho các dự án BRI ở Nam và Đông Nam Á, khu vực được các nhà lãnh đạo Trung Quốc mô tả là trục chính của hệ thống Sáng kiến Vành đai và Con đường, được đầu tư BRI mạnh nhất và đã tồn tại lâu nhất; bức tranh hoàn toàn không như hứa hẹn; hàng trăm tỷ chi cho các quốc gia này đã không tạo ra lợi nhuận lại cho các nhà đầu tư, cũng như lợi ích chính trị cho Đảng…

Câu hỏi là liệu các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thực sự vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận tài chính từ Sáng kiến Vành đai và Con đường, hay vẫn luôn bị đặt dấu hỏi về vấn đề nợ quốc gia của 27 quốc gia BRI được ba cơ quan xếp hạng chính coi là “rác”, trong khi 14 tổ chức đánh giá khác không đưa ra nhận định…

“Các quyết định đầu tư dường như được thúc đẩy bởi nhu cầu địa chính trị thay vì ý nghĩa tài chính lành mạnh.”

Ở Nam Á và Đông Nam Á, các dự án phát triển cảng đắt tiền là một trường hợp nghiên cứu tuyệt vời. Một báo cáo CSIS năm 2016 đã đánh giá rằng không một dự án cảng Ấn Độ Dương nào được tài trợ thông qua BRI đem lại nhiều hy vọng thành công về tài chính, thay vì đó là ưu tiên cho mục tiêu tiện ích địa chính trị. Các dự án không thể hiện được kết nối rõ ràng với nhu cầu an ninh của Trung Quốc phải đối mặt với nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn hơn: Công ty nghiên cứu RWR Advisory Group lưu ý rằng 270 dự án cơ sở hạ tầng BRI trong khu vực (tương đương 32% tổng giá trị) đã bị đình hoãn vì vấn đề với tính thực tiễn hoặc tính khả thi về tài chính. Rõ ràng thực tế đã cho thấy: có một khoảng cách rất lớn giữa những gì người Trung Quốc tuyên bố về chi tiêu đầu tư và những gì họ đã thực sự chi tiêu…

Tại Việt Nam:

Là láng giềng sát vách, trong gần 25 năm qua, kể từ khi Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Đầu tư nước ngoài (tháng 12 năm 1987), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam luôn gia tăng. Sức hấp dẫn của Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng đã thu hút các nhà đầu tư quốc tế, kể cả đối với những nước đang thi hành chính sách cấm vận đối lúc đó cũng không thể không quan tâm; điển hình là Mỹ, từ năm 1989 một số nhà đầu tư nước này đã thông qua nước thứ ba thực hiện nhiều dự án FDI ở Việt Nam, dù phải tới năm 1994 Tổng thống Bill Clinton mới chính thức bỏ lệnh cấm vận.

Trong làn sóng FDI vào Việt Nam, Trung Quốc đang nổi lên và trở thành đối tác có lượng vốn đầu tư tăng trưởng liên tục kể từ khoản đầu tư đầu tiên cuối tháng 11/1991 đến nay, do một doanh nghiệp Quảng Tây (Trung Quốc) liên doanh với một doanh nghiệp Hà Nội, mở nhà hàng Hoa Long tại phố Hàng Trống – Hà Nội.

Trải qua 23 năm, kể từ dự án đầu tiên đó, FDI của Trung Quốc vào Việt Nam liên tục vươn lên trong vị trí bảng xếp hạng, đồng thời tăng cả về quy mô, thay đổi về hình thức, mở rộng ra nhiều lĩnh vực. Lũy kế tính đến ngày 20 tháng 5 năm 2014 đầu tư của Trung Quốc [đại lục] (không tính Đài Loan, Hồng Công, Ma Cao) tại Việt Nam có 1.029 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 7,852 tỷ USD, chiếm 6,2% số dự án và 3,29% tổng vốn đăng ký, vươn lên đứng thứ 9 trong tổng số 101 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam.

Theo dọc lộ trình đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam trong hơn 20 năm qua cho thấy tính giai đoạn về FDI của Trung Quốc biểu hiện khá rõ: Giai đoạn (1991 – 2001) tác động chưa đáng kể đến quá trình phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam; từ năm 2002 đến năm 2010 mới có chuyển biến rõ rệt, trở thành nội dung chủ yếu trong hợp tác kinh tế giữa hai nước; đặc biệt từ năm 2011 đến nay, FDI của Trung Quốc vào Việt Nam tăng đột biến, nhất là năm gần đây.

Cụ thể, trong mười năm đầu (1991 – 2001), FDI của Trung Quốc vào Việt Nam chỉ mang tính chất thăm dò, số dự án và lượng vốn đầu tư vào Việt Nam là rất nhỏ so với tổng lượng vốn FDI. Tính đến tháng 12 năm 2001 Trung Quốc có 110 dự án với tổng số vốn đăng ký theo giấy phép là 221 triệu USD. Tốc độ đầu tư chậm, vốn đầu tư trung bình của một dự án khiêm tốn, khoảng 1,5 triệu USD, có nhiều dự án với số vốn đầu tư theo giấy phép chỉ trên dưới 100.000 USD. Quy mô đầu tư nhỏ đã kéo theo tình trạng hầu hết các dự án đầu tư của Trung Quốc có công nghệ thấp, chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phổ thông. Đi liền với quy mô dự án nhỏ là thời gian hoạt động các dự án FDI của Trung Quốc tại Việt Nam không dài, nhằm nhanh chóng thu hồi vốn (đa số từ 10 đến 15 năm, số dự án có thời gian hoạt động trên 20 năm là rất ít, thậm chí có dự án chỉ kéo dài dưới 10 năm);

Ở mười năm tiếp theo (2001 – 2010), được đánh dấu bởi Hiệp định khung về hợp tác toàn diện ASEAN – Trung Quốc năm 2002, cũng chính là thời điểm Trung Quốc đã gia nhập WTO (2001). Kể từ thời điểm này, FDI của Trung Quốc vào Việt Nam tăng cả về số lượng dự án cũng như quy mô vốn (khoảng 2,5 triệu USD/dự án), có nhiều dự án lên đến 10 triệu USD đã bắt đầu xuất hiện. Ngay khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, cùng với tác động hội nhập kinh tế quốc tế, môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng được cải thiện, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài; FDI của Trung Quốc vào Việt Nam song song với đó, tăng khá mạnh, nhiều dự án trên 10 triệu USD đến 100 triệu USD đã có mặt tại Việt Nam, nâng vốn bình quân của một dự án lên 4,3 triệu USD/dự án;

Trong giai đoạn tiếp theo, từ 2011 đến 2014, là khoảng thời gian FDI của Trung Quốc vào Việt Nam có sự thay đổi rõ rệt nhất. Bằng chứng là số dự án và lượng vốn tăng rất mạnh trong năm 2013 và những tháng đầu năm 2014. Nếu như trong năm 2012 lượng vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam giảm mạnh xuống mức 312 triệu USD thì năm 2013 lượng vốn đã tăng đột biến lên tới trên 2,3 tỷ USD với 110 dự án được cấp mới.

Nhiều chuyên gia cho rằng, các nhà đầu tư Trung Quốc đã bộc lộ động thái đón lõng để hưởng lợi từ Hiệp định TPP mà Việt Nam đang đẩy mạnh đàm phán để thông qua, và cũng là thời điểm Việt Nam có khả năng kết thúc đàm phán về Hiệp định mậu dịch tự do với EU (EVFTA) trong thời gian tới. Bởi vậy nhiều nhà đầu tư Trung Quốc đã tới Việt Nam xây dựng nhà máy sản xuất nhằm tận dụng cơ hội từ các hiệp định dành cho Việt Nam và tận dụng nguồn nhân công giá rẻ trong khi chi phí nhân công của Trung Quốc đang dần trở nên đắt đỏ.

Nếu như các giai đoạn trước FDI của Trung Quốc chỉ tập trung vào các lĩnh vực khách sạn, nhà hàng và sản xuất hàng tiêu dùng với quy mô nhỏ là chủ yếu, thì thời gian gần đây đã có sự chuyển dịch mạnh, thay đổi đáng kể trong lĩnh vực đầu tư;

trong tổng số 17 ngành Trung Quốc có đầu tư tại Việt Nam, đứng đầu là 5 lĩnh vực:

  • Công nghiệp chế biến, chế tạo với 704 dự án (trong đó, các ngành dệt may chiếm tỷ trọng lớn do các nhà đầu tư muốn đón cơ hội hưởng thuế suất 0% khi Việt Nam tham gia TPP);
  • Sản xuất phân phối điện, khí, nước, điều hòa đứng vị trí thứ 2 với 03 dự án;
  • Xây dựng với 98 dự án;
  • Kinh doanh bất động sản với 14 dự án;
  • Dịch vụ lưu trú và ăn uống với 12 dự án.

Năm lĩnh vực nói trên đã chiếm tổng cộng 98 % tổng vốn đầu tư FDI của Trung Quốc vào Việt Nam. Ở các lĩnh vực khác như: lĩnh vực nông, lâm ngư nghiệp FDI của Trung Quốc đứng thứ 6 (FDI nói chung đứng thứ 10); lĩnh vực khai khoáng, FDI của Trung Quốc đứng thứ 8 trong tổng số ngành nghề (FDI nói chung đứng thứ 11).

Mặc dù đã có sự chuyển dịch về lĩnh vực đầu tư nhưng cho đến nay, đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam cũng chỉ mới tập trung ở những ngành nghề thông thường, chưa có dự án nào đầu tư ở lĩnh vực công nghệ cao với vốn đầu tư lớn…

Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, đứng đầu trong các địa phương có nhiều dự án đầu tư Trung Quốc là Hà Nội (202 dự án), tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh (110 dự án), Bình Dương (100 dự án), Bắc Ninh (54 dự án), Long An (54 dự án), Hải Phòng (49 dự án) …, xét về tổng lượng vốn đầu tư của Trung Quốc tại các địa phương, Bình Thuận là địa phương thu hút vốn lớn nhất (USD 2,027 tỷ), Lào Cai đứng thứ 2 (USD 803 triệu), Tây Ninh đứng thứ 3 (USD 729 triệu), Quảng Ninh đứng thứ 4 (USD 471 triệu), tiếp đến là Bình Dương (USD 349 triệu), Hải Phòng (USD 318 triệu), Hà Nội (USD 311 triệu) …Nhìn chung các dự án đầu tư của Trung Quốc cũng đã hướng tới một số tỉnh biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, đó là những tỉnh có cơ sở hạ tầng kém, trình độ phát triển thấp, khó thu hút vốn đầu tư nước ngoài như Lào Cai (22 dự án), Lạng Sơn (22 dự án), Cao Bằng (10 dự án), Hà Giang (6 dự án) và Lai Châu (3 dự án); tuy nhiên, mới chỉ tập trung vào khai thác khoáng sản, nguyên vật liệu là chính, cụ thể là: dự án chế biến tinh quặng sắt titan ở Thái Nguyên; dự án xây dựng nhà máy khai thác và chế biến antimon và tuyển quặng ở Hà Giang; dự án xây dựng nhà máy chế biến cao su thiên nhiên thành cao su tổng hợp và dự án sản xuất gỗ dán, gỗ lạng, ván ép và ván mỏng, dự án phát triển vùng nguyên liệu lá thuốc lá để kinh doanh chế biến nguyên liệu lá thuốc lá ở Lào Cai; dự án xây dựng nhà máy chế biến nhựa thông ở Lạng Sơn; dự án khai thác khoáng sản và sản xuất than cốc ở Cao Bằng…; vì vậy, hiệu quả các dự án đầu tư của Trung Quốc ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam của Trung Quốc mang lại cho các địa phương này không cao, chỉ mới là tận dụng nguyên liệu tự nhiên tại địa phương, chưa có hoạt động đầu tư sâu.

“Về mặt lý thuyết: dòng vốn đầu tư nước ngoài sẽ mang lại tương đối nhiều lợi ích cho nước sở tại”

Đó có thể là những lợi ích mang tính trực tiếp như đóng góp về vốn, tạo ra công ăn việc làm, nâng cao thu nhập của người lao động, hay nâng cao trình độ công nghệ của nước chủ nhà; hay lợi ích gián tiếp như: lan tỏa công nghệ tới các thành phần khác trong nền kinh tế, hoặc nâng cao năng lực quản lý thông qua các liên kết xuôi, hoặc liên kết ngược…

Tuy nhiên, trên thực tế, “các doanh nghiệp Trung Quốc ít có khả năng nghiên cứu, phát triển chuyển giao công nghệ, nâng cao trình độ kỹ thuật. Trang thiết bị, máy móc của các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư tại Việt Nam chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc, trình độ công nghệ đạt mức trung bình, thậm chí có trường hợp đưa máy móc đã qua sử dụng sang Việt Nam, hoặc một số dây chuyền thiết bị từ nhiều nguồn, lai ghép nhiều thế hệ, các nước khác nhau nên không đồng bộ. Công nghệ sử dụng trong các dự án nhiệt điện đều thuộc loại trung bình, có thiết bị đã qua sử dụng được tái tạo, nâng cấp về kỹ thuật với mức giá thấp” – là nhiều ý kiến của các chuyên gia và học giả Việt Nam khi nhìn nhận chặng đường 20 năm FDI Trung Quốc vào Việt Nam.

Nhưng khi nói về sự lấn lướt trong kinh doanh, có ý kiến cho rằng: “các doanh nghiệp Trung Quốc đã biết cách lợi dụng các hạn chế về môi trường đầu tư của Việt Nam, sự thiếu giám sát của các cơ quan chức năng để gia tăng ảnh hưởng, chèn ép sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam. Không chỉ trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, ngay cả trong sản xuất nông nghiệp, lương thực…đẩy các doanh nghiệp trong nước vào thế khó khăn”.

Tương tự, các chuyên gia và học giả nước ngoài có nhiều đánh giá “Việt Nam chỉ thích hợp với những dự án sản xuất gia công, không thích hợp với những dự án công nghệ cao, do vậy FDI của Trung Quốc chỉ quan tâm đến những dự án sản xuất gia công, buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh ngay trên sân nhà của mình. FDI của Trung Quốc tại Việt Nam đã gây ảnh hưởng môi trường và an ninh quốc gia của Việt Nam”; cũng có ý kiến khác lý giải “doanh nghiệp Trung Quốc chọn lựa Việt Nam là nơi đầu tư nhằm mục đích thông qua việc thành lập các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam để tiến vào thị trường ASEAN. Nói cách khác thị trường Việt Nam được coi là bàn đạp để các doanh nghiệp Trung Quốc thâm nhập vào thị trường ASEAN dưới danh nghĩa là một doanh nghiệp Việt Nam” – điển hình như công ty TNHH Tập đoàn dệt may YULUN Giang Tô (Trung Quốc) đã tiến hành dự án xây dựng nhà máy sản xuất sợi, dệt, nhuộm, với vốn đầu tư USD 68 triệu (tương đương VND 1.400 tỷ đồng) tại Nam Định  với mục đích chính là muốn mượn Việt Nam như một bàn đạp để tiến vào thị trường Mỹ, vốn được biết đến là thị trường khó tính với nhiều rào cản. “Việc Việt Nam tham gia đàm phán TPP đã thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp Trung Quốc, đặc biệt là ngành dệt may“- Ông Hứa Ninh Ninh, Chủ tịch Hiệp hội thương mại Trung Quốc – ASEAN đã minh chứng thêm cho điều này.

Cho đến nay, đặc biệt là sau sự kiện giàn khoan “Hải Dương 981” – xét ở giác độ địa chính trị, cũng đã tác động các ý kiến nhiều chiều đánh giá khác nhau về FDI của Trung Quốc tại Việt Nam, nhưng xét về mặt kinh tế, những thành tựu về hợp tác đầu tư Việt – Trung trong giai đoạn 20 năm qua cần phải được ghi nhận nhưng những mặt hạn chế cũng đồng thời trở nên cấp thiết được làm rõ:

  • Thứ nhất, bên cạnh môi trường đầu tư Việt Nam ngày càng cải thiện và đạt được sức hấp dẫn thu hút nhà đầu tư nước ngoài; là láng giềng trong cả bề dầy 4.000 năm lịch sử, Trung Quốc thậm chí, khi đầu tư vào Việt Nam còn có những điều kiện thuận lợi ưu đãi mà không phải bất kỳ nhà đầu tư nước ngoài nào cũng có. Tuy nhiên, do nhiều nhân tố nhiều chiều cả khách quan lẫn chủ quan, cả bên ngoài và bên trong tác động dẫn tới qui mô đầu tư còn hạn chế của Trung Quốc tại Việt Nam trong thời gian qua; rõ ràng, FDI của Trung Quốc vào Việt Nam thời gian qua thực sự chưa tương xứng với tiềm năng và các điều kiện, kể cả xét về địa chính trị hiện có; vẫn ở quy mô nhỏ, chủ yếu trong các lĩnh vực sản xuất thông thường; thể hiện rõ nét qua bảng xếp hạng, FDI của Trung Quốc tại Việt Nam mới đứng thứ 9/101 nước và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam, với 1.029 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký USD 7,852 tỷ.
  • Thứ hai, dòng FDI của Trung Quốc tại Việt Nam chưa phù hợp với phát triển dài hạn ngành và vùng kinh tế của Việt Nam. FDI của Trung Quốc không chú ý đến các ngành tạo điều kiện phát triển xã hội, chỉ chú ý nhiều đến khai thác tài nguyên – đây là cơ cấu đầu tư không mong đợi, vì việc khai thác và sơ chế các loại tài nguyên ở Việt Nam để chuyển nguyên liệu (than, quặng, thiếc…) về Trung Quốc không đem lại lợi ích kinh tế cho Việt Nam, rất ít có tác động lan tỏa, tác động xấu đến môi trường, gây nguy cơ về cạn kiệt tài nguyên và sự phát triển bền vững của Việt Nam.
  • Thứ ba, vấn đề lao động Trung Quốc theo sau các dự án FDI của Trung Quốc ngày càng phức tạp, nếu không sớm có giải pháp thì rất có thể trở thành vấn đề xã hội. Qua hiện tượng FDI của Trung Quốc đi đến đâu kéo theo người lao động [đơn giản] Trung Quốc di dân đến đó; công nhân Trung Quốc có mặt hầu khắp các công trình của Trung Quốc đầu tư hoặc nhận thầu ở Việt Nam và trực tiếp cạnh tranh với lao động địa phương, không giống như các nhà đầu tư Trung Quốc mô tả trong đề xuất đầu tư lúc ban đầu.
  • Thứ tư, FDI của Trung Quốc yếu kém trong chuyển giao công nghệ, phần lớn là công nghệ lạc hậu hay thuộc các ngành gây ô nhiễm môi trường. Mục tiêu của Trung Quốc là dịch chuyển các cơ sở sản xuất thâm dụng nhiều lao động, mức lương thấp, hàng hóa giá rẻ và công nghệ không cao ra nước ngoài. Với lợi thế giá rẻ, nhiều loại máy móc thiết bị từ Trung Quốc đang được nhập khẩu theo đơn đặt hàng ở mọi mức giá cho doanh nghiệp Việt Nam. Giá rẻ là yếu tố giúp các dây chuyền sản xuất cũ của Trung Quốc lấn lướt trên thị trường so với hàng nội địa và hàng nhập khẩu từ các thị trường công nghệ nguồn như: Mỹ, EU, Nhật Bản… Việc nhập khẩu công nghệ, thiết bị về chỉ sử dụng trong một thời gian ngắn đã hư hỏng rõ ràng là vấn đề cần phải nghiêm túc xem xét lại. Theo khảo sát đối với các cán bộ quản lý thuộc Bộ và Sở Kế hoạch và Đầu tư thì 66% cho rằng trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Trung Quốc là trung bình và hơn 33% còn lại cho rằng trình độ công nghệ của họ là kém và tiêu hao nhiều năng lượng.
  • Thứ năm, vấn đề liên kết sản xuất giữa các doanh nghiệp chưa như kỳ vọng. Thường mang theo máy móc thiết bị, kể cả những thứ Việt Nam đáp ứng được; nhiều máy móc Trung Quốc mang sang Việt Nam là những máy móc mà Việt Nam sẵn có; thậm chí, nhiều khi còn nhập ồ ạt hàng hoá tiêu dùng rẻ mạt, bóp chết một số ngành sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam, nhất là đối với những ngành mới phôi thai.
  • Thứ sáu, thực trạng cơ sở hạ tầng ở nhiều địa phương Việt Nam còn yếu kém, không đồng bộ, FDI Trung Quốc nói riêng ở Việt Nam phải đối mặt với nhiều rào cản; do vậy mặc dù có tiềm năng lớn nhưng không thu hút được nguồn vốn đầu tư. Theo chính từ các nhà đầu tư Trung Quốc, khó khăn lớn nhất chính là tuy hai nước gần gũi, nhưng các doanh nghiệp Trung Quốc chưa hiểu biết đầy đủ về môi trường đầu tư Việt Nam, thiếu khảo sát về thị trường. Ngoài ra, doanh nghiệp Trung Quốc khó tìm được đối tác hợp tác lý tưởng ở Việt Nam, khó khăn trong tạo niềm tin với chính quyền và doanh nghiệp địa phương, trong khi ảnh hưởng về địa chính trị cũng có tác động nhất định.

Gần đây nhiều bài học từ các nước Ecuado, Maldives, Venezuela, Sri Lanka… tất nhiên, tập trung  trong khuôn khổ chương trình “Vành đai và Con đường”, với nhiều “siêu dự án” trong sáng kiến này bị phê phán là đội giá gấp nhiều lần so với giá trị thực, năng lực nhà thầu Trung Quốc yếu kém, không quan tâm tới nhu cầu phát triển của quốc gia sở tại mà chỉ phục vụ lợi ích chiến lược của Bắc Kinh; cũng góp phần đánh giá lại các vấn đề hợp tác kinh tế với Trung Quốc.

Ở châu Phi, dự án đường sắt Nairobi-Mombasa thua lỗ trầm trọng sau một năm vận hành, khi các doanh nghiệp địa phương vẫn kiên quyết sử dụng phương tiện đường bộ để vận tải hàng hóa trên tuyến đường chiến lược này. Ở Sri Lanka, chính phủ nước này lâm vào nợ nần khi tham gia sáng kiến “Vành đai và Con đường” đến mức phải bàn giao cảng chiến lược Hambantota cho Trung Quốc quản lý…

… nhiều quốc gia cũng bắt đầu cảnh giác với nguy cơ “sập bẫy nợ” khi tham gia sáng kiến. Tân Thủ tướng Pakistan Imran Khan đã quyết định cắt giảm 2 tỷ USD trong dự án đường sắt thuộc Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Pakistan (CPEC) bởi “Pakistan là nước nghèo, không thể kham nổi gánh nặng từ những khoản nợ khổng lồ”; thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad đã hủy các dự án tỷ USD với Trung Quốc vì cho rằng các điều khoản của chúng quá bất lợi cho Kuala Lumpur. Ngay cả Myanmar, nước có quan hệ thân cận với Trung Quốc, cũng đã giảm giá trị dự án xây cảng nước sâu Kyaukpyu từ 7,2 tỷ USD xuống còn 1,3 tỷ USD…

Dù cho là hình thức gì, đầu tư trực tiếp hay gián tiếp thông qua các khoản vay quốc gia, hợp tác luôn dựa trên nền tảng lợi ích song phương…”

… chúng ta không bao giờ có niềm tin mù quáng vào hệ thống mà con người tự cho như thể họ là những vị thần mà sau đó, chúng ta sẽ kết thúc là tù nhân của họ. Chúng ta phải luôn kiểm chứng những gì trước mắt chúng ta, và biến việc này thành thói quen. Những câu chuyện cổ tích lấp lánh của những miền đất hứa, cho dù chúng có đẹp đẽ và quyến rũ đến đâu, cũng không thể thay thế cho tư duy lý trí và đôi mắt thấu đáo…

Đó là một công việc khó khăn, mặc dù – và đó là vấn đề…

xxx

Article – Trận thượng đài của Ưng trảo công và Hổ hình quyền

Qua hơn hai thập kỷ phát triển âm thầm, Trung Quốc được ví như con hổ châu Á sau thời gian “bế quan luyện công” nay vươn mình trỗi dậy… có thể hình dung với hình tượng của Thiếu Lâm đệ tử Nhất Long (Yi Long) đột ngột xuất hiện gần đây đã tốn không biết bao giấy mực của giới truyền thông…

Võ lâm giờ ít còn được thấy hình bóng của những trận “đả lôi đài” hùng tráng, chủ yếu chỉ còn lại trong thơ ca đầy tráng lệ châu Âu và châu Á… Một loạt trận đấu chớp nhoáng xẹt qua bầu trời võ thuật của Nhất Long với đỉnh điểm là trận bại dưới tay Adrienne Grotte – đội trưởng đội SWAT Arizona; dẫu nhiều ý kiến trái chiều nhưng trận so găng này đã đánh dấu điểm mốc cho sự quay lại đấu trường thế giới của võ thuật Trung Hoa…

…song song bên cạnh đó, trận so găng khác cũng đã đang xảy ra, không có thương tích đổ máu nhưng không vì thế mà tính khốc liệt và ảnh hưởng của nó thiếu đi kịch tính, thậm chí còn to lớn và lâu dài hơn với ảnh hưởng toàn cầu…

… trận so găng đời thực giữa con hổ Trung Quốc và con đại bàng Mỹ đã nổ ra như thế…

với khởi đầu vào ngày 22 tháng 3 năm 2018 khi đại bàng ra cú móc đầu tiên qua tuyên bố của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump sẽ áp dụng mức thuế 50 tỷ đô la Mỹ cho hàng hóa Trung Quốc dựa theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974. Ngay sau đó, chỉ trong một thời gian ngắn – tính theo ngày, cuộc thượng đài đã leo thang thành cuộc chiến mở rộng mà không chỉ còn giữa Mỹ – Trung – những đấu sĩ trực tiếp, mà sức ảnh hưởng đã lan tới nhiều nước khác với quy mô toàn cầu: Vào tháng 5, Trung Quốc đã hủy đơn hàng mua đậu tương Mỹ; ngày 29 tháng 5 Nhà Trắng đã công bố vào sẽ áp đặt mức thuế 25% trên 50 tỷ đô la hàng hóa của Trung Quốc; ngày 3 tháng 6, Trung Quốc đã “cảnh báo rằng tất cả các cuộc đàm phán thương mại giữa Bắc Kinh và Washington sẽ bị vô hiệu nếu Hoa Kỳ thiết lập các biện pháp trừng phạt thương mại.”; ngày 15 tháng 6, Trump tuyên bố trong một tuyên bố ngắn về Nhà Trắng rằng Hoa Kỳ sẽ áp đặt mức thuế 25% trên 50 tỷ đô la xuất khẩu của Trung Quốc. 34 tỷ đô la sẽ bắt đầu vào ngày 6 tháng 7, với thêm 16 tỷ đô la để bắt đầu vào một ngày sau đó; chỉ ba (03) ngày sau đó, Nhà Trắng tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ áp đặt thêm 10% thuế quan đối với hàng nhập khẩu trị giá 200 tỷ USD nếu Trung Quốc trả đũa các mức thuế của Mỹ; tháng 8 năm 2017, Trump đã mở một cuộc điều tra chính thức về các vụ tấn công vào tài sản trí tuệ của Mỹ và các đồng minh của mình, việc trộm cắp ước tính gây tốn kém cho Mỹ khoảng 600 tỷ đô la một năm…

Diễn biến leo thang của cuộc thượng đài đang khiến hy vọng làm tình hình dịu xuống trở nên mỏng manh hơn. Theo nhận định của Zoller-Rydzek và Felbermayr, chính sách thuế quan mà đối thủ đại bàng đang áp dụng sẽ đem đến những kết quả mà Tổng thống Trump mong đợi; theo đó, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc của Mỹ sẽ giảm hơn 1/3 và thâm hụt thương mại song phương giữa hai nước sẽ thu hẹp 17%. “Với chiến lược lựa chọn danh mục hàng hóa Trung Quốc để áp thuế, chính phủ Mỹ không chỉ giảm thiểu tác động tiêu cực đến người tiêu dùng và các doanh nghiệp trong nước mà còn tạo ra lợi ích đáng kể cho đất nước”, các nhà nghiên cứu cho biết; tuy nhiên, mặt trái của nó là “lợi ích của Mỹ có thể giảm khi người dân nước này phải gánh chịu phần chi phí cao hơn cho cuộc chiến thương mại này”, nghiên cứu kết luận.

Đối trọng với những thiệt hại này, hiệp định thương mại mới với Mexico và Canada (USMCA) ký gần đây mà trong đó gồm những “điều khoản thuốc độc” nhằm giữ chân các đối tác này; đồng thời trừng phạt bất cứ nước nào tham gia hiệp định tự ý ký thỏa thuận thương mại với một quốc gia được coi là có nền kinh tế “phi thị trường”, Mỹ đồng thời tìm cách đàm phán để ký thỏa thuận tương tự với Nhật và Liên minh châu Âu, nhằm tăng sức ép thương mại tối đa lên Trung Quốc, buộc nước này phải nhượng bộ trong mối quan ngại rằng phần quan trọng trong thương mại Mỹ – Trung do đó sẽ được chuyển sang cho các nền kinh tế này cũng như sang các nền kinh tế châu Á gần thị trường Trung Quốc; tuy nhiên, người ta vẫn cho rằng EU nhiều khả năng là bên được hưởng lợi nhiều nhất bởi họ vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của cả Mỹ và Trung Quốc. Tương tự, cuối tháng 9 vừa qua, Mỹ cũng đã ký hiệp định thương mại tự do sửa đổi với Hàn Quốc mà được ông Trump ca ngợi là “cột mốc lịch sử về thương mại” song phương, dù cho giới phân tích cho rằng nó không khác quá nhiều so với hiệp định trước đây.

Theo Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách châu Âu (CEPS) – ông Daniel Gros, những bước đi gần đây của Mỹ tiết lộ ngày càng rõ chiến lược thương mại của Tổng thống Trump; Gros cho rằng những thỏa thuận thương mại Mỹ vừa ký cho thấy các nước chỉ cần đưa ra một số nhượng bộ nhỏ là đủ làm hài lòng Trump và có thể tiếp tục hưởng lợi từ các hiệp định thương mại song phương với Mỹ. Đối thủ duy nhất trên thực tế mà Trump muốn dồn sức đối phó chỉ là Trung Quốc – quốc gia bị ông coi là “kẻ thù số một” của Mỹ.

Mức thuế 10% với hơn 200 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc hiện nay và có thể tăng lên tới 25% vào năm sau, cao gấp 10 lần mức thuế trung bình mà Mỹ áp với hàng nhập khẩu từ các nước khác có thể ví với đòn đánh bổ nhào quen thuộc trong những trận không chiến, bởi vậy, ảnh hưởng của trận so găng này ngày càng lớn hơn cùng với mức độ khốc liệt trong đòn áp thuế “ăn miếng trả miếng” qua lại giữa hai đầu thủ. Giá trị hàng hóa chịu thuế của Trung Quốc cũng có thể tăng lên đáng kể nếu hai nước không sớm đạt được thỏa thuận giải quyết chiến tranh thương mại, do đó, hiện tại cả Mỹ và Trung Quốc đều đang ra sức thuyết phục các nền kinh tế trên thế giới tăng cường hợp tác thương mại với mình để giảm nhẹ thiệt hại từ đòn áp thuế của đối phương và tạo lợi thế trên chiến trường thương mại, cũng theo Bloomberg.

Ở bên kia chiến tuyến, Chủ tịch Tập Cận Bình tìm cách thuyết phục mọi người rằng hổ Trung Quốc là quốc gia ủng hộ toàn cầu hóa và trật tự thương mại hiện nay. Ông Tập cùng giới quan chức Trung Quốc đã nhiều lần nhấn mạnh về nguy cơ phá vỡ trật tự này song song với việc cài trong đó cam kết sẽ dần dần nới lỏng chính sách tham gia thị trường Trung Quốc luôn được coi là tiềm năng hấp dẫn; không chỉ hứa hẹn mở cửa thị trường với châu Âu, Bắc Kinh còn đưa ra “củ cà rốt” là những khoản đầu tư lớn thông qua sáng kiến Vành đai và Con đường của ông Tập nhằm kết nối cơ sở hạ tầng từ châu Á tới châu Âu, vốn còn đầy ý kiến trái chiều.

Cuộc đối đầu trở nên căng thẳng hơn nhiều khi Phó tổng thống Mỹ Mike Pence và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong hội nghị APEC tại Papua New Guinea có những bất đồng quan điểm sâu sắc trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là thương mại, làm dấy lên lo ngại về một cuộc “Chiến tranh Lạnh mới” chứ không chỉ còn là trận so găng như hiện nay và được dự đoán sẽ kéo dài nhưng có lẽ hổ Trung Quốc dường như chưa có sự chuẩn bị tốt và như giới quan sát đánh giá: Trung Quốc dường như đã tự “bắn vào chân” bằng quyết định sai lầm khi chọn trả đòn áp thuế trong chiến tranh thương mại với Mỹ, (theo Washington Post). Thêm vào đó, Bộ Tư pháp Mỹ gần đây cũng tăng cường điều tra, truy tố các cá nhân, tổ chức Trung Quốc có hành vi gián điệp kinh tế và thành lập một lực lượng đặc biệt để đối phó với các thủ đoạn kinh tế bất hợp pháp của Trung Quốc – được coi là những vũ khí đầy quyền năng giúp ông Trump có thể gây áp lực lên Bắc Kinh mà không phải tung thêm đòn áp thuế – vốn có tính hai mặt gây thiệt hại không nhỏ cho người tiêu dùng Mỹ; góp phần đẩy “người Trung Quốc đến nay vẫn không biết cách đối phó với Trump như thế nào, và có lẽ họ cũng không thực sự biết mình đang làm gì“, Trey McArver, đồng sáng lập tổ chức tư vấn Trivium China có trụ sở ở Bắc Kinh nhận định; “Họ không có bất cứ ý tưởng nào mới. Tôi cho rằng họ chỉ đang trông chờ vào may mắn“. Với “cuộc đấu tranh giành giật đồng minh thương mại ngoài các liên minh chính trị đang thực sự diễn ra” hiện nay, George Magnus, nhà kinh tế học thuộc Trung tâm Trung Quốc ở Đại học Oxford, nhận định. “Đây không phải là cuộc tranh chấp thương mại bình thường như những gì diễn ra trong cuộc chiến thương mại Mỹ – Nhật vào thập niên 1980. Đây là vấn đề sống còn” đối với không chỉ hai bên tham chiến… chính vì lẽ đó,

buổi họp thượng đỉnh “kiến tạo hòa bình” được trông chờ vào tháng 11 giữa ông Trump và ông Tập đã diễn ra khá tẻ nhạt dù cho kết quả đạt được là 90 ngày “ngừng bắn” cùng với các điều kiện mà được coi là không dễ dàng gì cho Trung Quốc; hơn thế, cùng ngày hôm đó, một sự kiện gây nhiều tiếng vang lớn hơn đó là sự kiện bà giám đốc tài chính của tập đoàn Huawei bị bắt tại Canada theo yêu cầu từ phía Mỹ, lại một lần nữa, xóa tan bao hy vọng về “nền hòa bình mong manh” này…

Tạp chí kinh tế thời sự Nikkei của Nhật Bản ngày 13 tháng 8, 2018 đã nêu lại một tài liệu của FT Confidential Research (một bộ phận nghiên cứu độc lập của báo Financial Times) phân tích kinh tế của 5 nước ASEAN có nền kinh tế khu vực lớn trong bối cảnh cuộc chiến thương mại có thể còn leo thang – tổn hại tới các nước có quan hệ buôn bán với cả Trung – Mỹ đang trong vòng đấu đá kịch liệt. Theo phân tích vừa kể, Việt Nam, Philippines và Indonesia sẽ phải gánh chịu những thiệt hại nghiêm trọng khi cuộc chiến thương mại Mỹ Trung Quốc tiếp diễn leo thang, trong đó Việt Nam bị nặng nhất vì kinh tế nước này phụ thuộc vào xuất cảnh nhiều nhất. Tuy đồng tiền của 5 nước ASEAN không bị ảnh hưởng trầm trọng như Turkey và Argentina, giới đầu tư chứng khoán của họ đua nhau bán tháo tuy Việt Nam cố giữ được mức trị giá của năm ngoài; đồng tiền Peso của Philippines bị ảnh hưởng nặng nhất trong số 5 nước ASEAN, mất tới 7.3% năm nay trong khi Indonesia bị mất 6.1%. Tuy Việt Nam cố kìm giữ giá trị đồng tiền đồng bằng cách phá giá từ từ nhưng chỉ trong năm nay, đồng tiền đồng cũng đã mất 1.5% và có thể còn giảm thêm nữa trong những ngày sắp tới nếu chính phủ trung ương thấy cần phải có hành động hỗ trợ đối với ngành xuất nhập khẩu.

Nếu như “Việt Nam có một cái đường dây “nối rốn” với Trung Hoa, cho nên thị trường chứng khoán Việt Nam mấy ngày qua chao đảo là tất yếu” theo nhận định của GS. Nguyễn Mại – nguyên thứ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư, thì hệ quả bước đầu của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung còn thể hiện rõ nét không chỉ qua việc sụt giảm trên thị trường chứng khoán Việt Nam, cũng như trên các thị trường chứng khoán lớn của Châu Á – Thái Bình Dương như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hong Kong, Australia, … và đặc biệt là các sàn giao dịch chứng khoán của Trung Quốc liên tục “đỏ đèn” nhiều phiên liên tục, kể từ khi manh nha cuộc chiến. Hơn cả, hệ lụy mà Việt Nam có thể phải đối mặt từ cuộc chiến này phải không chỉ là thị trường chứng khoán bị tác động từ xu hướng chung, mà còn có thể bị Mỹ áp thuế nhập khẩu lên nhiều mặt hàng mà họ điều tra ra được là có nguồn gốc Trung Quốc, lấy Việt Nam làm trung gian để xuất sang Mỹ.

Cho nên câu chuyện gắn với Việt Nam là câu chuyện chiến tranh thương mại Mỹ – Trung. Bởi hai nước này đều là thị trường thương mại lớn nhất (đối với Việt Nam). Với Mỹ là trước đây từng là 20%, và 20% với Trung Quốc. Đến năm 2017 chỉ còn 11% tổng kim ngạch thương mại hai chiều của mình với thế giới. Còn với Trung Quốc hiện nay vẫn là nhập siêu giảm đi, xuất khẩu mình năm ngoái tăng lên 25-26%, còn nhập khẩu tăng độ 18-20%” do đó, “chắc chắn Trung Quốc sẽ tìm cách tiêu thụ hàng hóa khó xuất khẩu sang Mỹ sang các thị trường khác. Do đó khả năng hàng hóa giá rẻ là có khả năng. Bởi vì không tiêu thụ ở Mỹ với giá cao thì bán giá thấp hơn. Và nếu chúng ta biết buôn bán, chúng ta cầm cửa ngõ của ASEAN, mà chọn Nam Ninh là thế – cửa ngõ ASEAN, chúng ta biết chớp lấy thời cơ này buôn bán với Trung Quốc.” – ông Nguyễn Khắc Mai – Giám đốc Trung tâm Minh Triết cũng nhấn mạnh thêm, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung là điều nhất định phải xảy ra; Trung Quốc đang cạnh tranh vị thế của Mỹ trên toàn cầu trong nhiều lĩnh vực, nổi bật nhất là về kinh tế và chiến lược an ninh. Theo ông Mai, Việt Nam bị ảnh hưởng từ cuộc chiến thương mại này là tất yếu; nhấn mạnh đến vị trí địa – chính trị chiến lược quan trọng của Việt Nam khi nằm cạnh Trung Quốc – thị trường lớn nhất thế giới. Việt Nam không thể “cắt cầu” với Trung Quốc do tranh chấp chủ quyền, mà phải biết tận dụng lợi thế để phát triển, “nhưng mà không được tận dụng theo cái kiểu như hiện nay là thua thiệt đủ thứ. Và như thế buộc anh phải thay đổi. Nếu anh muốn chơi với Tàu, coi nó như một thị trường, thì anh phải thay đổi, phải nâng mình lên và anh phải tạo những điều kiện khác để ít thua thiệt. Chứ hiện nay chơi với nền kinh tế Tàu là anh “thua đơn thiệt kép” đủ chuyện. Đấy là sự thật, anh phải tỉnh ngộ.

Tuy nhiên, “trong lâu dài, nếu cuộc chiến này lan rộng, khó ai có thể biết được điều gì. Đó có thể là những thị trường đột nhiên bị bỏ trống, tạo cơ hội cạnh tranh mới cho hàng hóa Việt Nam. Nhưng đó cũng có thể là luồng thương mại dịch chuyển sang các thị trường thay thế sự chuyển dịch của dòng đầu tư có thể ảnh hưởng cả tiêu cực lẫn tích cực đến các nền kinh tế nhỏ như Việt Nam”, Trung tâm WTO nhận định.

Bên cạnh đó, theo phân tích của tạp chí kinh tế Forbes cho thấy việc tăng giá nhân công tại Trung Quốc vốn đã là một tác động khiến các công ty chuyển hướng đến các quốc gia Đông Nam Á. Ông Nathan Resnick – Giám đốc điều hành Sourcify – nhận định ông Trump sẽ phải lưu ý vấn đề này, bởi việc doanh nghiệp rời khỏi Trung Quốc thì quyền lực của ông cũng sẽ ảnh hưởng và bởi vậy, các công ty ở đây đang tìm cách hướng nguồn hàng về các nước như Thái Lan, Philippines và Việt Nam. Ông đặc biệt nhấn mạnh: “Các dạng thuế quan này sẽ làm tăng nhu cầu ở những nơi như Việt Nam và Philippines“.

Bởi vậy nên ảnh hưởng của cuộc chiến này đã trở thành chủ đề được thảo luận nhiều tại cuộc tọa đàm của Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế – xã hội quốc gia (NCIF – thuộc Bộ KH&ĐT) tháng 8/2018 vừa qua. Trái với nhiều ý kiến về khả năng hưởng lợi của Việt Nam từ cuộc chiến. Giờ đây, cuộc chiến đã được đẩy lên một nấc thang mới, với thực tiễn ảnh hưởng, theo Ts. Trần Toàn Thắng, Trưởng ban kinh tế thế giới của NCIF, chiến tranh thương mại của 2 cường quốc làm giảm 0,03% GDP của Việt Nam năm 2018; đến năm 2019 tăng lên 0,09%; đến năm 2020-2021 là 0,12% và đến năm 2022 tác động 0,11%. Với quy mô của nền kinh tế Việt Nam vào năm 2017 là 5 triệu tỷ đồng, nếu tăng trưởng trung bình 6,5% trong 5 năm kể từ 2018, năm 2022, quy mô của nền kinh tế sẽ đạt khoảng 6,85 triệu tỷ đồng;

Với tính toán của NCIF, chiến tranh thương mại Mỹ – Trung Quốc sẽ làm giảm GDP Việt Nam năm 2018 khoảng 1.600 tỷ đồng, năm 2019 sẽ là 5.105 tỷ đồng. Đỉnh điểm trong năm 2020 và 2021, GDP sẽ bị tác động là cao nhất, lần lượt là 7.250 tỷ đồng và 7.720 tỷ đồng. Đến năm 2022, tác động của chiến tranh thương mại sẽ giảm nhiệt khi là 0,11%, tương đương khoảng 7.740 tỷ đồng. Như vậy, tính cả giai đoạn 2018-2022, xung đột thương mại Mỹ – Trung Quốc sẽ làm GDP Việt Nam hụt khoảng 29.200 tỷ đồng, tính trung bình khoảng 6.000 tỷ đồng/năm.

Với về kịch bản tăng trưởng GDP Việt Nam trong 6 tháng cuối năm 2018, NCIF cho rằng tốc độ sẽ giảm dần, trong đó, quý III/2018 sẽ ở mức 6,72% và đến quý IV giảm xuống 6,56%. Dự báo cả năm 2018, tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt khoảng 6,81%;

bên ngoài, Việt Nam tiếp tục gặp sức ép từ việc tăng giá của đồng USD (xuất phát từ tăng trưởng kinh tế Mỹ và nâng lãi suất điều hành của FED), ngoài ra còn có chính sách bảo hộ thương mại của Mỹ và các nước khác, đặc biệt đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Bên trong, sức ép đến ổn định kinh tế vĩ mô ngày càng lớn tới từ tỷ giá và kiểm soát lạm phát. NCIF cho rằng lực đẩy từ khu vực đầu tư nước ngoài mất dần, không có động lực mới bổ sung khiến kinh tế tăng trưởng chậm lại.

Quỹ tiền tệ thế giới IMF trong tháng 10 đã đánh tụt hạng dự báo tăng trưởng năm tới 2019 cho nhóm 5 nước ASEAN, gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thailand and Vietnam, 0.1 điểm phần trăm xuống 5.2%. Họ cũng đồng thời xem xét lại điều chỉnh giảm Trung Quốc 0.2 điểm phần trăm xuống 6.2%.

Cụ thể, theo số liệu vừa công bố của Tổng cục Thống kê sáng 29/11, tình hình sản xuất công nghiệp nói chung của Việt Nam đã giảm nhẹ, thấp hơn mức tăng của cùng kỳ năm ngoài; với chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp IIP của 11 tháng ước tính tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10,3% của cùng kỳ năm 2017. Những ngành được cho là mũi nhọn như dệt may, vận tải, nhiên liệu và sắt thép… liệu có thực sự có được hưởng lợi từ cuộc chiến hay không còn là câu trả lời trong tương lai dài, việc theo dõi đánh giá để tránh những cái bẫy thương mại nổi lên như là một mối đe dọa tiềm tàng không chỉ đối với doanh nghiệp Việt Nam mà còn là vấn đề quyết sách từ chính phủ trung ương trong quá trình vận hành nền kinh tế trong bối cảnh diễn biến phức tạp…

Cũng như tại Phiên Họp báo Chính phủ thường kì tháng 8/2018, Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cũng đã nhận định: Có thể thấy chúng ta đang đứng trước Cuộc chiến thương mại, thậm chí có thể nói là cận kề Chiến tranh thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Theo những dự báo đưa ra, ông Hải và nhóm nghiên cứu cho rằng, thời gian tới, cần chuẩn bị tốt các thông tin liên quan đến phòng vệ thương mại với Mỹ trong trường hợp chiến tranh thương mại lan rộng; “đặc biệt, cần tiếp xây dựng các kịch bản để ứng phó với biến động kinh tế thế giới, trong đó có động thái chính sách thương mại và tỷ giá của Trung Quốc, Mỹ”;

Thứ trưởng Hải đặc biệt nhấn mạnh, với tình hình như hiện nay, Việt Nam cần phải tính đến những trường hợp xấu để có các biện pháp ứng phó kịp thời, linh hoạt; và

liệu những ảnh hưởng từ cuộc đấu giữa hai đối thủ nặng ký có cách ra đòn hoàn toàn khác nhau sẽ là tích cực hay tiêu cực đối với các nền kinh tế nhỏ phụ thuộc sẽ như thế nào, câu chuyện còn chưa tới khúc kết nhưng chắc chắn rằng, năm 2019 phía trước sẽ chứa đựng thách thức đối với mọi nền kinh tế trên toàn cầu.

Article 2015 – Chuyện xưa nay kể: Cây tre trăm đốt…

Vai trò nào cho hoạt động M&A trong bức tranh tổng thể 2015?

Chuyện vốn kể rằng: ngày xưa, vốn có anh nông dân tốt bụng, cần cù chăm chỉ lao động được lão nhà giàu trong làng cho vào tầm ngắm và hứa rằng sau ba năm làm việc cho lão chăm chỉ đạt “ta ghét” (target) thì lão sẽ gả con gái cho…

Tuy nhiên, sau ba năm làm lụng vất vả, đầu tắt mặt tối, không những không được ghi nhận thành tích mà còn bị lão nhà giàu để thoái thác việc gả con gái như lời hứa, còn đặt ra “ta ghét” cao hơn là tìm được cây tre có 100 đốt thì lão mới chấp thuận gả con gái cho. Buồn rầu, anh nông dân tốt bụng cầm dao tiến bước vào rừng…

Vào rừng hồi lâu, hạ nhiều cây nhưng cây nào hạ xuống, nhiều nhất cũng chỉ được 30 – 40 đốt, quả là trong thời buổi khó khăn lâm tặc hoành hành, đạt được 20 – 30 đốt đã là giỏi rồi. Quá thất vọng, anh nông dân chợt nhớ tới chuyện cổ tích … oà lên khóc; quả như dự đoán, bụt hiện lên ban cho phép để chế thành cây tre trăm đốt cho anh đạt “ta ghét” của lão nhà giàu.

Về làng, sau một hồi “khắc xuất … rồi lại khắc nhập” anh cũng cưới được cô vợ con lão nhà giàu trong làng và họ sống với nhau…

Chuyện xưa là vậy… chuyện đời nay, các doanh nhân cũng có những cây tre của mình…

Cùng với “tiến trình hội nhập và tăng cường sức cạnh tranh” khi vào WTO, các doanh nhân Việt Nam nỗ lực mở rộng đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp mình ra các lĩnh vực tiềm năng, tìm kiếm lợi nhuận. Đồng hành cũng tăng trưởng bùng nổ vào những năm 2006, 2007 trong lĩnh vực chứng khoán, các doanh nghiệp như được gỡ bỏ một phần những khó khăn, hạn chế về vốn đầu tư của mình trong quá trình đi tìm nguồn tài chính cho những dự án đầu tư của mình ngoài những kênh truyền thống như vay tín dụng ngân hàng; ngược lại, những người có nguồn tiền nhàn rỗi cũng tìm được một nơi tiềm năng để không chỉ gửi gắm những số tiền đã chắt chiu mà còn làm cho nó sinh sôi nảy nở nhanh chóng. Vào thời đó, người ta nói tới chứng khoán mọi nơi mọi lúc, người người nhà nhà đầu tư vào cổ phiếu; các doanh nghiệp thì đua nhau công bố thông tin tốt sắp triển khai các dự án mới, hay các doanh nhân đua nhau mở và mở thêm các doanh nghiệp để hút vốn đầu tư; đặc biệt hơn là có những doanh nghiệp có điều kiện như ngân hàng đã bán vốn cổ phiếu trước khi được chấp thuận thành lập từ cơ quan chủ quản nhà nước dẫn tới những tranh chấp kiện tụng giữa nhà đầu tư và các nhà điều hành doanh nghiệp đó, thật là sôi động…

Trong xu hướng đó, các công ty có xu hướng tách ra chuyên môn hoá cho từng ngành nghề của mình và hoạt động theo hướng các chuối cung ứng nhằm tận dụng hết các khả năng thế mạnh; có thể thấy ví dụ điển hình như Tổng công ty Sông Đà, Tập đoàn Dầu Khí, Tập đoàn FPT… hình thành mô hình các nhóm công ty có chung một nhóm cổ đông sở hữu đa số – hình thức sơ khai của các tập đoàn công nghiệp.

Việc chia tách này còn giúp cho các doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ ngoài bổ sung thêm nguồn vốn. Ngoài ra, với việc chia tách này, với kỹ thuật kế toán có thể điều chỉnh tăng giảm giá trị tài sản thông qua đánh giá lại … xử lý cân đối lại nguồn và trạng thái báo cáo tài chính. Với từng đơn vị hoạt động chuyên biệt trong từng lĩnh vực cụ thể thì có thể thấy rằng việc chia tách này sẽ làm nổi bật giá trị từng lĩnh cụ thể, nhưng bên cạnh đó, nó cũng làm cho công ty mẹ mất đi phần cốt lõi kinh doanh (business core). Ngoài ra, các khoản lợi thế thương mại cũng là một vấn đề đáng chú ý. Được sinh ra trong quá trình mua bán giải thể sáp nhập doanh nghiệp, lợi thế thương mại làm tăng nguồn vốn lên một khoản tương ứng với tài sản cố định vô hình tăng lên một khoản; không những thế, được trích lập khấu hao, nó có thể được sử dụng làm công cụ linh hoạt để có thể điều tiết được kết quả kinh doanh.

Một ví dụ điển hình cho mô hình cổ phần này là tập đoàn FPT; tập đoàn FPT sau khi thực hiện chuyên môn hoá bằng phương thức tách trong đó bốn lĩnh vực chính với các đơn vị chủ yếu nổi bật: FPT IS, FPT soft, FPT trading, FPT telecom – đóng góp 85 – 90% tổng lợi nhuận trước thế của tập đoàn FPT trong những năm gần đây, các mảng khác chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ; công ty mẹ không còn trực tiếp tham gia cụ thể mà giao cho các đơn vị con. Những gì được thể hiện trên báo cáo tài chính của công ty mẹ chỉ là những phần tương ứng với phần vốn của công ty mẹ đầu tư vào các công ty con và chỉ còn yếu tố điều tiết trong vai trò cổ đông chi phối. Tuy nhiên câu chuyện không chỉ đơn giản như vậy, do các công ty dù là mẹ hay con thì là những pháp nhân độc lập, mối liên hệ giữa chúng chỉ chủ yếu là quan hệ chi phối của một nhóm cổ đông cụ thể. Như vậy có thể thấy, việc chia tách hay sáp nhập đang được sử dụng là một kỹ thuật điều chỉnh tổng tài sản trên bảng tổng kết tài sản mà thôi. Điều này cũng có thể thấy ở nhiều các tập đoàn lớn tại Việt Nam, … Tuy nhiên không phải tập đoàn nào cũng vậy, còn rất nhiều các tập đoàn vẫn giữ phần cốt lõi (core) chủ yếu của mình như Novaland, Bitexco… – chỉ tập chung vào những mảng đem lại lợi ích chính.

Tuy nhiên, có thể thấy qua khủng khoảng kinh tế giai đoạn 2008 – 2010 và 2012 – 2014, giống như một giai đoạn thử lửa cho các mô hình kinh tế mới, có thể thấy rằng việc tách nhỏ chuyên biệt của các tập đoàn không còn hiệu quả nữa do yếu tố không tập chung được nguồn lực, ngoài ra, đòi hỏi của cổ đông đầu tư về tính hiệu quả cũng là một vấn đề cần cân nhắc của ban điều hành của bất cứ công ty nào. Tuy nhiên, những giai đoạn này cũng đem lại những cơ hội tiềm năng tới cho những doanh nghiệp nào có hoạt động hiệu quả và dự trữ đủ nguồn lực.Việc sáp nhập cũng trở thành tất yếu đối với một số tập đoàn, ngoài hoạt động mua bán sáp nhập (M&A) để tái cấu trúc kiện toàn lại hệ thống và tập chung các nguồn lực cần thiết để phát triển.

Trong năm 2014 – đặc biệt là nửa cuối năm 2014, kinh tế Việt Nam chứng kiến nhiều thương vụ M&A đình đám có thể kể tới như khách sạn Movenpick của TungSing , các dự án bất động sản lớn: galaxy9, Lexington, icon 56 của Novaland, chuỗi siêu thị của BJC, Ocean Retail của Vingroup hay Kinh Đô Bình Dương của Mondelez International và còn nhiều các thương vụ khác với giá trị chuyển nhượng từ vài chục tới vài trăm triệu USD. Theo thống kê của Viện hợp nhất sáp nhập và liên minh (IMAA) cho thấy, giá trị của hoạt động này ở Việt Nam trong năm 2014 đã tăng 15% so với năm 2013 với 313 thương vụ.

Năm 2015 sẽ là năm hứa hẹn là một mùa sáp nhập và chuyển nhượng sôi động đầy kịch tính không chỉ ở các ngành hàng tiêu dùng, bán lẻ, bất động sản mà còn ở lĩnh vực tài chính ngân hàng. “Theo những thông tin về các thương vụ đang ở giai đoạn sắp kết thúc và ở giai đoạn chuẩn bị thì viễn cảnh hoạt động M&A ở Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng trong năm tới. Xu hướng này dĩ nhiên sẽ còn phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế của khu vực và toàn cầu. Tôi cho rằng lĩnh vực hàng tiêu dùng và công nghiệp sẽ tiếp tục xuất hiện các thương vụ mua bán nhiều hơn”, Giáo sư Christopher Kummer chia sẻ với NCĐT. Thật vậy, sau một giai đoạn khó khăn và suy giảm hoạt động, các doanh nghiệp Việt Nam trở nên yếu ớt hơn bao giờ hết và điều này cũng góp phần đẩy nhanh các hoạt động sáp nhập và chuyển nhượng cũng với chính sách cổ phẩn hoá các doanh nghiệp có vốn nhà nước cũng làm gia tăng không ít những hoạt động này. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh sau các thương vụ M&A này liệu có được thay đổi, nâng cao một cách thực chất đóng góp vào giá trị của xã hội hay đây chỉ là một kỹ thuật xử lý tài chính vốn đã được nâng lên một tầm cao mới so với những giai đoạn 2010 – 2012.

Vậy thì “khắc nhập… khắc xuất…” trong năm 2015 và giai đoạn 2015 – 2020 nói chung có còn là một “câu thần trú” giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển nội lực, nâng cao khả năng cạnh tranh và đón đầu xu thế hội nhập ra thế giới…?

Vô đề 2018…

Gia đình khối đầu tư thân mến,

Cũng đã được gần 20 ngày kể từ ngày đầu tiên bước chân vào Capital House – ngày 22/01/2018, tôi xin được cảm ơn tất cả các bạn trong thời gian qua, những gì mà các bạn đã hỗ trợ, ủng hộ tôi trong những ngày đầu tiên chập chững và bỡ ngỡ gia nhập gia đình lớn.

Thời khắc giao thừa cũng đang tới, bạn và gia đình sau những giờ phút tất bật chuẩn bị để lại đẳng sau những lo toan của cả một năm, hẳn đang quây quần thư giãn bên nhau trong không khí ấm cúng náo nức đón xuân về tràn đầy hy vọng, điều ước và niềm tin cho một năm Mậu Tuất sẽ mang tới cho chúng ta sức khoẻ, niềm vui và hơn cả là thành công trong sự nghiệp và tình yêu – trong cả 365 ngày của năm mới.

Năm mới của gia đình Capital House, hãy cho phép tôi được bắt đầu bằng một lời chúc đầu năm. Lời chúc đầu năm của một thành viên mới đối với gia đình cũng như là một sự khởi đầu mới, một sự chia sẻ suy nghĩ tới mọi thành viên khối đầu tư trong đại gia đình Capital House; cao hay thấp, đúng hay sai – tất cả những điều này phụ thuộc vào các bạn, nhưng ít nhất hãy tạo thành một nét truyền thống – không phải chỉ là “thời trang”.

Cũng đã 20 ngày về với gia đình, có thể nói thời gian đó không thể so sánh với chặng đường 14 năm kể từ 2004, tuy nhiên, với 1 năm trở lại đây, năm 2017 đầy sóng gió trong quá trình tái cấu trúc, chưa đủ dài để chiêm nghiệm kết quả rõ ràng, nhưng tôi có thể cảm nhận được rất rõ ràng về định hướng trong tương lai của gia đình Capital House, cũng như đủ để chúng ta mỗi thành viên của Capital House tự hỏi: Chúng ta là ai? Chúng ta hướng tới điều gì? Chúng ta mong muốn xây dựng tổ chức đội ngũ như thế nào? Và hơn cả, chúng ta mong muốn sẽ mang tới những ảnh hưởng gì tới cuộc sống???

Đây cũng là thời khắc quan trọng trong năm, trước khi “cái tôi” trong mỗi chúng ta khởi động trong một vòng xoáy kinh doanh mới, hãy dừng lại vài tiếng đồng hồ thôi để tìm kiếm trong mỗi chúng ta câu trả lời.

Capital House đã trưởng thành từ một công ty nhỏ với nguồn vốn hữu hạn đã trở thành một tập đoàn nghìn tỷ hoạt động ở các mảng: phát triển bất động sản, đầu tư, giáo dục và năng lượng hạ tầng xanh. Chúng ta đã xây dựng được thương hiệu và hình ảnh qua những công trình dự án thực hiện.

Với chiến lược cho giai đoạn từ nay tới 2023, gia đình Capital House sẽ mở rộng quy mô và hoạt động, và để làm được điều đó, mỗi thành viên chúng ta cần phải nỗ lực và sáng tạo hơn không chỉ là dừng ở năng lực chuyên môn mà mỗi thành viên chúng ta còn phải là hạt nhân tạo nên giá trị và là cầu nối giữa công ty, thị trường và các cộng đồng…

Với mục tiêu 330ha cho năm 2018 và 3000ha cho năm 2023 phát triển quỹ đất đối với một tập đoàn tầm trung như chúng ta quả là một thách thức lớn, nghe như không tưởng và điên dồ… nhưng một điều tôi chắc chắn là nó hoàn toàn phụ thuộc vào mỗi thành viên chúng ta là một khối – như một lời cam kết, một lời tự động viên khích lệ và đoàn kết – như chúng ta đang và sẽ và cam kết thực hiện.

Chúng ta liệu sẽ là một khối thống nhất vượt qua giới hạn rào cản để đạt được mục tiêu thu về thành quả vượt bậc hay còn có khoảng cách giữa các “định nghĩa” của tài chính, đầu tư, pháp lý hay chiến lược???

Đây chỉ là vấn đề của sự lựa chọn!

Chúc mừng năm mới toàn thể gia đình khối đầu tư Capital House. Chúng ta hãy cùng nhấn nút khởi động, và cùng ĐỒNG HÀNH…

Article 2014 – Khả năng nào cho tuyển Việt Nam trên sân nhà – cuộc chiến phát hành thẻ tín dụng

Cạnh tranh khốc liệt, liệu các ngân hàng Việt Nam có thể thay đổi, khắc phục điểm yếu của mình đem lại giá trị gia tăng cho khách hàng như các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam trong cuộc chiến thị phần phát hành thẻ tín dụng quốc tế?

Có lẽ khoảnh khắc càng gần tới thời điểm kết thúc năm tài chính 2014 cũng là những giờ phút cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong ngành ngân hàng. Có lẽ chưa có năm nào, toàn ngành ngân hàng phải đối mặt với những khó khăn như trong năm 2014: nợ xấu, tăng trưởng tín dụng thấp, tái cơ cấu, áp lực từ cổ đông; chính vì lẽ đó mà cạnh tranh giữa các ngân hàng càng trở nên khốc liệt.

Nổi lên như một thị trường mới mẻ đầy tiềm năng – cho vay tiêu dùng. Đây là một thị trường không phải là hoàn toàn mới đối với nghiệp vụ ngân hàng truyền thống nhưng lại là một thị trường đầy tiêm năng chưa được khai phá vào thời điểm kinh tế khó khăn, các ngân hàng dư thừa vốn, các doanh nghiệp còn chưa kịp hồi phục. Chiếm một tỷ trọng lớn đáng kể trong thị phần này là kinh doanh phát hành thẻ và đặc biệt là thẻ tín dụng gồm cả thẻ tín dụng nội địa và quốc tế.

Điểm qua số liệu thị trường tín dụng cá nhân và thẻ tín dụng nói riêng gần đây có thể thấy tốc độ tăng trưởng lớn trong lĩnh vực này:

Như vậy tổng quan có thể thấy, thẻ tín dụng không chỉ tăng trưởng tới 34.2% mà còn chiếm tỷ trọng 2.7% trong tổng số dư nợ theo nhóm sản phẩm năm 2013 và dự kiến chiếm 3.7% trên tổng dư nợ với mức tăng trưởng trung bình hàng năm từ 2010 tới 2015 là 30.3%.

Nếu tính trên số lượng thẻ, hàng năm tăng trưởng trung bình đạt trên 54.4% từ 2010 tới 2015, trong đó tính trung bình trên 100 người trưởng thành thì tăng trung bình hàng năm từ 2005 tới 2015 là 1 thẻ trong đó dự kiến trong năm 2014 và 2015 đạt trên 1 thẻ.

Như vậy, có thể thấy, tốt độ tăng trưởng của lĩnh vực này hiện đang có những bước tiến lớn và ngày càng trở nên quan trọng trong hoạt động dịch vụ ngân hàng và không chỉ dừng ở đó khi nó còn là một hoạt động kích thích tiêu dùng của xã hội và dần dần thay thế thói quen sử dụng tiền mặt mà qua đó ổn định và kiểm soát thị trường tiền tệ.

Đối với việc phát hành thẻ tín dụng quốc tế mà chủ yếu là thẻ Visa hiện đang chiếm lĩnh thị phần lớn trên thị trường cả về số thẻ được phát hành và đang hoạt động, thông thường bản chất đây chính là khoản vay tín chấp dựa trên thu nhập có thể chứng minh được của người sở hữu thẻ do bên phát hành thẻ (ngân hàng) cung cấp dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá có tính truyền thống. Tuy nhiên, nổi lên một xu hướng mới trong các đánh giá để cung cấp dịch vụ thẻ tới khách hàng tương đối khác với phương pháp truyền thống và được áp dụng chủ yếu với các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam (gọi tắt là ngân hàng nước ngoài) vốn là thiểu số trên thị trường Việt Nam: HSBC, ANZ, CitiGroup… Nhờ cách tiếp cận mới này mà tuy là thiểu số nhưng các ngân hàng nước ngoài này dần cạnh tranh được với các ngân hàng của Việt Nam (gọi tắt là ngân hàng nội địa) và chiếm một thị phần khoảng 10% trong thị trường này và trong tương lai gần khi Việt Nam mở cửa hội nhập đối với thị trường tài chính theo lộ trình, các ngân hàng nội địa không có những điều chỉnh phù hợp thì cũng có rất nhiều khả năng họ sẽ không còn là người chủ động trên chính “sân nhà” của mình, điều này cũng giống như những gì xảy ra trong lĩnh vực bánh kẹo và bán lẻ gần đây.

Với mục tiêu khách hàng là trung tâm, các ngân hàng nước ngoài đã xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá khác với các ngân hàng nội địa thường theo cách truyền thống mà qua đó khách hàng được hưởng các giá trị gia tăng cao hơn từ sự tiện lợi và ưu đãi mà qua đó, nâng cao tính cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài. Các giá trị gia tăng này chủ yếu trên hai khía cạnh:

  1. Ứng xử của ngân hàng đối với khách hàng thông qua nghiệp vụ phát hành mới và tái cấp:

Thẻ tín dụng vốn được coi là một khoản vay tín chấp, do đó, đối với các quy định vể chứng minh tình hình tài chính và khả năng thanh toán là những yêu cầu bắt buộc. Tuy nhiên, những yêu cầu về mặt giấy tờ được giảm nhẹ ở nhiều khâu, khách hàng không phải đi lại nhiều hay chờ đợi lâu và được hướng dẫn tận tình. Thậm trí, ở một số ngân hàng nước ngoài còn giảm thiểu tới mức chỉ cần hợp đồng lao động và bản chụp sao các thẻ đã được cấp của những ngân hàng lớn như HSBC, VCB là đã có thể cơ bản được cấp phát thẻ tín dụng mở mới ở những ngân hàng đó.

Tiện ích còn đặc biệt được thấy rõ ở khâu gia hạn hay phát hành lại, trong khi tới 95% các ngân hàng nội địa đều yêu cầu thực hiện lại từ đầu các khâu trước khi phát hành lại (tái tục) hay gia hạn thẻ với các thủ tục giấy tờ chứng minh tương đối phức tạp cũng như đánh giá tình hình trả nợ (thực hiện trong nội bộ ngân hàng) và chờ đợi 10 – 15 ngày để nhận thẻ mới nếu như được phê duyệt.

Tuy nhiên, không như cách tiếp cận truyền thống, các ngân hàng nước ngoài thường sẽ gửi trực tiếp thẻ qua đường chuyển phát nhanh đảm bảo tới khách hàng trước khi hết hạn thẻ 1 – 2 ngày và qua đó khách hàng có thể tự kích hoạt (activate) thẻ của mình qua các thiết bị di động với những bước đơn giản và được hướng dẫn cụ thể nếu phía ngân hàng xét thấy khách hàng có lịch sử trả nợ tốt.

Như vậy, với cách tiếp cận mới này, rõ ràng có thể thấy ngân hàng (nước ngoài) đã hỗ trợ giảm thiểu các thủ tục cũng như thời gian chờ đợi cho khách hàng tạo cho khách hàng một sự tiện lợi và thoải mái và qua đó, ngân hàng cũng giảm thiểu được chi phí phát sinh từ chính những tác nghiệp này.

  1. Giá trị gia tăng cho khách hàng từ những phân tích đánh giá hành vi tiêu dùng của khách hàng

Không chỉ từ khâu phát hành hay gia hạn tái tục thẻ, các ngân hàng nước ngoài còn hết sức cạnh từ những khía cạnh đem lại lợi ích thật sự tới khách hàng. Một khía cạnh vô cùng quan trọng của thẻ tín dụng chính là kích thích tiêu dùng và tạo lợi nhuận cho chính ngân hàng phát hành thông qua lãi và phí.

Như vậy, với mục tiêu khách hàng là trung tâm, hạn mức cũng là một trong những khía cạnh đem lại giá trị cho khách hàng cũng như lợi thế cạnh tranh trên cơ sở đánh giá rủi ro của khách hàng. Thông thường các ngân hàng đều dựa trên thu nhập để quyết định cấp một mức cấp tín dụng ban đầu cụ thể, tuy nhiên, trong quá trình sử dụng của khách hàng, các ngân hàng nội địa thường giữ nguyên hạn mức cho khách hàng hoặc trừ khi khách hàng có đề nghị nâng hạn mức và ngân hàng sẽ xét duyệt trên đề nghị đó. Trong khi đó, ở các ngân hàng nước ngoài, xét trên lịch sử tiêu dùng và trả nợ; ngoài việc khách hàng có thể yêu cầu xin tăng hạn mức để ngân hàng xét duyệt thì ngân hàng nước ngoài cũng chủ động xem xét nâng hạn mức của khách hàng hoặc chủ động đề nghị khách hàng nâng hạng thẻ để qua đó, khách hàng được hưởng nhiều ưu đãi hơn hoặc có thể mua sắm nhiều hơn với hạn mức được tăng lên của mình. Vô hình chung, việc chủ động này của ngân hàng đã gắn kết người sử dụng qua sự hài lòng, thoả mãn với dịch vụ của ngân hàng đã cung cấp.

Không chỉ có thế, cùng với việc phân tích lịch sử tiêu dùng của khách hàng, các ngân hàng nước ngoài đã phân loại và đánh giá thói quen tiêu cùng của khách hàng để chủ động tạo ra các sản phẩm, các lợi ích dựa trên nhu cầu mua sắm của khách hàng. Các “ích lợi” này được thiết kế dành riêng cho từng nhóm khách hàng và được gửi tới khách hàng thông qua phương tiện thư điện tử hay điện thoại trực tiếp từ nhân viên của ngân hàng. Công tác phân tích này còn được đẩy mạnh và chuyên biệt hoá bằng không chỉ hoạt động phân tích khách hàng của nội bộ ngân hàng mà còn qua dịch vụ của bên thứ ba do ngân hàng thuê để đảm bảo tính tổng quát và khách quan khi đánh giá các nhóm khách hàng trong quá trình thiết kế sản phẩm.

Ngoài ra, đó là để tăng cường sức cạnh tranh hơn nữa, đối với một số nhóm khách hàng tiềm năng, một số ngân hàng nước ngoài đã chủ động mời chào khách hàng sử dụng thêm dịch vụ bằng việc cấp tự động một hạn mức vay tín dụng cho những hoạt động tiêu dùng khác như mua xe ô tô, mua nhà…

Như vậy, chỉ với nghiệp vụ phân tích thông tin về lịch sử hoạt động của khách hàng mà các ngân hàng nước ngoài đã tạo ra lợi thế cạnh tranh cho riêng mình, mà qua đó, khách hàng ngày càng trở nên gắn bó với những dịch vụ và tiện ích và trở thành khách hàng trung thành với các dịch vụ của ngân hàng.

Đó là chưa tính tới các khía cạnh tiện lợi cho khách hàng khác như linh hoạt trong thanh toán tại quầy hoặc chuyển khoản từ bất cứ đâu thẳng vào số thẻ mà không cần phải mở thêm tài khoản thanh toán tại ngân hàng phát hành, chế độ mã hoá bảo mật thông tin,… là những khía cạnh không được đề cập tới trong nội dung của bài viết.

Với những hoạt động cụ thể phân tích hành vi tiêu dùng cũng như giảm thiểu thủ tục thời gian phát hành thẻ nhằm mang lại lợi ích và các giá trị gia tăng cho khách hàng, các ngân hàng nước ngoài dần dần đã phần nào thể hiện được chiều sâu trong chiến lược cạnh tranh và tham gia thị trường so với các ngân hàng nội địa vốn có quy mô và nhiều lợi thế hơn rất nhiều.

Trước ngưỡng cửa năm 2015 – năm ất mùi, với những tín hiệu chuyển mình của kinh tế dù còn bao bộn bề khó khăn, cùng với cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường; các ngân hàng nội địa cần phải có những sách lược cụ thể để tăng cường sức mạnh cũng như tiềm lực tài chính của chính mình ngay từ bây giờ để có thể đón đầu những cơ hội mới cũng như đối mặt với những thử thách đang còn chờ trước mặt khi Việt Nam hoàn toàn hội nhập và mở cửa thị trường tài chính theo đúng lộ trình đã cam kết.

Vậy thì khả năng nào cho “tuyển Việt Nam” chiến thắng ngay trên sân nhà trong một “giải đấu quốc tế” với thời gian chuẩn bị không còn dài nữa? ψ

12/2014