Tuần – Week: 25 – 30/05/2020

  • For English version, please scroll down –

Dịch bệnh còn chưa lắng xuống thì “chiến tranh lạnh” lại chực bùng phát… Hỗn loạn…

Các sự kiện chính – Main events:

Tổng thống Mỹ Donald Trump đang tìm cách gây sức ép lên Bắc Kinh, với những cáo buộc như Trung Quốc che đậy thông tin về Covid-19 trong giai đoạn đầu của dịch, hay virus corona mới (SARS-Cov-2) rò rỉ từ phòng thí nghiệm ở Vũ Hán; đồng thời, Trump không muốn cuộc đối đầu với Trung Quốc gây ảnh hưởng đến cơ hội tái tranh cử của ông.

CNBC từng đánh giá: “Indonesia đang phải đối mặt với một thực tế là không thể cạnh tranh với quốc gia láng giềng, Việt Nam, bị bỏ xa phía sau trong nhiều lĩnh vực, từ đầu tư nước ngoài đến xuất khẩu“… nhưng các nguồn cung, đặc biệt là nhân sự vẫn là một vấn đề chưa được giải…

Thị trường BĐS Tp.HCM trong 2 năm qua gặp nhiều khó khăn về nguồn cung mới do ảnh hưởng bởi việc rà soát pháp lý các dự án, khiến hàng trăm dự án đứng hình, dẫn đến nguồn cung mới khan hiếm. BĐS khu Đông Tp.HCM đã được hưởng lợi lớn từ việc phát triển hạ tầng giao thông ở khu vực này, nay lại có thêm chủ trương sáp nhập 3 quận gồm Quận 2, Quận 9 và Thủ Đức để lập thành phố trực thuộc Tp.HCM sẽ càng làm thị trường khu vực này thêm sôi động…

Tại sao nó ảnh hưởng – Why is it affected:

Theo CNN, Tổng thống Trump đang đối mặt với vấn đề hiệu quả của thỏa thuận thương mại Mỹ-Trung giai đoạn 1, ký kết hồi tháng 1 vừa qua. Sau khi thỏa thuận được ký, sức mua hàng Mỹ của Trung Quốc kém xa so với mục tiêu kỳ vọng. Nhiều người Mỹ, đặc biệt là người nông dân bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc chiến thương mại từ năm 2018, đã hy vọng rằng khoản xuất khẩu 200 tỷ USD sang Trung Quốc như thỏa thuận sẽ giúp khôi phục lợi nhuận. Trong lúc những biện pháp cứng rắn hơn như tăng cường trừng phạt thương mại và tăng cường áp đặt lên thuế quan đã được thảo luận, giới chức Mỹ đang tham khảo các ý kiến như mở rộng thắt chặt với các công ty 5G của Trung Quốc, cũng như thực hiện các hành động chính trị khác nhằm trừng phạt Bắc Kinh. Nhưng cho đến nay, sức mua của Trung Quốc ở các mặt hàng năng lượng, nông nghiệp và các mặt hàng khác đều ít hơn một nửa so với kế hoạch. Theo một số ước tính, điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến chiến dịch tái tranh cử của Trump.

Theo CNBC, mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP của Indonesia cũng là tương đối cao so với các nền kinh tế lớn khác trên toàn cầu, nhưng các nhà kinh tế thường đồng ý rằng quốc gia này đang hoạt động dưới mức tiềm năng của mình trong việc thu hút FDI nên được gọi là “gã khổng lồ ngủ yên“. Nhìn vào các con số, có thể thấy, Việt Nam có lợi thế hơn so với Indonesia về mức độ sẵn sàng tự động hóa, chi phí lao động, thuế thu nhập doanh nghiệp hấp dẫn hơn, năng lực logistics cũng được đánh giá cao hơn và cũng có nhiều hiệp định thương mại tự do hơn, đặc biệt là EVFTA mới đây. Tuy nhiên cơ sở hạ tầng cảng vẫn còn đi sau so với Indonesia. Ở điểm này, Indonesia có lợi thế hơn Việt Nam với đường biển rộng. Không chỉ có vậy, Đại sứ Indonesia tại Việt Nam, ông Ibnu Hadi tiết lộ: “Quá trình cấp phép đầu tư cho người nước ngoài tại Việt Nam thực sự rất dễ dàng. Vì vậy, đầu tư có thể được diễn ra nhanh chóng và thuận lợi hơn. Nếu một nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, chỉ cần 2 giấy phép, phê duyệt đầu tư và đăng ký kinh doanh“, ông nói với CNBC Indonesia. “Điều quan trọng đối với chúng tôi là tăng tốc việc hợp tác thương mại, chẳng hạn thông qua Hiệp định thương mại tự do (FTA) và mở rộng thị trường để không bị tụt lại phía sau“. Thực tế cho thấy, nguồn nhân lực kỹ thuật cao của Việt Nam vẫn là một rào cản lớn đối với các nhà đầu tư, đơn cử, 27 công ty của Hoa Kỳ gần đây đã không thể chọn Việt Nam làm điểm đến sau khi rút khỏi Trung Quốc; vậy cuộc chiến giữa Indonesia và Việt Nam sẽ còn phức tạp hơn nữa…

Khu Đông cũng là nơi được đầu tư mạnh nhất về hạ tầng giao thông trong những năm qua. Trong tổng số 216 dự án hạ tầng giao thông mà Tp.HCM triển khai thì khu Đông chiếm tới 70%, tổng nguồn vốn đầu tư lên tới 350.000 tỷ đồng cho giai đoạn 2010-2020. Vì thế, khu vực này đang được xem là nơi có hạ tầng giao thông phát triển nhất Tp.HCM với các tuyến đường quan trọng đã hình thành như xa lộ Hà Nội, cao tốc Long Thành – Dầu Giây nối với Thủ Thiêm, đường vành đai 3,… Nhờ sự phát triển mạnh về hạ tầng giao thông ở khu Đông Tp.HCM đã tạo đà cho giá BĐS ở khu vực này liên tục tăng trong khoảng 3 năm trở lại đây. Đặc biệt, khu Đông Tp.HCM còn có thể kết nối rất thuận tiện với khu vực Long Hưng, Long Thành (bên kia sông Đồng Nai) với các dự án giao thông mới đã và đang được xây dựng như đường Hương Lộ 2 dọc sông Đồng Nai, dự án cầu Cát Lái và cầu Đồng Nai 2 cũng sẽ được xây dựng nối đường Nam Cao… Theo nghiên cứu của CBRE, mặt bằng giá nhà đất ở một số khu vực quận 2, quận 9 tăng gấp 2 đến 3 lần trong khoảng 3 năm qua.

Xu hướng chính – Key trends:

Trong những tuần gần đây , Ông Trump nhiều lần đả kích Trung Quốc vì không hành động sớm và không cảnh báo thế giới về sự lây lan của Covid-19. Mỹ muốn Trung Quốc cần phải chịu trách nhiệm. Các nhà lập pháp ở cả đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ tin rằng Mỹ cần nghiêm túc đánh giá lại mối quan hệ với Trung Quốc, cụ thể, các nhà lập pháp đã bắt đầu thảo luận việc di chuyển nguồn cung vật tư y tế và thuốc quay trở lại Mỹ, cũng như sẽ đưa ra các ưu đãi, giảm thuế cho các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa tại Mỹ. Trung Quốc vẫn đang là trung tâm của chuỗi cung ứng thế giới. Việc thay đổi cơ cấu có thể mất nhiều năm và có thể gây ra tổn thương kinh tế cho các quốc gia khi tìm lối đi cho riêng mình.

Trong số 56 công ty đã chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 8 năm 2019, 26 công ty chuyển đến Việt Nam, 11 công ty đến Đài Loan và 8 công ty sang Thái Lan và chỉ có 2 công ty đến Indonesia. Nhưng nhìn về bề mặt riêng, phần lớn các công ty tới Việt Nam thường tranh thủ nhân công lao động giản đơn giá rẻ chứ không phải nhân công kỹ thuật cao dẫn tới đầu tư nhiều số lượng nhưng không lớn về giá trị.

Hiện Tp.HCM đang đề xuất thành lập “thành phố phía Đông” trực thuộc Tp.HCM bằng việc sáp nhập 3 quận gồm quận 2, quận 9 và Thủ Đức nhằm phát triển khu đô thị sáng tạo phía Đông ở khu vực này. Tạo động lực phát triển kinh tế cho toàn vùng với việc hình thành các trung tâm mới như trung tâm công nghệ tài chính ở quận 2; trung tâm công nghệ sinh thái, trung tâm sản xuất tự động, trung tâm công nghệ giáo dục ở quận 9… Mới đây, một số ý kiến của chuyên gia trong ngành còn cho rằng để tạo để có dư địa phát triển kinh tế xã hội, trong đó có BĐS “thành phố phía Đông” có thể sáp nhập thêm một phần huyện Long Thành và Nhơn Trạch, thậm chí cả sân bay quốc tế Long Thành của tỉnh Đồng Nai.

Cái gì tiếp theo – What comes next:

Với việc sức mua hàng của Trung Quốc vẫn giảm so với mức năm 2017, các nhà lãnh đạo cho biết chương trình trợ cấp nông nghiệp có thể được gia hạn thêm trong năm 2020. Thuế quan của Mỹ làm tăng chi phí cho các công ty Mỹ nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc. Mặc dù hai bên đã kí thỏa thuận thương mại, Mỹ vẫn duy trì mức thuế khoảng 360 tỷ USD lên các hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Bên cạnh lý do bầu cử, có lẽ bây giờ cũng không phải thời điểm thích hợp để Mỹ đáp trả. CNN nhận xét, đảng Cộng hòa nhận thức được điều này, và có lẽ đây là lý do họ chưa thúc đẩy một dự luật cải cách lớn nhằm đưa doanh nghiệp quay về Mỹ hoặc trừng phạt Trung Quốc vì những hành động đối phó với đại dịch Covid-19 thời gian đầu. Phe Cộng hòa cũng dè chừng với các hành động mạnh mẽ và quyết liệt của ông Trump chống lại Trung Quốc vào thời điểm Mỹ đang cần Trung Quốc tuân thủ thỏa thuận thương mại đã thiết lập để có thể bán được mặt hàng nông sản chủ đạo của mình, ví dụ như đậu nành…

Hiện nay, thực tế thị trường cho thấy nhiều khu vực tại khu Đông giá bất động sản tiếp tục tăng bởi nguồn cung khan hiếm do TP.HCM siết chặt các thủ tục pháp lý đầu ra cho dự án nhà ở, nguồn cung mới ít xuất hiện, sự điều chỉnh bảng giá đất giai đoạn 2019-2024, quỹ đất thành phố ngày càng hạn hẹp… Việc mở rộng đô thị về khu Đông không phải bây giờ mới nhắc tới mà trước đó khu vực này đã đón nhận làn sóng đầu tư “khủng” từ các tập đoàn lớn. Hầu hết các “ông lớn” BĐS đều đã xuất hiện như Vingroup, Novaland, Hưng Thịnh, Đất Xanh, Khang Điền, Đại Quang Minh, Nam Long…khu vực phát triển đô thị còn đang dịch chuyển mạnh mẽ sang bên kia sông Đồng Nai với chuỗi dự án lớn dọc đường Hương Lộ 2 nối với cao tốc Long Thành-Dầu Giây và Nhơn Trạch, trong vòng bán kính khoảng 15km xung quanh sân bày Long Thành. Theo giới kinh doanh địa ốc, khu Đông Sài Gòn hiện đã và đang được đầu tư nhiều dự án hạ tầng giao thông lớn mà trong tương lai còn còn có nhiều dự án lớn kết nối vùng khác. Đơn cử như đường vành đai 3 đang dần hoàn thiện, tuyến metro Bến Thành – Suối Tiên sắp hoạt động, cầu Đồng Nai 2 kết nối với khu Long Hưng (Đồng Nai), và mới đây nhất là Đồng Nai được giao thực hiện dự án cầu thay phà Cát Lái với chi phí đầu tư gần 7.200 tỷ đồng…

Dấu hiệu rủi ro – Risk signals:

Indonesia ngoài dân số lớn còn có nguồn tài nguyên mạnh. Do đó, 5 tháng gần đây Indonesia cùng với những thay đổi yếu tố môi trường kinh doanh đã thu hút được các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư Mỹ”, một vị chuyên gia nhấn mạnh. Nếu so sánh về mặt lâu dài, vị chuyên gia này nhận định, nhà đầu tư đánh giá cao Indonesia và Ấn Độ. Nói vậy thì cơ hội nào cho Việt Nam?

Vẫn là yếu tố con người, và cần lắm một nền giáo dục toàn diện và dài hạn…

xxx – npl

<Week…>

The plague hadn’t calmed down yet, and the “cold war” was about to break out … chaos …

Main events:

US President Donald Trump was seeking to put pressure on Beijing, with allegations like China covering up information about Covid-19 in the early stages of the epidemic, or a new corona virus (SARS-Cov-2) leaked from a lab in Wuhan; at the same time, Trump did not want his confrontation with China to affect his re-election opportunity.

CNBC once assessed: “Indonesia is facing the fact that it cannot compete with its neighbor, Vietnam, being far behind in many fields, from foreign investment to export” … but the supplies, especially human resource were still unsolved problems…

Ho Chi Minh City Real Estate Market in the last 2 years had faced many difficulties in new supply due to the impact of legal review of projects, leaving hundreds of projects frozen, resulting in scarce supply. The real estate in Eastern Ho Chi Minh City had benefited greatly from the development of transport infrastructure in this area, but now had a policy of merging 3 districts including District 2, District 9 and Thu Duc to form a sateline city directly under the city HCM would drive this regional market more exciting…

Why is it affected:

According to CNN, President Trump was facing the effectiveness of the US-China trade agreement phase 1, signed in January. After the agreement was signed, Chinese purchasing power of China was far below the expected target. Many Americans, especially farmers severely affected by the trade war since 2018, had hoped that a $ 200 billion export to China as agreed would help restore profits. While tougher measures such as increasing trade sanctions and increasing imposition of tariffs had been discussed, US officials were consulting ideas such as tightening ties with Chinese 5G companies, as well as taking other political actions to punish Beijing. But so far, China’s purchasing power in energy, agriculture and other commodities was less than half of the plan. According to some estimates, this would adversely affect Trump’s re-election campaign.

According to CNBC, although Indonesia’s GDP growth rate was also relatively high compared to other major economies around the globe, economists often agree that the country is operating below its potential in attracting FDI should be called “sleeping giant“. Looking at the figures, it could be seen that Vietnam had an advantage over Indonesia in terms of readiness for automation, labor costs, more attractive corporate income tax, and logistics capacity was also highly appreciated, more and more free trade agreements, especially the recent EVFTA. However, port infrastructure was still lagging behind Indonesia. At this point, Indonesia had an advantage over Vietnam with the wide-opened sea. Not only that, Indonesian Ambassador to Vietnam, Mr. Ibnu Hadi revealed: “The process of granting investment licenses to foreigners in Vietnam is really easy. Therefore, the investment can take place quickly. and more favorable. If a foreign investor enters Vietnam, only need 2 licenses, investment approval and business registration,” he told CNBC Indonesia. “It is important for us to accelerate trade cooperation, for example through the Free Trade Agreement (FTA) and expanding the market so as not to fall behind.” In fact, Vietnam’s high-tech workforce remained a major barrier for investors.For example, 27 U.S. companies had recently been unable to select Vietnam as a destination after withdrawing from China; so the war between Indonesia and Vietnam would be even more complicated …

The East has been also the place with the strongest investment in transportation infrastructure in recent years. Out of the 216 transport infrastructure projects implemented by Ho Chi Minh City, the East area accounts for 70%, the total investment capital was VND 350,000 billion for the period of 2010-2020. Therefore, this area was considered to be the place with the most developed transport infrastructure in Ho Chi Minh City with important routes already established such as Hanoi Highway, Long Thanh – Dau Giay expressway connecting with Thu Thiem, the road. belt 3, … Thanked to the strong development of transport infrastructure in the Eastern part of Ho Chi Minh City, the momentum of real estate prices in this area had continuously increased in the last 3 years. In particular, the Eastern area of ​​Ho Chi Minh City could connect very convenient with Long Hung and Long Thanh areas (across the Dong Nai river) with new transportation projects that had been built such as Huong Lo 2 along Dong Nai river, Cat Lai bridge and Dong Nai 2 bridge projects would also be built to connect Nam Cao road … According to CBRE research, the price of housing in some areas of districts 2 and 9 increased by 2 to 3 times over the past 3 years.

Key trends:

In recent weeks, Mr. Trump had repeatedly attacked China for failing to act early and not to warn the world about the spread of Covid-19. The US wanted China to take responsibility. Lawmakers from both Republicans and Democrats believed the US need to seriously reevaluate its relationship with China, in particular, lawmakers had begun discussing the move to supply medical supplies and drugs returning to the US, as well as offers incentives, tax breaks for businesses producing goods in the US. China was still the center of the world supply chain. The structural change could take years and could cause economic damage to countries when they found their own path.

Of the 56 companies that moved production out of China between April 2018 and August 2019, 26 companies moved to Vietnam, 11 companies moved to Taiwan and 8 companies moved to Thailand and Only 2 companies came to Indonesia. But looking at the specific surface, most companies came to Vietnam often taking advantage of low-cost simple labor rather than high-tech workers, leading to large quantity but not value in investment.

Currently, Ho Chi Minh City was proposing to establish an “eastern city” under Ho Chi Minh City by merging 3 districts including District 2, District 9 and Thu Duc to develop the creative eastern urban area in this area. Creating a driving force for economic development for the whole region with the establishment of new centers such as financial technology center in District 2; ecological technology center, automatic production center, educational technology center in district 9 … Recently, some opinions of experts in the industry also said that to create to have a chance for social economic development. Association, including real estate “Eastern city” could merge a part of Long Thanh and Nhon Trach district, even Long Thanh international airport in Dong Nai province.

What comes next:

With Chinese purchasing power still falling from 2017 levels, leaders said the agricultural subsidy program could be extended in 2020. U.S. tariffs increase costs for companies US imports Chinese goods. Even though the two sides had signed a trade agreement, the US maintains tariffs of around US $ 360 billion on imports from China. Besides the electoral reason, it might not be the right time for the US to respond. CNN commented that Republicans were aware of this, and perhaps this was the reason they had not pushed a major reform bill to bring businesses back to the US or punish China for their actions to deal with the early Covid-19 translation. The Republicans were also wary of Trump’s strong and drastic actions against China at a time when the US was in need of China adhering to the trade agreement established in order to sell key agricultural products, for example soybeans …

Currently, the fact that many areas in the East real estate, the market prices continued to rise due to scarce supply because Ho Chi Minh City tightened the output legal procedures for housing projects, new supply was less appears, the adjustment of land price list for the period of 2019-2024, the city land fund was increasingly limited … The expansion of the urban area to the East had not been mentioned but previously this area has received “huge” investment wave from large corporations. Most of the “real estate” giants had appeared such as Vingroup, Novaland, Hung Thinh, Dat Xanh, Khang Dien, Dai Quang Minh, Nam Long … the urban development area was still strongly moving to the other side of the Dong Nai River with a large chain of projects along Huong Lo 2 road connecting the Long Thanh-Dau Giay and Nhon Trach highways, within a radius of about 15km around the yard of Long Thanh display. According to real estate business, East Saigon area had been invested in many large traffic infrastructure projects, but in the future there would be many large projects connecting other regions. For example, the Ring Road 3 is gradually completed, the Ben Thanh – Suoi Tien metro line was about to operate, Dong Nai Bridge 2 connected to Long Hung area (Dong Nai), and most recently Dong Nai had been assigned to implement the project. Cat Lai ferry bridge replacement project with an investment cost of nearly VND 7,200 billion …

Risk signals:

“Indonesia, apart from its large population, has strong resources. Therefore, the last 5 months Indonesia, along with changes in business environment factors, has attracted investors, especially US investors,” said an expert. If compared in the long term, the expert said, investors appreciated Indonesia and India. That said, which opportunities for Vietnam?

It was still the human being component, and required a comprehensive and long-term education  for Vietnam…

xxx – npl

Tuần – week: 18 – 23/05/2020

  • For English version, please scroll down –

“Các công ty Mỹ, Nhật, châu Âu rút ra khỏi Trung Quốc bị chi phối bởi cả yêu cầu chính trị và an ninh nhưng rút đi như thế nào lại là bài toán khác. Gốc của các chuỗi, toàn cầu hoá là lợi ích kinh tế, các công ty đa quốc gia đi các nơi tìm kiếm lợi nhuận, hiệu quả… Vậy nên trong quá khứ, các doanh nghiệp Mỹ, châu Âu mới tìm đến sản xuất ở các nước khác, trong đó có Trung Quốc…” – trích Đại sứ Phạm Quang Vinh.

Các sự kiện chính – Main events:

Kết thúc phiên 22/5, chứng khoán Mỹ hầu như không có thay đổi so với ngày hôm trước, khi nhà đầu tư trải qua 1 tuần với đà tăng mạnh mẽ, lạc quan về thử nghiệm vắc-xin tiềm năng và việc Mỹ mở cửa lại nền kinh tế. Cụ thể, chỉ số S&P 500 tăng 0,2% lên 2.955,45 điểm, trong khi chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones giảm 8,96 điểm, tương đương dưới 0,1%, xuống 24.465,16 điểm. Nasdaq Composite tăng 0,4% lên 9.324,59 điểm.

Tại cuộc họp Thường trực Chính phủ chiều 22/5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, Việt Nam cần tranh thủ luồng dịch chuyển đầu tư sau đại dịch, trọng tâm là các tập đoàn đa quốc gia, công nghệ cao, đứng đầu các chuỗi cung ứng. Nhưng cách thu hút dòng vốn đầu tư trong tình hình mới cũng cần “dịch chuyển“, như ông đề cập; do đó, Thủ tướng quyết định lập Tổ công tác đặc biệt và đề án thu hút FDI, đón làn sóng dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam sau đại dịch.

Trong báo cáo trình Quốc hội, Chính phủ cho biết, trong 12 dự án thua lỗ ngành công thương, 5 dự án có tranh chấp, vướng mắc EPC (nhà tổng thầu). Đó là dự án nhà máy sản xuất phân bón DAP số 2 Lào Cai, dự án cải tạo, mở rộng Nhà máy phân đạm Hà Bắc, Nhà máy đạm Ninh Bình, Nhà máy công nghiệp tàu thủy Dung Quất và dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 của Công ty cổ phần Gang thép Thái Nguyên. 12 dự án thua lỗ ngành Công Thương có tổng mức đầu tư ban đầu gần 43.700 tỷ đồng, sau điều chỉnh lên hơn 63.610 tỷ đồng (tăng gần 46%). Trong đó, vốn chủ sở hữu trên 14.350 tỷ đồng (khoảng 23%), vốn vay hơn 47.451 tỷ đồng (75%), còn lại gần 2,9% từ các nguồn khác. Trong tổng số vốn vay, khoản từ ngân hàng trong nước hơn 41.801 tỷ đồng, còn lại là vay bảo lãnh của Chính phủ. Giải quyết tranh chấp, quyết toán hợp đồng EPC với các nhà thầu Trung Quốc đang là khó khăn lớn nhất khi xử lý các dự án thua lỗ của ngành Công Thương.

Tại sao nó ảnh hưởng – Why is it affected:

Trong tuần vừa rồi, Dow đã tăng 3,3% ghi nhận đà tăng theo tuần mạnh nhất kể từ ngày 9/4. S&P 500 và Nasdaq cũng tăng hơn 3% trong tuần này. Chỉ số Russell 2000, theo dõi các cổ phiếu vốn hóa nhỏ, có diễn biến vượt trội hơn các chỉ số vốn hoá lớn trong tuần này, với mức tăng hơn 7%. Thông tin về một loại vắc-xin tiềm năng từ Moderna đã giúp Phố Wall thăng hoa trong tuần này, thúc đẩy Dow Jones tăng hơn 900 điểm vào thứ Hai. Moderna cho biết tất cả 45 người tham gia thử nghiệm vắc-xin đã phát triển kháng thể coronavirus. Reuters đưa tin hôm thứ Sáu, dẫn lời các nhà khoa học tham gia chương trình, Mỹ đang nỗ lực tiến hành thử nghiệm vắc-xin với hơn 100.000 tình nguyện viên. S&P 500 đã kết thúc tuần cao hơn khoảng 35% so với mức thấp trong phiên 23/3.

Chúng ta phải nghĩ xem nhà đầu tư cần gì để bàn bạc, hợp tác, đáp ứng đúng điều họ cần để phát triển thành công, mang lại lợi ích cho cả 2 phía“, Thủ tướng nói. Các nước đang cạnh tranh quyết liệt, Việt Nam phải có các ưu đãi mang tính cạnh tranh. Thu hút đầu tư có chọn lọc, hướng vào các tập đoàn đa quốc gia lớn, công nghệ cao, hiện đại, thân thiện môi trường. Để đạt mục tiêu này, có ý kiến đề xuất lập Tổ công tác đặc biệt về thu hút vốn đầu tư, đón sóng dịch chuyển đầu tư sau đại dịch. Tại cuộc họp, Thủ tướng đã đồng ý với đề xuất trên. Song song đó, ông yêu cầu xây dựng ngay đề án thu hút dòng vốn dịch chuyển, trong đó phải giải quyết các điểm nghẽn của nhà đầu tư như vấn đề mặt bằng, nguồn nhân lực.

Tại các dự án thua lỗ và đang tranh chấp này, chủ đầu tư và nhà thầu Trung Quốc chưa thống nhất trong xác định giá trị quyết toán do thay đổi thông số kỹ thuật, xuất xứ, số lượng thiết bị so với hợp đồng đã ký và khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng. Ngoài ra, chủ đầu tư và nhà thầu chưa thống nhất thuế phải nộp, tiền phạt chậm nộp thuế của hợp đồng; tranh chấp quyết toán chi phí chạy thử. Giá trị quyết toán thực tế không phù hợp với hợp đồng EPC đã ký. Vướng mắc còn xuất phát từ yêu cầu bồi thường chi phí dịch vụ kỹ thuật kéo dài, chi phí bảo dưỡng khắc phục hư hỏng thiết bị, chi phí chờ đợi hướng dẫn lắp đặt thiết bị, chi phí thay đổi thiết kế, sửa chữa công trình đã thi công…

Xu hướng chính – Key trends:

Sự lạc quan về thử nghiệm vắc-xin phần nào đã bị “lu mờ” khi căng thẳng Mỹ-Trung bắt đầu leo thang trở lại. Vào hôm 21/5 vừa qua, Trung Quốc “đổ thêm dầu vào lửa” khi ban hành dự thảo luật về các biện pháp an ninh quốc gia mới đối với Hồng Kông, sau khi các cuộc biểu tình bùng nổ vào năm ngoái. Dự thảo luật này sẽ cấm các hành vi ly khai, can thiệp nước ngoài, khủng bố và tất cả các hoạt động có chủ đích nhằm lật đổ chính quyền trung ương cũng như các động thái can thiệp từ bên ngoài vào Hồng Kông.

Theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư, các tập đoàn quốc tế đẩy nhanh quá trình đa dạng hóa địa điểm đầu tư và tái định vị cơ sở sản xuất. Thực tế, thời gian qua các nhà đầu tư lớn đã liên tiếp đầu tư mở rộng và triển khai các dự án mới. Việt Nam có nhiều cơ hội đón đầu dòng vốn đầu tư tái định vị sản xuất của các công ty đa quốc gia, là điểm đến tiềm năng trong chính sách đa dạng hóa nguồn cung ứng. Do đó, cần lựa chọn các dự án dịch chuyển thuộc các ngành có công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo, có giá trị gia tăng cao, năng lượng sạch. Bốn lĩnh vực mà các tập đoàn có xu hướng dịch chuyển vào, là công nghệ thông tin và công nghệ cao, thiết bị điện tử, thương mại điện tử và logistics, hàng tiêu dùng và bán lẻ.

Chính phủ cho hay, các doanh nghiệp đã tích cực đàm phán theo chỉ đạo nhưng vẫn không thành công. Trước tình thế này, Chính phủ nêu hai phương án, đưa ra trọng tài/ toà án để phân xử; Hoặc chủ đầu tư tự quyết toán theo quy định Thông tư 64 với trường hợp nhà thầu không quyết toán hợp đồng theo quy định hoặc không thực hiện các công việc để hoàn thành quyết toán. Với phương án phân xử thông qua trọng tài hoặc tòa án, các doanh nghiệp đã thuê tư vấn pháp lý. Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu hồ sơ, tư vấn khuyến cáo việc khởi kiện để xử lý tranh chấp hợp đồng EPC sẽ không thuận lợi và khả năng thắng kiện thấp, chi phí theo đuổi vụ kiện lớn. Thậm chí, chi phí chi trả tiền cho các nhà thầu khi thua kiện, cộng với theo đuổi vụ kiện sẽ cao hơn tổng số tiền đang tranh chấp trong hợp đồng EPC. Với phương án tự quyết toán, báo cáo Chính phủ nêu cũng không dễ thực hiện do còn tranh chấp nên hồ sơ thực tế không đầy đủ để lập quyết toán. Vì thế, Bộ Tài chính chủ trì cùng các cơ quan khác liên quan hướng dẫn chủ đầu tư tự quyết toán theo tình hình thực tế của các dự án hiện nay.

Cái gì tiếp theo – What comes next:

Để đón đầu cơ hội, theo ý kiến các chuyên gia, chính sách cần phải nhất quán, ổn định, lãnh đạo các cấp thực hiện đúng cam kết và ra các quyết định, quyết sách nhanh chóng hơn. Ngoài ra, các chuyên gia cũng mong muốn các địa phương sẵn sàng có mặt bằng sạch bàn giao ngay khi có yêu cầu, nhất là các khu công nghiệp. “Điều quan trọng là môi trường đầu tư của chúng ta thế nào và nguồn nhân lực ra sao“, các chuyên gia góp ý. Về phía cơ quan quản lý, Thủ Tướng khẳng định sẽ tạo môi trường tốt, chia sẻ cùng doanh nghiệp ở mọi khía cạnh chính sách tài khoá, tiền tệ, thị trường. “Không đổ qua lại, làm chậm mất thời gian kinh doanh của doanh nghiệp. Các cấp, ngành, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm xử lý nhanh những vướng mắc của doanh nghiệp“, ông lưu ý.

Sau 3 năm xử lý 12 dự án này, chỉ 2 dự án bắt đầu có lãi là Nhà máy sản xuất phân bón DAP số 1 Hải Phòng và Nhà máy thép Việt Trung. Năm 2018, DAP số 1 – Hải Phòng lãi 227,5 tỷ đồng, năm 2019 khoảng 6,3 tỷ; còn Nhà máy thép Việt – Trung lãi sau thuế năm 2018 là 397 tỷ đồng. Hai đơn vị khác giảm lỗ, một dự án vận hành trở lại sau thời gian dừng hoạt động (dự án Nhà máy sản xuất Xơ sợi Đình Vũ), còn lại 7 dự án vẫn thua lỗ, đầu tư dở dang, dừng hoạt động.

Dấu hiệu rủi ro – Risk signals:

Chuỗi cung ứng bị đảo lộn, nhưng khó bị xoá hay thay thế hoàn toàn. Nền kinh tế và mắt xích Trung Quốc lớn lắm, các bên đều cần nhau. Chuyện rút đi chắc chắn có và được đẩy mạnh, để tránh bị lệ thuộc, để đa dạng hoá thị trường cung ứng. Lần này, sẽ không chỉ đơn giản là Trung Quốc +1 mà còn hơn thế. Trung Quốc chắc chắn vẫn là một thị trường cung cấp lớn nhất. Nhưng sẽ hình thành các chuỗi khác song hành và xoay quanh các trung tâm lớn… Không quốc gia nào có thể hấp thụ được toàn bộ sự dịch chuyển từ thị trường 1,4 tỷ dân có quy mô kinh tế lớn thứ 2 thế giới, chiếm 20% thương mại toàn cầu. Có người nói đến Ấn Độ với dân số xấp xỉ, nhưng chưa chắc môi trường pháp lý, lực lượng lao động hay cơ sở sản xuất đã khớp được. Do vậy, không dễ để các doanh nghiệp phút chốc rời bỏ thị trường tỷ dân đang làm ăn tốt….” – trích lời Đại sứ Phạm Quang Vinh.

Vậy nên nói vẫn là dễ hơn làm… và giấc mơ nào cũng là giấc mộng Nam Kha…

xxx – npl

<Week 18 – 23/05/2020…>

“American, Japanese, and European companies withdrawing from China were governed by both political and security requirements, but how withdrawing was another problem. At the root of chains, globalization was the economic benefit, multinational companies went to places to find profits and efficiency … So in the past, American and European enterprises only had come to produce in other countries, including China …” – cited from Ambassador Pham Quang Vinh.

Main events:

Ending session on 22/5, US stocks almost unchanged compared to the previous day, when investors spent a week with strong momentum, optimism about potential vaccine testing and the US economy re-opening. Specifically, the S&P 500 increased by 0.2% to 2,955.45 points, while the Dow Jones industrial average index fell by 8.96 points, equivalent to less than 0.1%, to 24,465.16 points. Nasdaq Composite increased by 0.4% to 9,324.59 points.

At the Government’s Standing Committee meeting on the afternoon of May 22, Prime Minister Nguyen Xuan Phuc said that Vietnam needed to take advantage of the post-pandemic investment flows, with a focus on multinational, hi-tech corporations supply chains. But the way of attracting investment capital in the new situation also needed to “shift“, as he mentioned; therefore, the Prime Minister decided to set up a special working group and an working plan to attract FDI, to intercept the wave of shifting production to Vietnam after the pandemic.

In the report submitted to the National Assembly, the Government reported that of 12 projects with losses in industry and trade, 5 projects having disputes and problems with EPC (general main contractor). It were the projects of DAP fertilizer plant No. 2 in Lao Cai, the project of renovation and expansion of Ha Bac nitrogenous fertilizer factory, Ninh Binh fertilizer factory, Dung Quat shipbuilding industry factory and the project of product expansion, phase 2 of Thai Nguyen Iron and Steel Joint Stock Company. 12 projects with losses of Industry and Trade had a total initial investment of nearly VND 43,700 billion, after adjustment to over VND 63,610 billion (up nearly 46%). In which, equity was over 14,350 billion dong (about 23%), loan was over 47,451 billion dong (75%), the remaining was nearly 2.9% from other sources. Of the total borrowed funds, the amount from domestic banks was more than VND 41,801 billion, the rest came from government guarantee. Settlement of disputes, settlement of EPC contracts with Chinese contractors was the biggest difficulty when handling the projects of Industry and Trade losses.

Why is it affected:

This week, the Dow increased 3.3%, recording the strongest weekly gain since April 9. S&P 500 and Nasdaq also increased more than 3% this week. The Russell 2000 index, which tracks small-cap stocks, outperformed major indexes this week, with gains of more than 7%. News of a potential vaccine from Moderna helped Wall Street flourish this week, prompting Dow Jones to rise more than 900 points on Monday. Moderna said all 45 participants in the vaccine trial developed coronavirus antibodies. Reuters reported Friday, citing scientists participating in the program, the US is trying to conduct a vaccine test with more than 100,000 volunteers. The S&P 500 ended the week about 35% higher than the low on March 23.

We have to think about what investors need to discuss, cooperate, meet exactly what they need to develop successfully, to benefit both sides,” the Prime Minister said. Countries were competing fiercely, Vietnam had had to have competitive incentives. Attracting selective investment, targeting large multinational corporations, high-tech, modern and environmentally friendly. In order to achieve this goal, it was proposed to set up a special working group on attracting investment, intercepting the post-pandemic investment shift. At the meeting, the Prime Minister agreed with the proposal. At the same time, he requested to immediately build a project to attract shifting capital flows, which had had to address the bottlenecks of investors such as space, human resources.

In these losing and disputed projects, Chinese investors and contractors had not agreed on determining the settlement value due to changes in specifications, origins, the number of equipment compared to the contract signed and volume arisen out of the contract. In addition, the investor and contractor had not yet agreed on the payable taxes, fines for late tax payment of the contract; dispute over the cost of trial run. Actual settlement value did not match the signed EPC contract. The problems also stemmed from claims for prolonged technical service costs, expenses for maintenance and repair of equipment damage, expenses for waiting for instructions on equipment installation, and costs of re-designing and repairing the project had been constructed …

Key trends:

The optimism about vaccine testing was somewhat overshadowed when US-China tensions began to escalate again. On May 21, China “poured more fuel into the fire” by issuing a draft law on new national security measures to Hong Kong, after protests erupted last year. This bill would prohibit separatist acts, foreign intervention, terrorism and all activities aimed at overthrowing the central government as well as outside intervention in Hong Kong.

According to the Ministry of Planning and Investment, international corporations accelerated the process of diversifying investment locations and relocating their production facilities. In fact, over the past time, big investors had continuously expanded and implemented new projects. Vietnam had many opportunities to anticipate investment flows to reposition production of multinational companies, which was a potential destination in the policy of supply diversification. Therefore, it was necessary to select transfer projects in sectors with advanced technology, innovation, high added value and clean energy. The four areas that corporations tended to move into are information technology and high technology, electronics, e-commerce and logistics, consumer goods and retail.

The government said businesses had actively negotiated under direction but had not been successful. In this situation, the Government stated two options, brought to arbitration/ court to adjudicate; or, the investor made the final settlement according to Circular 64 in case the contractor did not finalize the contract as prescribed or did not perform the work to complete the settlement. With the option of arbitration through arbitration or court, businesses had hired legal advice. However, after studying the case, the consultant recommended that suing for EPC contract dispute resolution would be unfavorable and the possibility of winning the case was low, the cost of pursuing a big lawsuit. Even the cost of paying the contractor when losing the case, plus pursuing the lawsuit would be higher than the total amount in dispute in the EPC contract. With the self-settlement plan, the Government report mentioned was not easy to implement due to the dispute, so the actual dossier was not sufficient for making a settlement. Therefore, the Ministry of Finance would assume the prime responsibility and, together with other concerned agencies, guide the investors to make self-settlement according to the actual situation of current projects.

What comes next:

To take advantage of opportunities, in the opinion of experts, policies needed to be consistent, stable, leaders of all levels complied with commitments and made decisions and policies more quickly. In addition, experts also expected localities to be ready to have clean premises and hand over immediately when required, especially in industrial zones. “The important thing is how our investment environment and human resources are,” the experts commented. On the side of the regulator, the Prime Minister affirmed that he would create a good environment, sharing with businesses in all aspects of fiscal, monetary and market policies. “Not pouring back and forth, slowing down the business time of enterprises. All levels, branches and presidents of People’s Committees of provinces and cities are responsible for quickly handling problems of enterprises,” he noted.

After 3 years of dealing with these 12 projects, only 2 projects started to gain profits, namely DAP Fertilizer Plant No. 1 in Hai Phong and Viet Trung Steel Factory. In 2018, DAP No. 1 – Hai Phong gained VND 227.5 billion, in 2019 about VND 6.3 billion; and Vietnam – China Steel Factory profit after tax in 2018 was VND 397 billion. Two other units reduce losses, one project operates again after a period of downtime (the project of Dinh Vu Fiber Factory), the remaining 7 projects were still at a loss, investment was in progress and stopped operating.

Risk signals:

The supply chain was turned upside down, but it is difficult to erase or replace it completely. The Chinese economy and link chains are so big, all sides need each other. The withdrawal is inevitable and is accelerated, to avoid dependence, to diversify the supply market. This time, it will not be simply China +1 but more. China is undoubtedly still the largest supply market. But other chains will form in parallel and revolve around major centers … No country can absorb the entire shift from the market of 1.4 billion people with the second largest economic scale in the world, accounting for 20% of global trade. Some people talk about India with an approximate population, but it is not sure whether the legal environment, labor force, or manufacturing base is adequate. Therefore, it is not easy for businesses to leave the billion-dollar market doing business for a while …,” – quoted from Ambassador Pham Quang Vinh.

So it was easier to say than do … and every dream was a NanHe dream …

xxx – npl

Tuần – Week 11 – 16/05/2020…

  • For English version, please scroll down –

 “Bình thường cũ” và “bình thường mới”, đâu mới là “bình thường”

Các sự kiện chính – Main events:

Theo phân tích của Analysys Mason, các nhà khai thác viễn thông dự kiến sẽ chịu sự sụt giảm trung bình 3,4% doanh thu trong năm 2020 do những thách thức xuất phát từ đại dịch Covid-19. Công ty nghiên cứu này dự báo doanh thu viễn thông trên toàn thế giới sẽ giảm trong năm nay, nhưng lưu ý rằng điều này sẽ là trong ngắn hạn. Họ dự báo ngành này sẽ phục hồi 0,8% bắt đầu từ năm 2021. Trước khi đại dịch gây ra hậu quả kinh tế, Analysys Mason dự báo tăng trưởng doanh thu viễn thông toàn cầu là 0,7% vào năm 2020. Một loạt các “ông lớn” đang phải đối mặt với khó khăn: AT&T với mức giảm lên tới 4,6%; Deutsche Telekom tạm thời đóng cửa tất cả các cửa hàng tại Hà Lan và 80% các cửa hàng ở Mỹ; Verizon Communications mất 68.000 thuê bao điện thoại trả sau, con số mất thuê bao này nghiêm trọng hơn 54% so với cùng kỳ năm 2019 với gần 70% các điểm bán lẻ bị đóng cửa…

Bên cạnh đó, ảnh hưởng dịch không chỉ gây ra khó khăn đối mặt trực tiếp, nó còn tạo thêm nghịch cảnh như tại Mỹ: Hàng nghìn con lợn bị tiêu hủy mỗi ngày nhưng cả nước khan hiếm thịt lợn, giá tăng gấp đôi – một ví dụ sinh động miêu tả những thiệt hại mà chuỗi cung ứng thực phẩm của nước Mỹ phải gánh chịu từ đại dịch Covid-19.

Tại Việt Nam, dự báo tình hình với sự rà soát, tính toán các cân đối lớn; trên cơ sở đó, xây dựng các kịch bản “vực dậy” nền kinh tế để nền kinh tế sẵn sàng chuyển sang trạng thái hoạt động bình thường mới và các phương án, kế hoạch phục hồi ngay, phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững sau dịch, cụ thể hóa và chủ động tổ chức thực hiện trong từng ngành, lĩnh vực, địa phương, bao gồm các giải pháp ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Chính phủ dự kiến hai kịch bản tăng trưởng của Việt Nam năm 2020:

  • Kịch bản 1: Thời gian Việt Nam đã cơ bản khống chế và kiểm soát dịch từ nửa cuối tháng 4/2020 và các quốc gia là đối tác thương mại, đầu tư quan trọng với Việt Nam trong Quý III/2020, theo đó dự kiến GDP tăng khoảng 4,4-5,2% so với năm 2019 (thấp hơn 1,6-2,4 điểm phần trăm so với mục tiêu đề ra), trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tăng 2,5-2,8%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,7-7,9%, khu vực dịch vụ ước tăng 2,8-3,6%.
  • Kịch bản 2: Thời gian Việt Nam đã cơ bản khống chế và kiểm soát dịch từ nửa cuối tháng 4/2020 và các quốc gia là đối tác thương mại, đầu tư quan trọng với Việt Nam trong Quý IV/2020, theo đó dự kiến GDP tăng khoảng 3,6-4,4% so với năm 2019 (thấp hơn 2,4-3,2 điểm phần trăm so với mục tiêu đề ra), trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước tăng 2,1-2,5%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,8-6,7%, khu vực dịch vụ ước tăng 1,8-2,8%.

Tại sao nó ảnh hưởng – Why is it affected:

Những năm gần đây, các công ty viễn thông lớn đang chịu áp lực từ nhiều phía vì các ứng dụng nhắn tin OTT đang ảnh hưởng đến doanh thu thoại và SMS, dẫn đến cạnh tranh khốc liệt về giá và giảm tỷ suất lợi nhuận. Trong bảng xếp hạng 500 thương hiệu hàng đầu thế giới năm 2020 của Brand Finance, chỉ có 36 thương hiệu viễn thông, mà tới 80% thương hiệu bị giảm giá trị. Tồi tệ hơn, dịch Covid-19 bùng phát càng làm tăng thêm sức ép đối với các nhà khai thác viễn thông. Thay vì tăng lên thì lưu lượng truy cập data di động trên toàn thế giới lại có xu hướng giảm, vì mọi người sử dụng Wi-Fi tại nhà nhiều hơn là dữ liệu di động. Khi bị cách ly, mọi người cũng có xu hướng phụ thuộc nhiều hơn vào các OTT để liên lạc miễn phí, thay vì gọi hay nhắn tin thông thường. Mặc dù nhiều nhà phân tích tin rằng một khi vượt qua được đại dịch này, viễn thông sẽ là một trong số ít những ngành đứng vững với sự phát triển của cộng nghệ số, thì đó cũng không phải là con đường dễ dàng cho tất cả các doanh nghiệp trên thị trường. Giá cổ phiếu của các telcos đã được báo cáo giảm và các công ty chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là ở Trung Quốc…

Do dịch bệnh bùng phát, tại một số nhà máy chế biến thịt lợn lớn nhất cả nước và khiến các nhà máy này phải đóng cửa, số lượng những con lợn bị loại ra và không được làm thịt đang ở mức cao nhất trong lịch sử nước Mỹ. Hàng trăm nghìn con lợn đã quá lứa, và CoBank ước tính chỉ riêng trong quý này khoảng 7 triệu con có thể bị tiêu hủy. Con số đó tương đương khoảng 500.000 tấn thịt lợn không đến được tay người tiêu dùng. Một số trang trại ở Minnesota thậm chí đang sử dụng những chiếc máy băm gỗ để tiêu hủy những con lợn. Thịt lợn giờ đây được chế biến thành mọi thứ, từ gelatin đến vỏ xúc xích. Đằng sau sự lãng phí khủng khiếp này là hàng nghìn người nông dân đang bấu víu vào niềm hi vọng rằng những lò mổ sẽ sớm hoạt động trở lại và thu mua lợn trước khi những con lợn bị quá cân. Không ít người đã quyết định cắt lỗ và thu hẹp quy mô đàn lợn. Chuỗi cung ứng của ngành thịt lợn Mỹ được xây dựng theo tiêu chuẩn “just-in-time”, theo tiêu chuẩn này, các luồng nguyên vật liệu, hàng hóa và sản phẩm lưu hành trong quá trình sản xuất và phân phối được lập kế hoạch chi tiết nhất trong từng bước, không có hạng mục nào thừa thãi. Những con lợn đã trưởng thành và có thể giết thịt sẽ được chuyển từ trang trại đến các lò mổ, sau đó chỉ vài ngày một nhóm những con lợn “ít tuổi” hơn sẽ thay thế và quy trình cứ lặp lại như vậy.

Mô hình kinh tế của Việt Nam trong tương lai phải là nền kinh tế có năng lực phản ứng nhanh, chống chọi được với các cú sốc và linh hoạt thích ứng. Muốn đảm bảo các yêu cầu trên, tăng trưởng toàn diện, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh môi trường, an ninh xã hội sẽ là những yếu tố quan trọng, cần xem xét khi xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Mô hình tăng trưởng trong tương lai phải bảo đảm tính bền vững hơn, cần sự thay đổi trong mô hình sản xuất và tiêu dùng, đây được xem là cốt lõi của tất cả các hoạt động kinh tế; gia tăng nhu cầu mới về lao động, việc làm phù hợp với phương thức sản xuất kinh doanh và tình hình mới. Thị trường lao động trong thời gian tới sẽ có nhiều thay đổi, nhu cầu về các công việc liên quan đến công nghệ sẽ tăng cao. Xu thế làm việc từ xa sẽ được tiếp tục và tăng cường với lực đẩy chuyển đổi số.

Xu hướng chính – Key trends:

Analysys Mason cho rằng, các nhà khai thác viễn thông tại các nền kinh tế phát triển có thể bị ảnh hưởng nặng nề nhất, với dự báo thiệt hại doanh thu lên tới USD 40 tỷ/năm cho năm 2020 và 2021. Một công ty nghiên cứu khác – Juniper Research dự đoán, việc hạn chế đi lại nghiêm ngặt do đại dịch Covid-19 sẽ dẫn đến doanh thu chuyển vùng của ngành viễn thông giảm tới USD 25 tỷ trong 9 tháng tới. Cụ thể, hơn một nửa doanh thu chuyển vùng của tất cả các nhà khai thác trong năm 2020 sẽ bị ảnh hưởng, với khoản lỗ lên tới USD 12 tỷ tính riêng trong giai đoạn du lịch quốc tế thường cao điểm (giữa tháng 6 và tháng 8).

Hầu hết các nhà máy chế biến thịt lợn phải đóng cửa vì công nhân nhiễm bệnh đã mở cửa trở lại sau khi Tổng thống Donald Trump ban hành sắc lệnh yêu cầu họ mở cửa. Tuy nhiên, ngành này còn lâu mới có thể phục hồi về mức trước đại dịch do các quy định về cách ly xã hội và tình trạng thiếu nhân công. Kết quả là những quầy thịt trong các cửa hàng thực phẩm trên toàn nước Mỹ trống trơn và giá cả thì tăng vọt. Giá thịt lợn bán buôn ở Mỹ đã tăng gấp đôi kể từ tháng 4 đến nay. Giá bán lẻ cũng tăng 7,6% trong tháng 4, đánh dấu tháng tăng mạnh nhất kể từ năm 1998. Covid-19 quá trình này bị tắc nghẽn và những con lợn không được chuyển đến lò mổ. Khi 1 con lợn đạt đến cân nặng 150kg, nó trở nên quá to so với các thiết bị trong lò mổ và những miếng thịt được cắt ra cũng không vừa với những chiếc hộp trên dây chuyền.

Về xu hướng phát triển của Viêt Nam, báo cáo của Chính phủ nhận định: Quá trình chuyển đổi số sẽ được ưu tiên phát triển trên toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam, giúp cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đi vào đời sống nhanh, mạnh và có hiệu quả nhất. Tuy vậy, kinh tế số sẽ tạo ra luật chơi mới và yêu cầu các doanh nghiệp phải có sáng tạo, thích ứng nhanh nếu không muốn bị bỏ lại phía sau. Để ứng phó trước các tác động, Việt Nam đã phải linh hoạt điều chỉnh mục tiêu phát triển, đề ra các giải pháp đồng bộ, phù hợp, bảo đảm sự đồng thuận, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành.

Cái gì tiếp theo – What comes next:

Những người nông dân Mỹ hiện có rất ít lựa chọn trong việc tiêu hủy những con lợn. Một số dựng lên những container, bơm khí Co2 vào đó và coi đó là một cách nhẹ nhàng. Những biện pháp khác ít phổ biến hơn như dùng súng bắn hoặc làm chấn thương phần đầu. Tình trạng hiện nay đang biến người nông dân thành nạn nhân cả về tài chính và tinh thần. Quyết định giảm đàn có thể giúp các trang trại sống sót nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nhà sản xuất thịt và cả góc nhìn của công chúng về ngành thịt lợn đúng vào thời điểm giá lợn tăng cao và các siêu thị thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng.

Từ phân tích báo cáo, yêu cầu điều chỉnh mục tiêu của năm 2020 là cần thiết và phù hợp với tình hình thực tế khách quan, theo đó dự kiến những chỉ tiêu cần điều chỉnh là: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 4,5% (trước đây là 6,8%), nỗ lực phấn đấu đạt mức tăng cao hơn; trường hợp tình hình thế giới thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát tốt, thị trường quốc tế phục hồi, phấn đấu đạt mức tăng 5,4%, nhằm bảo đảm mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 5 năm giai đoạn 2016-2020 là 6,5%; tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân năm 2020 khoảng 4% (trước đây là dưới 4%); tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 4% (trước đây là khoảng 7%); tổng số thu ngân sách nhà nước giảm 163 nghìn tỷ đồng so với dự toán được giao; bội chi ngân sách nhà nước bằng khoảng 4,75% GDP (tăng 1,31% so với mục tiêu đề ra); tỷ lệ nợ công bằng khoảng 55,5% GDP (tăng 3,2% so với mục tiêu đề ra).

Dấu hiệu rủi ro – Risk signals:

Theo các chuyên gia, mỗi kg thịt lợn bán lẻ ở Việt Nam đến tay người tiêu dùng phải qua 6-7 khâu khiến giá đội lên khoảng 40%. Giá thịt lợn hơi trên thị trường dao động ở mức 75.000 – 90.000 đồng/kg, trong khi đó, giá bán lẻ trên thị tường là 140.000-180.000 đồng/kg. Nếu giá thịt lợn tiếp tục đứng ở mức cao như vậy sẽ là áp lực đối với lạm phát năm 2020. Riêng thịt lợn chiếm 4,2% trong “rổ” tính toán CPI hàng tháng.

Chuyện của Mỹ về con lợn tuy khác nhưng hệ lụy lại có vẻ không khác mấy mà chẳng biết Việt Nam có thấy có chút liên hệ nào chăng???

xxx – npl

 

<Week 11 – 16/05/2020…>

“Old normal” and “new normal “, what was the real “normal” …

Main events:

According to Analysys Mason’s analysis, telecom operators were expected to experience an average 3.4% decline in revenue in 2020 due to the challenges stemming from the Covid-19 pandemic. The research firm predicted worldwide telecom revenue would decline this year, but noted that this would be short term. They expected the industry to recover 0.8% starting in 2021. Before the pandemic caused economic consequences, Analysys Mason forecasted global telecom revenue growth of 0.7% by 2020. A series of “big companies” were facing difficulties: AT&T with a decrease of up to 4.6%; Deutsche Telekom temporarily closed all stores in the Netherlands and 80% of stores in the US; Verizon Communications lost 68,000 postpaid phone subscribers, this loss of subscribers was 54% more serious compared to the same period in 2019 with nearly 70% of retail outlets closed …

Besides, the epidemic impact not only caused direct difficulties, it also created more adversity like in the US: Thousands of pigs are culled every day but the whole country is short of pork, the price doubled – A vivid example depicted the losses suffered by the US food supply chain from the Covid-19 pandemic.

In Vietnam, forecasted the situation with the review and calculation of major balances; on that basis, developed “economic revitalization” scenarios so that the economy was ready to move into a new normal state of operation and plans, planned for immediate recovery, socio-economic development quickly and sustainably after the epidemic, concretized and proactively organized implementation in each sector, field and locality, including short-term, medium-term and long-term solutions. The Government envisaged two growth scenarios for Vietnam in 2020:

  • Scenario 1: Time that Vietnam had basically contained and controlled the epidemic since the second half of April 2020 and the countries were important trade and investment partners with Vietnam in the third quarter of 2020, accordingly The GDP growth rate was expected to be 4.4-5.2% compared to 2019 (1.6-2.4 percentage points lower than the set target), in which: agriculture, forestry and fishery were estimated by 2.5-2.8%, industry and construction by 6.7-7.9%, service sector by 2.8-3.6%.
  • Scenario 2: The time that Vietnam had basically contained and controlled the epidemic since the second half of April 2020 and the countries that were important trade and investment partners with Vietnam in the fourth quarter of 2020, accordingly The GDP growth rate was expected to increase by 3.6-4.4% compared to 2019 (2.4-3.2 percentage points lower than the set target), in which: agriculture, forestry and fishery were estimated up by 2.1-2.5%, industry and construction by 5.8-6.7%, service sector by 1.8-2.8%.

Tại sao nó ảnh hưởng – Why is it affected:

In recent years, large telecom companies were under pressure from multiple parties as OTT messaging applications were affecting voice and SMS revenue, leading to fierce price competition and reduced profit margins. In the ranking of the world’s top 500 brands in 2020 by Brand Finance, there were only 36 telecom brands, but up to 80% of brands are devalued. To make matters worse, the outbreak of Covid-19 further exerted additional pressure on telecom operators. Instead of increasing, worldwide mobile data traffic tended to decrease, because people use Wi-Fi at home rather than mobile data. When isolated, people also tended to rely more on OTTs for free communications, instead of calling or texting. Although many analysts believed that once this pandemic is overcome, telecommunications would be one of the few industries that would stand firm with the development of digital technology, which was not an easy path for all. businesses in the market. The stock prices of telcos had been reported to have dropped and the companies most affected would be in China …

Due to an outbreak of disease, at some of the largest pork processing plants in the country and causing these factories to close, the number of exclusion and non-meat pigs was at the highest level in US history. Hundreds of thousands of pigs were out of date, and CoBank estimated that only 7 million pigs could be destroyed this quarter alone. That figure was equivalent to about 500,000 tons of pork that did not reach consumers. Some farms in Minnesota were even using wood chippers to destroy the pigs. Pork was now processed into everything from gelatin to sausage skins. Behind this tremendous waste were thousands of farmers clinging to the hope that slaughterhouses would soon resume and buy pigs before pigs became overweight. Many people had decided to cut losses and reduce the size of the pigs. The US pork industry’s supply chain was built according to the “just-in-time” standard, according to this standard, the flow of raw materials, goods and products circulating during production and distribution was established. The most detailed plan in each step, there was no redundant item. Pigs that were already mature and could be slaughtered would be transferred from the farm to the slaughterhouse, then only a few days later a group of pigs “younger” would replace it and the process would repeat itself.

Vietnam’s future economic model had had to be one that had the capacity to respond quickly, withstand shocks and adaptive flexibility. In order to ensure the above requirements, comprehensive growth, food security, energy security, environmental security, social security would be important factors that needed to be considered while developing socio-economic development plans. Future growth models had had to ensure more sustainability, needed changes in production and consumption models, which was considered the core of all economic activities; increased the new demand for labor and employment in accordance with the new production method and the new situation. The labor market in the future would have many changes, the demand for technology-related jobs would increase. The trend of teleworking would continue and intensify with digital transformation thrust.

Key trends:

Analysys Mason said that telecom operators in developed economies might be hardest hit, with revenue lost forecast to reach USD 40 billion/year for 2020 and 2021. A company other research – Juniper Research predicted that the strict travel restriction caused by the Covid-19 pandemic would result in telecom industry’s roaming revenue dropping to USD 25 billion over the next 9 months. Specifically, more than half the roaming revenue of all operators in 2020 would be affected, with losses of up to USD 12 billion in the period of peak international tourism (between June and August).

Most pork processing plants were closed because infected workers reopened after President Donald Trump issued an edict requiring them to open. However, the industry was far from being able to recover to pre-pandemic levels due to regulations on social isolation and labor shortages. As a result, meat stalled in grocery stores across the US were empty and prices were skyrocketing. The wholesale price of pork in the US had doubled since April. Retail prices also increased by 7.6% in April, marking the biggest month since 1998. Covid-19 was clogged and the pigs were not delivered to the slaughterhouse. When a pig reached 150kg, it became too big for the abattoir equipment and the cut meat did not fit into the boxes on the chain.

Regarding the development trend of Vietnam, the Government’s report stated that: The digital transformation process would be given priority in developing globally, including Vietnam, helping the industrial revolution 4.0 come to life most quickly, powerfully and effectively. However, the digital economy would create new rules and required businesses to be creative, adapt quickly if they did not want to be left behind. In order to cope with the impacts, Vietnam had to flexibly adjust its development goals, propose consistent, appropriate solutions, ensuring consensus and close coordination between levels and branches.

What comes next:

American farmers now had only few options for slaughtering pigs. Some put up containers, pumped Co2 into it and took it lightly. Other less common methods were the use of a gun or a head injury. The current situation was turning the farmer into a victim both financially and mentally. The decision to reduce herds could help farms survive but seriously affect meat producers and the public’s view of the pork industry at a time when prices were high and supermarkets were in short supply seriously.

From the analysis of the report, the requirement to adjust the goals of 2020 was necessary and suitable to the objective reality situation, accordingly, it was expected that the targets needed to be adjusted are: Increased gross domestic product (GDP) about 4.5% (formerly 6.8%), striving to achieve higher growth rates; in case of favorable world situation, well-controlled epidemics, international market recovers, striving to achieve an increase of 5.4%, in order to ensure the goal of 5-year average GDP growth in the period 2016-2020. 6.5%; the average consumer price increase in 2020 would be about 4% (previously less than 4%); total exports increased by about 4% (previously about 7%); total state budget revenue decreased by VND 163 trillion compared to the assigned estimate; state budget deficit equaled to about 4.75% of GDP (increasing 1.31% compared to the set target); The fair debt ratio was about 55.5% of GDP (3.2% higher than the set target).

Risk signals:

According to experts, every kilogram of retail pork in Vietnam reached 6-7 stages, causing the price to rise by 40%. The price of live hog in the market fluctuated at VND 75,000 – 90,000/ kg, meanwhile, the retail price on the wall market was VND 140,000-180,000/ kg. If pork price continued to stand at such high level, it would be pressure on inflation in 2020. Particularly, pork accounted for 4.2% of the “basket” of monthly CPI calculation.

The story of the US about the pig was different but the implications did not seem very different but no one may not know if Vietnam would have any connection at all?

xxx – npl

Ngành giáo dục – Covid-19 ai sẽ “chiếu bí” đối thủ… Education sector – Covid-19 who would “checkmate” its opponent…

–             For English version, please scroll down –

 

Ngay cả với năng lực tấn công không biên giới của Virus, sức khỏe tinh thần luôn là giá trị quý giá nhất của con người trong cuộc sống… Nếu nó cũng bị tấn công theo cách như sức khỏe thể xác thì không còn có nơi nào an toàn để tránh né, vị Vua “điều khiển” này sẽ ở trong tình huống được gọi là “Chiếu tướng” – và con người sẽ thua ngay lập tức – gục ngã, nhanh hơn rất nhiều so với việc sức khỏe thể chất bị tổn  thương. Như vậy, dù dễ bị tổn thương, nhưng sức khỏe tinh thần lại có thể bảo đảm cho chiến thắng cuối cùng… nếu được chăm sóc và bảo vệ đúng mức…

Sự lây lan nhanh chóng ào lên như cơn bão của COVID-19 đã giải phóng những gì được coi là cú sốc lớn nhất đối với cuộc sống và sinh kế của chúng ta trong gần một thế kỷ. Hơn cả, COVID-19 là một cuộc khủng hoảng ví như loài người đang trong ván cờ mà lợi thế nghiêng về phía con Virus trên cả số đông lẫn tầm ảnh hưởng. Các tổ chức doanh nghiệp đều phải hứng chịu “nước bí” khi các nền kinh tế trên toàn cầu trượt dốc gần như ngưng trệ. Chính lúc này cũng là lúc xuất hiện những dấu hiệu của việc đổi mới vận hành kinh doanh sáng tạo, khi các tổ chức kinh doanh phải ứng phó với cuộc khủng hoảng đã ra các “nước đi” sáng tạo cần thiết. Họ đánh giá các giả định cũ chi phối cách thức vận hành kinh doanh, tư duy lại cách tương tác với cả khách hàng và nhân viên, tái lập lại chuỗi cung ứng linh hoạt hơn và định nghĩa rõ nét về quyền riêng tư và chia sẻ dữ liệu.

Khả năng sáng tạo những cách vận hành mới sẽ rất quan trọng để vượt qua khủng hoảng. Những người thành công sẽ nhanh chóng thiết lập “lối chơi mới” để ổn định hoạt động và xác định nền móng “bước đi” tiếp theo cho mô hình hành vi của người tiêu dùng và doanh nghiệp. Ở đó, chúng sẽ trở thành mô thức hoạt động trong những thập kỷ tới. Các công ty đặt mục tiêu vượt lên dẫn đầu nên bắt đầu với những câu hỏi cơ bản mà bản chất thứ hai của chúng thường làm rối các nhà hoạch định doanh nghiệp –  những người sẽ phải đảo ngược các giả định và tìm cách đổi mới trong không gian còn sót lại sau khi giả định lỗi thời bị loại bỏ. Các chuyên gia ý thức rằng cuộc khủng hoảng ở quy mô này sẽ mang lại sự dịch chuyển gây chấn động, thay đổi kỳ vọng của tổ chức và tạo ra những vận hội mới. Họ phải xây dựng các giải pháp mới để vừa giúp giải quyết hậu quả khủng hoảng vừa định hình lại các ngành công nghiệp. Không thể quay trở lại cách mọi thứ đã diễn ra, mục tiêu bây giờ là xác định lại “trạng thái ở điều kiện bình thường” tốt nhất để hướng tới sau khi khủng hoảng lắng xuống…

Những hạn chế và quy định gắt gao do cuộc khủng hoảng COVID-19 mang lại đã nhanh chóng đẩy các tổ chức vào những thách thức mà họ chưa bao giờ có thể hình dung được. Nhiều người đã phải tự thay đổi để thích nghi với việc vận hành từ xa gần như chỉ sau một đêm, hoàn thành các chuyển đổi kỹ thuật số trong vài ngày tới vài tuần thay vì vài tháng hoặc nhiều năm và ra mắt các sản phẩm dịch vụ mới chỉ trong vài ngày. Người ta dần nhận thấy rằng cuộc khủng hoảng COVID-19 sẽ là giai đoạn “thay máu” tái lập và cấu trúc lại các mô hình vận hành và kinh doanh một cách đáng kể…

Bốn phương thức cốt lõi có thể dựa vào trong quá trình ứng phó khủng khoảng và tái lập vận hành:

  • Hỗ trợ từ lớp/đơn vị quản lý cấp trên. Xây dựng tổ chức/ doanh nghiệp thành công đòi hỏi sự hỗ trợ thường xuyên và hữu hình từ lãnh đạo [đơn vị] cấp trên. Nghiên cứu cho thấy rằng hỗ trợ điều hành và liên kết là một trong hai yếu tố được viện dẫn nhiều nhất ảnh hưởng đến sự thành công của một doanh nghiệp.
  • Tiếp cận thế mạnh từ công ty/đơn vị quản lý cấp trên. Những nhà quản lý xây dựng tổ chức/ doanh nghiệp thành công hiểu được những thế mạnh hiện có của họ và có thể áp dụng chúng cho mô hình mới.
  • Giả định kiểm tra sức bền. Các nhóm quản trị thường đánh giá quá cao triển vọng thành công của họ. Để chống lại sự thiên kiến đó, các nhà xây dựng doanh nghiệp liên tục kiểm tra sức bền – khả năng chịu đựng của tổ chức và tái xác nhận các giả định quan trọng. Điều này đặc biệt đúng đối với các giả định về đề xuất giá trị cần được kiểm chứng trực tiếp với khách hàng và bao gồm các giả định kinh doanh như chi phí vận hành và quy mô thị trường.
  • Xây dựng đội ngũ chuyên biệt. Nhiều công ty thành công nhất trên thế giới là tập hợp của những nhà quản trị xây dựng doanh nghiệp nối tiếp nhau. Họ có thể tái tạo thành công bằng cách xây dựng các nhóm chuyên trách có thể đánh giá các ý tưởng, xác định các nhà lãnh đạo, cung cấp chuyên môn và hỗ trợ các sáng kiến ​​mới.

Các cách thức được đề cập xuất hiện trong thời điểm quan trọng, khi các tổ chức tìm thấy những phương pháp mới đột phá để giúp bảo vệ cuộc sống và sinh kế trong bối cảnh khủng khoảng như dịch COVID-19 bùng phát. Tuy nhiên, một khi một giả định được kiểm chứng, sẽ không có khả năng tự tái lập; ngay cả sau khi cuộc khủng hoảng ban đầu qua đi, khi các nhân viên đã “quen” với giải pháp thay thế “lối sống” công sở truyền thống, họ sẽ thấy rằng họ có thể làm việc ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào để hoàn tất nhiệm vụ. Cũng giống như các công ty được cho là tốt nhất sẽ vẫn tiếp tục tìm kiếm tài năng, bất kể họ đang ở đâu; hay các nhà bán lẻ sẽ tiếp tục tìm cách nhân tính hóa trải nghiệm kỹ thuật số.

Giáo dục được coi là một ngành công nghiệp; liệu,

học hỏi từ các nhà quản trị đổi mới và các nhà xây dựng doanh nghiệp có là nền tảng cơ bản không chỉ để phục hồi sau cuộc khủng hoảng này mà còn để luôn tự làm mới – áp dụng một chu trình quản trị lặp đi lặp lại. Các tổ chức thích ứng với các nguyên mẫu nổi lên từ cuộc khủng hoảng này sẽ tiếp tục lật ngược các giả định để tìm kiếm các cơ hội mới xuất hiện [từ trong cuộc khủng hoảng này] với khả năng phục hồi lớn nhất và với cơ hội lớn hơn để định vị một tương lai được “tưởng tượng” lại. Vậy tổ chức giáo dục [của chúng ta] đã sẵn sàng bước vào thử thách?

Hiển nhiên,

việc lý giải tầm quan trọng của một sự kiện khó hơn là việc kể lại chúng. Thiết nghĩ rằng chúng ta đang xem xét một sự phá vỡ cấu trúc của một định nghĩa kinh tế lượng đã thành quá khứ, trong đó nó biểu thị thời điểm trong dữ liệu chuỗi thời gian khi xu hướng và mô hình liên kết giữa các biến thay đổi…

Một cuộc khủng hoảng thường là một dấu hiệu cho thấy mô hình vận hành hoặc kinh doanh của tổ chức, cấu trúc cơ bản của ngành [công nghiệp cụ thể nào đó] đã thay đổi đáng kể, vì vậy những cách thức vận hành/ kinh doanh cũ không còn hiệu quả nữa. Ví như: ngành giáo dục đang khủng hoảng khi giãn cách xã hội, một cách đột ngột, Internet trở thành “cứu cánh” trong bối cảnh đó; nhưng việc thực hiện cung cấp “dịch vụ” giáo dục thông qua kênh truyền dẫn mới này còn là điều mới mẻ, các tương tác cũng như hành vi cần phải được điều chỉnh trong khó khăn, không chỉ là việc kiếm tiền từ nó. Nguyên tắc tương tự áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế.

Phá vỡ cấu trúc làm cho nhiều mô hình hành vi hiện có thay đổi hoặc biến mất, nhưng việc đó đơn giản là định hướng lại cũng như thích nghi với tình hình mới, tương tự ngay cả đối với toàn bộ nền kinh tế. Sự phá vỡ và thời điểm khó khăn là những dấu hiệu chắc chắn cho thấy một mô hình cũ đã được đẩy đến giới hạn và giá trị của chính nó đang bị phá hủy…

Nói chung, không có cái gọi là công thức kỳ diệu – “cây đũa thần”: cải cách một tổ chức/ doanh nghiệp luôn đòi hỏi có cái nhìn sâu sắc và trí tưởng tượng… Hơn cả, nhiệm vụ đầu tiên là hiểu cách một tổ chức, một ngành tồn tại, cạnh tranh và kiếm tiền trong quá khứ; nhất là khi đó là giáo dục, một ngành liên quan trực tiếp tới tương lai và bản thân  con người; ngành mà đòi hỏi trải qua quá trình đúc kết tích lũy và điều chỉnh song hành với thay đổi phát triển của xã hội…

Trải qua các biến cố lịch sử qua các thời kỳ: thời tiền sử, thời trước Bắc thuộc, thời Bắc thuộc, thời độc lập trung đại và cận đại, thời kỳ Pháp thuộc và thời độc lập hiện đại, nền giáo dục Việt Nam đã phải hứng chịu và đương đầu với các tác động là kết quả của sự xâm lược và đồng hóa từ bên ngoài trong thời gian dài, đã đặt ra câu hỏi lớn trong việc bảo tồn truyền thống dân tộc và việc giao thoa văn hóa của các trào lưu văn minh nhân loại trong quá trình hình thành một nền giáo dục của riêng mình. Chia thành các giai đoạn:

Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945

Sự ra đời và sử dụng rộng rãi chữ quốc ngữ theo bảng chữ La tinh trong nhà trường từ cuối năm 1919 đã báo hiệu sự chấm dứt nền cựu học truyền thống Nho giáo để thay thế bằng hệ thống tân học của chính quyền Pháp thuộc. Cũng trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trào lưu giáo dục Duy Tân yêu nước của Phan Bội Châu, Lương Văn Can đã khởi xướng cho khuynh hướng thực học, sử dụng chữ quốc ngữ trong dạy và học, tiếp cận với các khoa học tự nhiên và kỹ nghệ, từ bỏ lối khoa cử.

Giai đoạn 1945-1954

Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Cùng với việc xóa nạn mù chữ (bình dân học vụ), Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có những chủ trương cải tổ và xây dựng bước đầu đối với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc gia. Năm 1950, Trung ương Đảng và Chính phủ đã quyết định tiến hành cuộc cải cách giáo dục thực hiện hệ thống trường phổ thông 9 năm và chương trình giảng dạy mới và thực hiện giảng dạy bằng tiếng Việt.

Giai đoạn 1954-1975

Giữa năm 1954, cơ quan Bộ Giáo dục chuyển từ xã Yên Nguyên, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang về huyện Đại Từ, Thái Nguyên để về Hà Nội, cùng lúc đã có chỉ đạo các trường trực thuộc và các địa phương có vùng mới giải phóng chuẩn bị các điều kiện cần thiết để nhanh chóng phục hồi trường lớp. Nhiều công việc đã được chú trọng triển khai thực hiện: mở các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc để đón nhận các em học sinh miền Nam ra Bắc học tập; cải cách giáo dục năm 1956 đã đặt cơ sở cho việc hình thành Hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm gồm 3 cấp học. Hệ thống trường bổ túc công nông, trường phổ thông lao động được phát triển mạnh.

Giai đoạn 1975-1986

Trong thời kỳ này cũng đánh dấu việc mở rộng quan hệ hợp tác, cũng như chịu ảnh hưởng trong giáo dục đào tạo với Liên Xô, các nước XHCN ở Đông Âu thông qua các lớp lưu học sinh…

Giai đoạn 1986-1995:

Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12/1986  đã mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam. Chủ trương của ngành trong thời kỳ này là đa dạng hóa các loại hình trường, lớp, các hình thức đào tạo, quy chế các trường, lớp dân lập, tư thục đã được ban hành. Năm 1990 Chính phủ quyết định thành lập Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở sáp nhập Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề. Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý thống nhất hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến giáo dục đại học và sau đại học.

Giai đoạn 1996 đến nay:

Trong hội nghị lần thứ 6 của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa XI họp vào tháng 10 năm 2012 để thảo luận về cải tổ giáo dục, Tiến sĩ Hoàng Tụy, một nhà giáo và nhà toán học quốc tế đã phát biểu: “Giáo dục của ta đang lạc điệu không giống ai, sự «không giống ai» nầy đôi khi chúng ta tự coi là bản sắc độc đáo để tự hào và cố gìn giữ. Sự lạc hướng, lạc điệu nầy nhìn từ gốc vấn đề tức là từ triết lý giáo dục, tư duy, quan niệm cơ bản về mục tiêu đường lối, cung cách làm giáo dục. Nói cách khác, nhà trường không thể chỉ dạy chữ, dạy kiến thức mà còn phải dạy làm người…” Cũng trong buổi hội thảo này, bà Nguyễn thị Bình, nguyên Phó Chủ Tịch nước, một trong số thành viên của Phong Trào Giải Phóng Miền Nam đã nhận xét: “Giáo dục VN đi ngược quy luật và GS Nguyễn Xuân Hãn, Ủy Viên Hội Đồng Giáo Dục Quốc Gia đã nói rõ hơn một tác hại trầm trọng của chánh sách giáo dục: Chương trình và sách giáo khoa hiện nay có hại cho học sinh.” (trích Hoàng Tụy. Giáo dục của ta đang lạc điệu /giaoduc.net.vn ngày 01/10/2012)

Nhìn chung những nhận xét đó cũng phản ánh quan điểm chung khi nền giáo dục còn chưa định nghĩa được cơ sở nền tảng với “triết lý giáo dục”, dẫn tới: chương trình cấp tiểu học không phù hợp với lớp tuổi, ở bậc trung học quá nặng lý thuyết nhưng chỗ dư chỗ thiếu, và ở bậc đại học xa rời với thực tế, kiến thức lạc hậu, không theo kịp tiến bộ công nghệ kỹ thuật thế giới. Hậu quả là sách giáo khoa cấp trung tiểu học soạn thảo bừa bãi, nội dung thiên lệch; và sách giáo khoa bậc đại học yếu kém về lượng lẫn chất. Các môn học không có sự kết nối liên tục hài hòa từ cấp nầy đến cấp khác theo một thể thống nhất bởi lẽ chương trình cho các cấp không được soạn thảo một cách hàn lâm, không có một  hội đồng chuyên môn chủ biên thống nhất để có một cái nhìn tổng thể từ lớp 1 đến lớp 12, không chuẩn hóa được quan điểm giáo dục giữa các nhà biên soạn chương trình, trong khi đa phần họ là cán bộ thiểu năng chuyên môn – những Phó Giáo sư Tiến sĩ Bùi Hiền – người đề xuất “Luật giáo dục” thành “Luật záo zụk” đầy tai tiếng; nhưng, thừa nhiệt tình tập trung vào giáo dục tư tưởng chính trị. Ngoài những cải cách được công bố chính thức, chương trình thường bị cắt xén tùy tiện, như chương trình bậc tiểu học gồm tới 4 chương trình khác nhau (chương trình 165 tuần, 120 tuần, 100 tuần, chương trình công nghệ giáo dục) cho mãi tới năm 2002 mới được nhập lại thành một chương trình tiểu học.

Không có một quốc gia nào có một chương trình học thiếu ổn định với những thay đổi hàng năm, rắc rối, đầu voi đuôi chuột như cấu trúc chương trình học, sách giáo khoa và tổ chức thi cử tạp nhạp như ở Việt Nam. Trải qua cải tổ này đến cải cách khác, giáo viên và học sinh hoang mang vì không biết dạy cái gì như thế nào, học cái gì, thi cái gì; những sản phẩm quái thai như giải toán bằng đặt biến ngay từ cấp bậc tiểu học, rồi tới “vuông tròn tam giác”, hay CVNSS 4.0 – tiếng Việt không dấu ra đời dưới cái mác “đổi mới”. Trong cái hỗn loạn của thi cử, tham nhũng đã lên ngôi, văn bằng trở nên “vô giá [trị]” và là nỗi ám ảnh kinh hoàng của cả đất nước vốn có truyền thống hiếu học, nơi mà người dân dù còn khó khăn, nghèo đói nhưng vẫn dành 20-30% thu nhập cho việc giáo dục của con em mình.

Những vấn nạn này rất cần được nhận thức sâu sắc và đầy đủ, vì nó đã và đang tác động trực tiếp và gián tiếp đến nhiều thế hệ học sinh – tương lai của một xã hội, một đất nước, cũng như nền giáo dục Việt Nam nói chung; trong khi nước ta đang còn tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực, thì chúng – những vấn nạn này, còn kéo chúng ta lùi thêm một bậc; thiếu hụt nhân công kỹ thuật, nhân công có trình độ trở nên thách thức đối với nhiều nhà đầu tư khiến họ phải thay đổi quyết định đầu tư sang các nước khác như Ấn Độ, Malaysia hay Philipines. Việt Nam đã gia nhập WTO và thực hiện Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ thế giới GATS, trong đó thừa nhận giáo dục là một lĩnh vực dịch vụ khả mại và từng bước đẩy mạnh hợp tác quốc tế và mở cửa thị trường dịch vụ giáo dục (theo cam kết)…

Mùa dịch,

trong báo cáo đánh giá tác động của Covid-19 đến nền kinh tế và các khuyến nghị chính sách thực hiện bởi Trường ĐH Kinh tế quốc dân, dịch vụ giáo dục có mức suy giảm kinh tế lớn nhất so với tất cả lĩnh vực. Kịch bản hết dịch vào tháng 4 sẽ suy giảm 35% với chuyển đổi học qua mạng; nếu dịch kéo dài đến hết tháng 6, mức suy giảm có thể lên tới 60% (dẫn đầu trong các lĩnh vực) và buộc phải tái cơ cấu ngành. Điều này cho thấy tính dễ bị tổn thương và khó phục hồi của lĩnh vực giáo dục, đòi hỏi chính sách hỗ trợ công phù hợp.

Theo ước tính, riêng chi phí lương cho 103.863 cán bộ quản lý, giáo viên ngoài công lập theo mức lương bình quân tối thiểu vùng đã là VND 400 tỷ/ tháng; chi phí thuê mặt bằng của 3.702 cơ sở giáo dục ngoài công lập  từ mầm non, tiểu học, THCS, THPT đến cao đẳng sư phạm, đại học cũng lên tới VND 450-500 tỷ đồng/ tháng. Ngoài ra, chưa tính tới các chi phí cho công tác tiêu độc, khử trùng, phòng chống dịch bệnh trong nhiều tháng qua và các chi phí khác còn chưa được thống kê hết… Rõ ràng đại dịch là một thử thách lớn, nhưng qua đây, các nhà xuất bản, trường và tổ chức sư phạm phối hợp với các sở GD-ĐT địa phương tăng cường hình thức bồi dưỡng giáo viên từ xa và đẩy mạnh việc tự học, tự nghiên cứu của giáo viên…

Trên thế giới, theo ước tính của UNESCO, đến ngày 24/03/2020, ít nhất có 138 nước đã áp dụng lệnh đóng cửa trường trên toàn quốc, ảnh hưởng tới 80% học sinh toàn cầu (khoảng 1,3 tỉ em). Vì vậy, các nước đã tập trung vào giải pháp học trực tuyến và truyền hình. Các nước như Trung Quốc, Nga, Argentina, Mexico, Hàn Quốc, Canada, Pháp, Anh, Mỹ,… đã đang đẩy mạnh dạy học trực tuyến.

Ở Việt Nam, việc dạy học trực tuyến đã được đề xuất từ lâu nhưng chưa có tỉnh, thành phố nào thực hiện được. Qua dịch Covid-19, tất cả 63 tỉnh, thành phố đều nỗ lực tổ chức giảng dạy qua truyền hình hoặc giảng dạy trực tuyến. Như vậy, đại dịch này cũng là cơ hội để giáo dục và đào tạo nước ta triển khai dạy học trực tuyến ở nhiều cấp học từ trường đại học xuống phổ thông, nhất là giảng dạy cho học sinh cấp 3 PTTH, tập trung vào lớp 9 và lớp 12. Tuy nhiên, việc học trực tuyến cũng bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục như không đảm bảo tính bình đẳng, vì còn nhiều học sinh chưa có máy tính và mạng internet ở nhà khiến học sinh trong gia đình có thu nhập thấp gặp bất lợi hơn so với các bạn đồng lứa có điều kiện hơn – nhóm học sinh này không có không gian học tập phù hợp, không có đủ trang thiết bị để học trực tuyến cũng như dễ gặp một số vấn đề tâm lý, nhất là khi đối mặt với thách thức của các kỳ thi; ngoài ra, học sinh chưa thực sự chủ động trong học tập, thậm chí một số học sinh đã để tên tài khoản (ID) và mật khẩu công khai trên mạng xã hội để một số đối tượng xấu vào lớp học để quậy phá. Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra việc đóng cửa trường học làm tăng nguy cơ xã hội, các bé gái dễ trở thành đối tượng bị bạo hành, lạm dụng thể xác.

Như vậy, tổng quát, đại dịch COVID-19 không chỉ là một cuộc khủng hoảng sức khỏe, mà còn là một cuộc khủng hoảng an ninh của loài người – tước đi sự tự do khỏi sự sợ hãi, tự do khỏi sự mơ ước và tự do sống với nhân phẩm. Đại dịch đòi hỏi một cách tiếp cận về nhu cầu [an ninh] mới của loài người về bảo vệ và trao quyền con người toàn diện. Lựa chọn duy nhất là hợp tác để xây dựng một phản ứng phối hợp toàn cầu thống nhất và từng khu vực. Bởi vậy, trước cuộc khủng hoảng kinh tế và nhân đạo toàn cầu, COVID-19 đã buộc các cá nhân và tổ chức/ doanh nghiệp phải nhanh chóng thay đổi cách sống, vận hành và làm việc. Nhiều yếu tố của kinh doanh và cuộc sống đang bị thách thức; có lẽ, sự quay trở về “trạng thái bình thường” tiếp theo có thể trông rất khác khi những phương thức làm việc mới được đưa áp dụng. Các tổ chức nói chung đang cố gắng hết sức vượt qua đại dịch này từ: (1) việc đảm bảo ứng phó khủng hoảng hiệu quả, (2) để quản lý sự gián đoạn chuỗi cung ứng, (3)để bảo vệ an toàn cho nhân viên của họ bằng cách điều chỉnh các hoạt động làm việc hàng ngày.

Cụ thể trong ngành giáo dục, báo cáo của hai tác giả Gwang-Chol Chang và Satoko Yano thuộc bộ phận chính sách giáo dục của UNESCO chia sẻ; các nước bị ảnh hưởng dịch đều đang nỗ lực triển khai các biện pháp nhằm giải quyết những thách thức trước mắt:

Trước hết, các nước tập trung vào các giải pháp nhằm duy trì tính liên tục của chương trình học. Với nhiều nước, đây thậm chí là ưu tiên số 1. Các nước đều đưa vào triển khai hoặc nâng cấp quy mô giảng dạy từ xa trên cơ sở tận dụng nhiều phương tiện công nghệ. Hầu hết các nước dùng phương tiện mạng Internet, cung cấp các nền tảng học online như Argentina, Croatia, Trung Quốc, Cyprus, Ai Cập, Pháp, Hi Lạp, Ý, Nhật, Mexico, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc, Saudi Arabia, UAE và Mỹ. Bên cạnh đó,

nhiều nước cũng chọn cách phổ biến bài giảng diện rộng qua truyền hình hoặc các phương tiện truyền thông khác như Argentina, Croatia, Trung Quốc, Costa Rica, Pháp, Iran, Hàn Quốc, Mexico, Rwanda, Saudi Arabia, Senegal, Tây Ban Nha, Peru, và Thái Lan. Saudi Arabia thậm chí còn dùng tài khoản Twitter chính thức của Bộ Giáo dục và đào tạo để phổ cập thông tin về việc học trực tuyến.

Thứ hai, điều chỉnh lịch học, lịch thi là một ưu tiên quan trọng không kém. Việc đóng cửa trường học kéo dài đã và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới lịch học tại nhiều nước. Trong nhiều trường hợp, điều này cũng gây ảnh hưởng tới cả thời gian tổ chức kỳ thi tuyển đầu vào đại học ở nhiều nơi. Nhiều quốc gia đã phải sắp xếp lại kế hoạch các kỳ thi và đánh giá chất lượng với mọi cấp học, trong đó có cả các trường đại học. Trong số đó có Chile, Trung Quốc, Pháp, Nhật, và Tây Ban Nha. Đặc biệt, Trung Quốc đã cho học sinh làm một số kỳ thi online… Hay khi ngày thi không thể thay đổi, nhiều nước cũng phải có những chính sách thu xếp đặc biệt (như giới hạn số thí sinh có thể làm bài cùng lúc) để đảm bảo an toàn sức khỏe cho các thí sinh. Nhật Bản và Thái Lan đang thực hiện cách này.

Riêng, Vương quốc Anh đã hủy kỳ thi GCSE (chứng chỉ giáo dục trung học phổ thông) và kỳ thi A-level (chứng chỉ giáo dục phổ thông bậc cao); Hội đồng Giáo dục trung học (CBSE) của Ấn Độ cũng đã hủy các kỳ thi lớp 10 và lớp 12; Australia hủy Chương trình đánh giá quốc gia về năng lực ngôn ngữ và số học (NAPLAN) năm nay. Bang Pennsylvania (Mỹ) sẽ hủy kỳ thi PSSA/Keystone…

Không chỉ chuyện học hành, thi cử, nhiều nước cũng đã chú ý tới những biện pháp giúp trẻ vượt qua sự bất ổn về cảm xúc khi buộc phải tạm xa thầy cô, bạn bè trong một thời gian dài. Nhiều nước (Thái Lan) đã sử dụng các ứng dụng liên lạc online như WhatsApp để giúp học sinh và thầy cô duy trì trao đổi. Các lớp học online cũng tạo cơ hội để các em có những tương tác xã hội, dù là qua mạng. Tại nhiều nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Ban Nha và Mỹ còn có thêm các chuyên gia hỗ trợ tâm lý cho những em cần giúp đỡ. Trong đó có cả đường dây nóng 24 giờ và những cuộc gọi giám sát để giúp trẻ tránh được cảm giác cô độc. Cụ thể, tại Trung Quốc, nhà chức trách đã cung cấp hỗ trợ trực tuyến kỹ năng sư phạm cho phụ huynh/người chăm sóc. Dù gánh chịu thiệt hại nặng nề, Ý cũng cung cấp các khóa học online giúp cha mẹ biết cách quản lý con cái trong môi trường bị hạn chế. Tây Ban Nha xây dựng những nền tảng liên lạc và các ứng dụng giúp phụ huynh và giáo viên chia sẻ, cùng xây dựng quá trình học tập cho con. Một số nước như Guatemala cung cấp các hướng dẫn giảng dạy và tài liệu học tập cho cha mẹ/người chăm sóc để đảm bảo việc học ở nhà của trẻ được liên tục…

Để đáp ứng như cầu giáo dục cấp thiết trong bối cảnh đại dịch bùng phát, bên cạnh những điều chỉnh có tính chất xã hội như vậy, các tổ chức giáo dục hay đơn vị kinh doanh nói chung cũng cần xây dựng phương án vận hành để kịp thời ứng phó khủng khoảng vượt qua đại dịch; không chỉ từ việc thống nhất và xây dựng chuẩn hóa giáo trình sách giáo khoa, chương trình học mà còn cần chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, phương pháp giáo dục và hơn cả là triết lý và mục tiêu giáo dục… – xây dựng nền tảng cốt lõi thay vì tập trung duy nhất vào phương tiện, vốn chỉ có tính chất đối phó thời điểm với dịch bệnh; ngoài ra, truyền hình, trực tuyến hay kỹ thuật số nói chung cũng cần nghiên cứu không chỉ về phương tiện mà cả về cơ sở hạ tầng hỗ trợ mặt bằng xã hội thay vì chạy theo xu hướng: tương tác trực tuyến, công nghệ 4.0 hay vạn vật internet (IoT)… ngay như ở cả nước tiên tiến, vẫn cần có sự phân lớp phân tầng để hài hòa mục đích giáo dục phổ cập xã hội cũng như các chi phí đầu tư; xét cho cùng, các tổ chức giáo dục cũng vẫn là tổ chức cung cấp dịch vụ khả mại, đặc biệt khối ngoài công lập:

Giảm thiểu rủi ro bằng cách giảm tương tác vật lý. Trách nhiệm xã hội đầu tiên ứng phó một đại dịch ở quy mô như Covid-19 là loại bỏ các nguy cơ lây lan virus, đặc biệt từ nhóm người có nguy cơ cao nhất. Các tổ chức giảm thiểu rủi ro lây nhiễm giảm thiểu hoạt động ở các nhiệm vụ thiết yếu, đặc biệt khi có liên quan đến các nhóm dễ bị tổn thương – trẻ em.

Tích cực đóng góp cho sự an toàn bằng cách đổi mới danh mục sản phẩm dịch vụ. Các tổ chức nên tự hỏi hai câu hỏi chung quan trọng:

  • Chúng ta có một sản phẩm mà thế giới cần ngay bây giờ không? Hoặc,
  • Chúng ta có thể nhanh chóng thích ứng danh mục sản phẩm của mình để cung cấp khi cần thiết khẩn cấp?

Theo đuổi phương pháp này, các tổ chức có thể sử dụng thế mạnh của mình để cung cấp các sản phẩm thiết yếu xã hội, ngay cả khi những hàng hóa đó nằm ngoài khả năng cung cấp sản phẩm hiện tại của một nhà sản xuất đơn lẻ. Ví dụ, một số nhà máy chưng cất đang sử dụng nguồn cung cấp ethanol của họ để cung cấp nguyên liệu cho chất khử trùng tay thông qua quan hệ đối tác với các nhà máy lọc dầu; các tổ chức cũng đang đẩy mạnh để đáp ứng nhu cầu về nhiều thiết bị y tế và thiết bị bảo vệ cá nhân; các nhà sản xuất trang phục đang điều chỉnh với việc giảm doanh số bằng cách sản xuất hàng ngàn mặt khẩu trang cần thiết; một số tổ chức sản xuất ô tô như GE, Tesla hay Vinfast đang chuyển sản xuất sang sản xuất máy thở; các tổ chức giáo dục sản xuất nghiên cứu chương trình và phương pháp giảng dạy và xây dựng trung tâm chăm sóc sức khỏe tinh thần cho các em học sinh từ xa…

Cung cấp trợ giúp thực tế cho khách hàng khi gặp khó khăn về tài chính. Một khi khách hàng đã đảm bảo an toàn cá nhân, mối quan tâm tiếp theo của họ thường là tài chính. Khi các tổ chức buộc phải giảm hoạt động trong một khoảng thời gian không chắc chắn, các cá nhân và hàng triệu chủ đơn vị kinh doanh/ doanh nghiệp nhỏ phải đối mặt với các vấn đề về thu nhập và thanh khoản lớn. Cung cấp các giải pháp linh hoạt khi đối phó với các thách thức tài chính giờ đây vừa là trách nhiệm vừa là động lực tin cậy rất lớn cho các tổ chức [lớn]: các tổ chức tài chính không xử phạt những khách hàng không thể đáp ứng nghĩa vụ thanh toán trong thời gian dịch; nhà mạng không chấm dứt dịch vụ hoặc thực thi phí thanh toán trễ cho khách hàng gặp khó khăn thêm 60 ngày; và, các nhà cung cấp năng lượng sẽ không cắt điện; trong một số trường hợp, họ thậm chí còn kết nối lại các khách hàng có dịch vụ đã bị cắt trước khủng hoảng; tương tự, học phí và những chi phí giáo dục đã thực thu thực trả cũng là vấn đề cần xem xét…

Mang lại niềm vui và hỗ trợ nhu cầu tinh thần tình cảm của khách hàng đang chịu cách ly tại nhà. Nhiều người buộc phải ở nhà, và trải nghiệm tất cả những mối vấn đề đi kèm với nghĩa vụ phải làm như vậy. Các tổ chức đang hành động để sao cho “cuộc sống ở nhà” trở nên thú vị hơn và cũng để đảm bảo hạnh phúc và an toàn của khách hàng của họ. Các gia đình phải giải trí cho con cái họ ở nhà trong nhiều tuần tới, làm cho việc truy cập vào nội dung trực tuyến dù là học, làm việc hay giải trí là một nhu cầu thực sự cơ bản. Nhà mạng đang cung cấp dữ liệu không giới hạn miễn phí trong 60 ngày tới cho tất cả các khách hàng di động có gói dữ liệu. Các tổ chức giải trí đã phát hành nội dung trước thời hạn: tổ chức Walt Disney đã phát hành bộ phim bom tấn thân thiện với gia đình Frozen 2 trên nền tảng phát trực tuyến Disney + của mình sớm hơn ba tháng so với kế hoạch; New York Metropolitan Metropolitan Opera cung cấp các chương trình kỹ thuật số miễn phí để giải trí; hàng loạt chương trình thương mại nổi tiếng được mở miễn phí như: vở ballet Hồ thiên nga, vở opera Bóng ma trong nhà hát, hay các chương trình xiếc nổi tiếng của Cirque du Soleil; trong khi Google Arts & Culture đã kết hợp với các bảo tàng trên khắp thế giới để vận hành các tour du lịch ảo – mục tiêu cuối cùng vẫn là chăm sóc sức khỏe tinh thần công đồng, nhất là đối với trẻ em…

Tích cực chuyển khách hàng sang các kênh trực tuyến. Với nhiều yêu cầu trên khắp thế giới về cách lý tại nhà, các tổ chức trước đây dựa vào các hoạt động thông qua kênh tiếp xúc vật lý đã phải hướng khách hàng đến các dịch vụ trực tuyến. Các tổ chức cung cấp dịch vụ hội thảo trực tuyến, như với Cisco từ Webex, đang hỗ trợ các trường học và trường đại học khi họ chuyển sang học từ xa bằng cách cung cấp các công cụ miễn phí cho giáo viên, phụ huynh và học sinh để hỗ trợ phát triển các kế hoạch học tập trực tuyến. Các tổ chức khác không có dịch vụ trực tuyến có thể tìm cách thiết lập và mở rộng quy mô dịch vụ trực tuyến với nhu cầu tăng đáng kể từ khách hàng khi nhu cầu của họ ngày càng dịch chuyển sang kỹ thuật số. Sự chuyển đổi này sang các kênh trực tuyến và kỹ thuật số có khả năng tiếp tục tăng đáng kể ngay cả sau khi phục hồi từ khủng khoảng…

Tiếp cận và đối xử với khách hàng một cách cẩn thận trong các tương tác cá nhân. Khi các kênh cần tiếp xúc vật lý như chi nhánh ngân hàng, trường học và cửa hàng bán lẻ tạp hóa đóng cửa, nhiều khách hàng đang chuyển sang các kênh khác giải đáp các vấn đề, cũng như, yêu cầu đòi hỏi được sự quan tâm và chăm sóc cá nhân. Các tổ chức dịch vụ trong ngành viễn thông và tài chính hiện đang gặp phải số lượng cuộc gọi không ngừng tăng lên tới các điểm dịch vụ khách hàng của họ, đồng thời phải chuyển trung tâm dịch vụ khách hàng của họ sang sắp xếp làm việc từ xa. Các tổ chức khác đã tăng cường các tùy chọn để tìm kiếm thông tin kỹ thuật số; tập đoàn Erdos đã khởi động một chương trình WeChat tại Trung Quốc để cung cấp tư vấn sản phẩm ảo. Ở nhiều nước, cơ quan quản lý giáo dục của chính quyền đã xây dựng trung tâm hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tinh thần cho học sinh, sinh viên 24/24 qua mạng trực tuyến và điện thoại…

Thể hiện sự quan tâm đối với cộng đồng thông qua các giá trị của tổ chức. (1) Hình thành một gắn kết hướng đến xây dựng giá trị: Các tổ chức giáo dục cũng thể hiện cam kết của họ đối với các cộng đồng nơi họ hoạt động có thể xây dựng một cơ sở gắn bó trung thành hơn về dài hạn. Một cuộc khảo sát năm 2019 của McKinsey cho thấy 64% người tiêu dùng nói chung lựa chọn các thương hiệu mà họ tin là đang làm tốt xã hội, tăng từ 13% trong năm 2017. Trong một nghiên cứu khác của McKinsey, 70% số người được hỏi cho biết họ cố gắng mua sản phẩm từ các tổ chức mà họ cho là đạo đức; Gen Z, sớm trở thành phân khúc người tiêu dùng lớn nhất, đặc biệt có thiên hướng xã hội, với khoảng 65% của phân khúc này cố gắng tìm hiểu nguồn gốc của các sản phẩm dịch vụ họ sử dụng… (2) Tạo kết nối lâu dài với khách hàng: Trong thời kỳ khủng hoảng, các tổ chức hàng đầu đang xoay vòng từ tiếp cận đến hỗ trợ và từ việc thực hiện mong muốn của khách hàng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các tổ chức có ý thức xã hội trong các lĩnh vực và khu vực địa lý đang tìm cách tiếp cận và hỗ trợ khách hàng và cộng đồng của họ.

Không hành xử như con người, virus WuHan không cần tôn trọng biên giới chủ quyền quốc gia khi lây lan truyền bệnh. Không một quốc gia nào có thể thoát khỏi đại dịch một mình. Nếu các quốc gia vẫn giữ thế cạnh tranh và đối đầu, loài người chắc chắn sẽ thua cuộc chiến này… Do đó, sự bùng phát COVID-19 hiện tại là một cuộc khủng hoảng toàn cầu và là cơ hội cho các nhà lãnh đạo hỗ trợ khách hàng – trực tiếp và cộng đồng của họ – gián tiếp. Xác lập quan hệ một cách chu đáo, đồng cảm trong những thời điểm khó khăn này sẽ có khả năng tạo ra những kết nối thực sự sẽ tồn tại lâu hơn các tác động xã hội và kinh tế của đại dịch. Và các tổ chức lớn nên coi đó là nghĩa vụ phục vụ cộng đồng nơi họ vận hành cung cấp dịch vụ và sản phẩm…

Giáo dục Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, tuy đã dường như đã biết được “nước” đi nhưng chưa kịp “trở tay” trước những tác động từ dịch bệnh trong khi còn quá nhiều quân cờ lỗi…

… kìm chậm trận đấu lay lức cho qua giờ…

… liệu nền giáo dục có bị “chiếu bí” không phải bởi Virus mà chính bởi các thế hệ tương lai…

… bia miệng ngàn đời.

Xxx – Npl

<Education sector – Covid-19 who would “checkmate” its opponent…>

Even with the virus’s ability to attack borderless, mental health was always the most precious value of human life … If it would be also attacked in the same way as physical health, there was no longer safety place to avoid, this “controlling” King would be in a situation known as “checkmate” – and humans would lose immediately – collapsing, much faster than physical health. Thus, although vulnerable, mental health could guarantee the ultimate victory … with proper care and protection …

The rapid stormy spread of the COVID-19 had unleashed what was considered the greatest shock to our lives and livelihoods in nearly a century. On top of that, COVID-19 had been a crisis like a human being in a chess game where the advantage leaned towards the virus in both piece numbers and influence. Business organizations all suffered from “checkmate threatening” when economies around the world slide down to nearly stagnant. It had been also at this time that signs of innovation in innovative business operations appeared, when business organizations that had to cope with the crisis had created necessary “creative moves“. They evaluated the old assumptions that governed the way businesses running, rethought how to interact with both customers and employees, re-created more flexible supply chains, and defined clear privacy and data sharing.

The ability to create new ways of operating would be important to overcome the crisis. Successful people would quickly establish a “new way of playing” to stabilize operations and determine the next “move” platform for behavioral patterns of consumers and businesses. There, they would become operational models in the coming decades. Companies that aimed to take the lead should start with the fundamental questions that their second nature often confused business planners – who would have to reverse assumptions and find ways to innovate in the left-over room space after the obsolete assumption was removed. Experts were aware that the crisis of this scale would bring shocking shifts, change organizational expectations and create new opportunities. They had had to develop new solutions to help address the aftermath of the crisis while reshaping industries.

Unable to go back to the way things had been going, the goal now was to redefine the best “state of normal conditions” to look forward to after the crisis subsides …

The severe restrictions and regulations brought about by the COVID-19 crisis had quickly pushed organizations into challenges they could never have imagined. Many had had to adapt themselves to adapt to remote operations almost overnight, complete digital transformations in days to weeks instead of months or years and launch products or new service in just a few days. It was gradually realized that the COVID-19 crisis would be a period of “blood transfusion” to re-establish and restructure operational and business models significantly …

Four core ways could be relied upon in crisis response and reestablishment of operations:

  • Support from upper management level/unit. Building successful organizations/ businesses required regular and tangible support from top management [units]. Research showed that executive support and alignment were one of the two most cited factors that affect a company’s success.
  • Access strengths from the company/ superior management unit. Successful organizational/ business building managers understood their existing strengths and could apply them to the new model.
  • Assuming stress test. Management groups often overestimated their prospects for success. To counter that bias, business builders continually tested the organization’s endurance – stamina and reaffirm important assumptions. This was especially true for value proposition assumptions that needed to be verified directly with customers and included business assumptions such as operating costs and market size.
  • Building a specialized team. Many of the most successful companies in the world were made up of successive business building managers. They could replicate success by building specialized teams that could evaluate ideas, identify leaders, provide expertise and support new initiatives.

The ways in question come at a critical time, as organizations fould innovative new ways to help protect lives and livelihoods in times of crisis such as the outbreak of COVID-19. However, once an assumption was verified, it would not be possible to replicate itself; even after the initial crisis was over, when employees are “accustomed” to the traditional workplace “lifestyle” alternatives, they would find that they could work anywhere and whenever to complete the mission. Just as the companies that were supposed to be the best would continue to seek for talent, no matter where they would be; or retailers would continue to seek to humanize the digital experience.

Education was considered as an industry; whether,

learning from innovation managers and business builders was a fundamental foundation not only to recover from this crisis, but also to continually refresh itself – applying an iterative governance cycle again and again. Organizations adapting to the prototypes emerging from this crisis would continue to overturn assumptions in search of new opportunities to emerge [from in this crisis] with the greatest resilience and with greater opportunity to locate a future “reimagined“. So would [our] educational institution be ready to face the challenge?

Obviously,

it was more difficult to explain the importance of an event than to recount them. It was thought that we were considering a structural break of an econometric definition that had become a thing of the past, in which it denoted a moment in time series data when trends and patterns linked between variables changed…

A crisis was often an indication that an organization’s business or operational model, the basic structure of a [particular] industry, had changed significantly, so the ways in which its operation/ old business manner was no longer effective. For example: the education industry was in crisis when the social gap was abruptly changed, the Internet had become the “last resource” in that context; but the delivery of educational “services” through this new channel was actually quite new, and the interactions and behaviors needed to be adjusted in difficulty, not just making money from it. The same principle applied to the entire economy.

Breaking down the structure made many of the existing behavioral patterns changed or disappeared, but it was simply reorienting and adapting to the new situation, the same even for the whole economy. Disruptions and hard times were sure signs that an old model had been pushed to the limit and its value had been under destroyed …

In general, there would be no such thing called as a magic formula – the “magic wand“: reforming an organization / business always required insight and imagination … Above all, the first task was to understand how an organization, an industry that existed, competed and made money in the past; especially when it was education, an industry directly related to the future and the humankind themselves; industries that required the process of accumulating and adjusting in parallel with the changing development of society …

Experiencing historical events through periods: prehistory, pre- Northern colonial period, Northern colonial period, medieval and modern independence period, French colonial period and modern independence period, Vietnamese education had been exposed to and coping with the effects of external aggression and assimilation for a long time, posed great questions in preserving the national tradition and cross-cultural civilization trends in the process of forming an education of their own. Divided into phases:

The period before the August Revolution in 1945

The establishment and widespread use of the roman alphabet in the school since the end of 1919 signaled the end of the former Confucian tradition being replaced with the new system of French colonial administration. Also in the late 19th and early 20th centuries, the patriotic Duy Tan educational movement of Phan Boi Chau, Luong Van Can had initiated the trend of practical learning, using the national language in teaching and learning, approaching with natural sciences and industry, giving up the nomination.

The period of 1945-1954

The Democratic Republic of Vietnam was established. Along with the elimination of illiteracy (educational popularization), the Government of the Democratic Republic of Vietnam had had policies to reform and build initially for the entire national education system. In 1950, the Party Central Committee and the Government decided to carry out an education reform to implement the 9-year school system and new curriculum and taught in Vietnamese.

The period of 1954-1975

In mid-1954, the Ministry of Education agency moved from Yen Nguyen commune, Chiem Hoa district, Tuyen Quang province to Dai Tu and Thai Nguyen districts to Hanoi, and at the same time instructed affiliated schools and localities with regions. The new liberation prepared the necessary conditions to quickly recover the school and class. A lot of work had been focused on implementing: Southern schools in the North to welcome Southern students to the North to study; education reform in 1956 laid the foundation for the formation of a 10-year general education system with 3 levels of education. The system of complementary schools for agriculture and agriculture and the labor unions had been strongly developed.

The period of 1975-1986

During this period also marked the expansion of cooperation, as well as being influenced in education and training with the Soviet Union, the socialist countries in Eastern Europe through overseas student…

Period of 1986-1995:

The 6th Congress of the Communist Party of Vietnam in December 1986 opened a comprehensive renovation process in Vietnam. The policy of the industry in this period was to diversify types of schools and classes, forms of training, and regulations on people-founded and private schools and classes. In 1990, the Government decided to establish the Ministry of Education and Training on the basis of merging the Ministry of Education, the Ministry of Higher Education and Vocational Training. The Ministry of Education and Training uniformly managed the national education system from preschool to university and postgraduate education.

From 1996 to present:

In the 6th Conference of the 11th Central Committee of the Party meeting in October 2012 to discuss educational reform, Dr. Hoang Tuy, an international mathematician and teacher, said: “our education is misleading like no other, this «unlike» sometimes we consider ourselves a unique identity to be proud of and strive to preserve. This misdirection, misleading is seen from the root of the problem as from the philosophy of education, the mindset, the basic concept of the objectives, the way of doing education. In other words, the school can not only teach literacy, knowledge but also to teach how to be a human being…” Also in this seminar, Ms. Nguyen Thi Binh, former Vice President of Vietnam, one of the members of the Vietnam Southern Liberation Movement commented: “Vietnamese education goes against the rules and Professor Nguyen Xuan Han, Member of the National Board of Education, clarified a serious harm of education policy: Current programs and textbooks are harmful to students now.” (excerpt from Hoang Tuy: Our education is misleading/giaoduc.net.vn, October 1, 2012)

In general, these remarks also reflected the general view when education had not yet defined the basic foundation with the “education philosophy“, leading to: the primary school curriculum was not suitable for the age group and at high school grade was too theoretical but a shortage, and at the university level that was far from reality, outdated knowledge, not keeping up with world technological advances. Consequently, middle school textbooks were prepared indiscriminately and the content was biased; and tertiary textbooks were weak in both quantity and quality. Subjects did not be in a continuous sequence, have a harmonious connection from one level to another in a unified way because the curriculum for all levels had not been designed in an academic way, without a specialized editorial board to have an overall view from grade 1 to grade 12, being not standardized in an educational perspective among program editors, while most of them were professionally incapable staff – Associate Professors Dr. Bui Hien – the proponent of the “Luật giáo dục as Education Law” into the scandalous “Luật záo zụk“; but, excess enthusiasm focused on political approach education. In addition to officially announced reforms, the program was often arbitrarily garbled, such as the elementary program consisting of up to four different programs (165-week, 120-week, 100-week programs, educational technology programs) was not re-entered into an elementary program until 2002.

No country had an unstable curriculum with annual changes, troublesome, and mouse-headed heads like curriculum structure, textbooks, and junk examination like in Vietnam. Rolling through one reform to another, teachers and students were confused because they did not know what to teach, what to learn, what to take; monstrous products such as solving math problems by setting variables right from the primary level, then “square-circles-triangle”, or CVNSS 4.0 – Vietnamese without accents appeared to be born under the “renovation” label. In the chaos of examinations, corruption had come to the throne, diplomas became “worth[less]” and was a terrible obsession of the country, which had a tradition of studiousness, where people were in difficult and poor, but still spent 20-30% of income for their children’s education.

These issues needed to be deeply and fully understood, as they had both directly and indirectly affected many generations of students – the future of a society, a country, as well as Vietnam education in general; while our country was still lagging behind many countries in the region, they – these problems, held us one step backward; The shortage of technical and qualified labor became a challenge to many investors, driving them change their investment decisions to other countries such as India, Malaysia or the Philippines. Vietnam had joined the WTO and implemented the General Agreement on GATS world trade and services, which recognized education as a commercialize-able service sector and gradually step up international cooperation and opened educational service markets (as committed)…

Season of epidemic,

in the report assessing the impact of Covid-19 on the economy and the policy recommendations made by the National Economics University, educational services had the largest economic decline compared to all fields. The scenario of ending the epidemic in April would decrease by 35% with online learning conversion; If the epidemic lasted until the end of June, the decline could be up to 60% (leading in the fields) and forced to restructure the industry. This showed the vulnerability and resilience of the education sector, requiring appropriate public support policies.

It was estimated that, in particular, the cost of salaries for 103,863 managers and non-public teachers at the regional average minimum wage was VND 400 billion/ month; the cost of renting premises of 3,702 non-public educational institutions from preschool, primary school, junior high school, high school to pedagogical college and university was up to VND 450-500 billion/ month. In addition, the costs of detoxification, disinfection, disease prevention in the past few months and other costs had not been accounted for … The pandemic was clearly a big challenge, but publishers, schools and pedagogical organizations were in collaboration with the local Department of Education and Training to strengthen the form of distance teacher fostering and promote self-study, self-research of teachers…

Globally, according to UNESCO estimation, as of March 24, 2020, at least 138 countries had imposed school closures nationwide, affecting up to 80% of students globally (about 1.3 billion students). Therefore, countries had focused on online learning solutions and television. Countries such as China, Russia, Argentina, Mexico, South Korea, Canada, France, the United Kingdom, and the US had all stepped up their online teaching.

In Vietnam, online teaching was proposed for a long time but no province or city had yet done it. Through Covid-19, all 63 provinces and cities were made efforts to organize television or online teaching. Thus, this pandemic was also an opportunity for education and training of our country to deploy online teaching at many levels from university to high school, especially for high school students focusing grades 9 and 12. However, online learning also presented many limitations that needed to be overcome such as not ensuring equality, because many students did not have computers and internet assessment at home, which made students in the lower-income family were more disadvantaged than their better capable peers – this group of students did not have suitable study space, did not have enough equipment to study online as well as had some problems psychologically, especially in facing the challenge of exams; In addition, students were not really active in learning, even some students revealed their account name (ID) and password publicly on social networks for some bad people to enter the classroom to harass. Many other studies also showed that school closures increased social risks, girls were more likely to become subject to violence and physical abuse.

Thus, in general, the COVID-19 pandemic was not only a health crisis, but also a human security crisis – depriving freedom from fear, freedom from dreams and freedom to live with dignity. A pandemic required an approach to the new human [security] needs for the protection and empowerment of comprehensive human rights. The only option was to cooperate to build a united and regional coordinated global response. Therefore, before the global economic and humanitarian crisis, COVID-19 forced individuals and organizations/ businesses to quickly change the way of living, operating and working. Many elements of business and life were under challenged; perhaps, the return to the next “normal state” may look very different when new ways of working were introduced. Organizations in general were trying their best to overcome this pandemic from: (1) effective crisis response assurance, (2) to manage supply chain disruptions, (3) to secure their employees by adjusting to their daily work activities.

Specifically in the field of education, the report of two authors, Gwang-Chol Chang and Satoko Yano of UNESCO’s educational policy division; countries affected by the epidemic were all working hard to implement measures to address the immediate challenges:

First of all, countries focused on solutions to maintain the continuity of the curriculum. For many countries, this was even the first priority. The countries had implemented or upgraded the scale of distance teaching based on the use of many technological facilities. Most countries used the Internet, providing online learning platforms such as Argentina, Croatia, China, Cyprus, Egypt, France, Greece, Italy, Japan, Mexico, Portugal, South Korea, Saudi Arabia, UAE and USA. Besides that,

many countries also chose to disseminate lectures in wide-ranging via television or other media such as Argentina, Croatia, China, Costa Rica, France, Iran, South Korea, Mexico, Rwanda, Saudi Arabia, Senegal, and Spain. Nha, Peru, and Thailand. Saudi Arabia even used the official Twitter account of the Ministry of Education and Training to disseminate information about online learning.

Secondly, adjusting the class schedule and exam schedule was an equally important priority. Prolonged school closures had seriously affected class schedules in many countries. In many cases, this also affected the length of time the college entrance examination held in many places. Many countries had had to reorganize their exams and assess their quality at all levels, including universities. Among them were Chile, China, France, Japan, and Spain. In particular, China had allowed students to take some online exams … Or when the exam date could not be changed, many countries also had special arrangements (such as limiting the number of test takers who could take the exam at the same time.) to ensure the health of the candidates. Japan and Thailand were working this way.

Particularly, the UK had canceled the GCSE (high school education certificate) and A-level (high school education certificate); The Council for Secondary Education (CBSE) of India also canceled grade 10 and grade 12 exams; Australia canceled this year’s National Assessment of Language and Numeracy (NAPLAN) Program. Pennsylvania (USA) would cancel the PSSA / Keystone exam …

Not only studying, taking exams, many countries had also paid attention to measures to help children overcome emotional instability when forced to leave teachers and friends for a long time. Many countries (Thailand) had used online communication applications like WhatsApp to help students and teachers maintain communication. Online classes also provided opportunities for children to have social interactions, even online. In many countries such as China, Japan, Spain and the United States, there were also experts to provide psychological support for children who need help. This included a 24-hour hotline and supervision calls to help children avoid loneliness. Specifically, in China, the authorities had provided pedagogical skills online support for parents/ caregivers. Despite the heavy losses, Italy also offered online courses to help parents learn how to manage their children in a limited environment. Spain had built communication platforms and applications to help parents and teachers share and build the learning process for their children. Some countries, such as Guatemala, provided instructional guides and learning materials for parents/ caregivers to ensure a child’s continuous home schooling …

In order to respond to the urgent need for education in the context of a pandemic, in addition to such social adjustments, educational institutions or business units generally needed to develop operational plans to promptly respond to crisis overcoming a pandemic; not only from the unification and standardization of textbooks and curricula, but also the standardization of teachers, educational methods and above all the philosophy and educational goals … – building the foundation the core rather than focusing solely on the means, which was just dealing with the moment of the epidemic; in addition, television, online or digital in general needed to study not only about the medium but also the infrastructure that supported society instead of following the trend: online interaction, 4.0 technology or the internet of things (IoT) … even in advanced countries, there was still a need for stratification to harmonize the purpose of universal social education as well as investment costs; after all, educational institutions were still commercial service providers, especially non-public sector:

Minimize risk by reducing physical interaction. The first social responsibility to respond to a pandemic on a scale like Covid-19 was to eliminate the risk of spreading the virus, especially from the most at-risk population. Infectious risk reduction organizations minimized their activities in essential tasks, especially when related to vulnerable groups – children.

Actively contributing to safety by innovating the product and service portfolio. Organizations should ask themselves two important general questions:

  • Did we have a product the world needed right now? Or,
  • Could we quickly adapt our product portfolio to deliver when urgent?

Pursuing this approach, organizations could use their strengths to provide socially essential products, even if those goods were out of reach of a single manufacturer’s current supply of products. For example, some distilleries were using their ethanol supply to provide raw materials for hand sanitizers through partnerships with refineries; organizations were also stepping up to meet the needs for many medical devices and personal protective equipment; costume makers were adjusting to reducing sales by producing thousands of necessary masks; a number of car manufacturers such as GE, Tesla and Vinfast were shifting their production to ventilators; educational institutions that produced program studies and teaching methods and built mental health centers for student cares from distance …

Provide practical assistance to customers while being financially difficult. Once customers had ensured personal safety, their next concern was often financial. When organizations were forced to reduce operations in an uncertain time period, individuals and millions of business unit owners/ small businesses faced major revenue and liquidity problems. Providing flexible solutions while dealing with financial challenges was now both a responsibility and a great source of trust for [large] organizations: financial institutions did not penalize customers unable to meet payment obligations during the epidemic period; the network did not terminate the service or enforce late payment fees for customers in trouble for another 60 days; and, energy suppliers would not cut off electricity; in some cases, they even reconnected customers whose services were cut before the crisis; similarly, the actual tuition fees and collected education costs would be eventually matter to be considered as well …

Bringing joy and supporting emotional needs of customers who had been isolated at home. Many people were forced to stay home, and experienced all the problems that came with the obligation to do so. Organizations were working to make “home life” more enjoyable and also to ensure the happiness and safety of their customers. Families had had to entertain their children at home for the next few weeks, making access to online content whether schooling, working or entertaining a truly basic need. The network was providing unlimited free data for the next 60 days to all mobile customers with data plans. Entertainment organizations had released content ahead of time: Walt Disney Foundation released blockbuster family-friendly Frozen 2 on its Disney + streaming platform three months earlier than planned; The New York Metropolitan Opera offered free digital programs for entertainment; a series of famous commercial programs were offered free of charge such as: Swan Lake ballet, Phantom in Theater opera, or famous circus shows of Cirque du Soleil; while Google Arts & Culture had partnered with museums around the world to run virtual tours – the ultimate goal was still to take care of public mental health, especially for children …

Actively converting customers to online channels. With so many requests from around the world for home insulation, organizations that previously relied on activities through physical contact had to direct customers to online services. Online conferencing organizations, like Cisco from Webex, were supporting schools and universities as they moved to distance learning by providing free tools for teachers, parents and students to support the development of online learning plans. Other organizations that did not have online services may find ways to set up and expand online services with a significant increase in demand from customers as their needs increasingly shift to digital. This transition to online and digital channels would be likely to continue to increase significantly even after recovering from the crisis …

Approaching and treating customers carefully in personal interactions. When physical contacting channels such as bank branches, schools and grocery stores had been closed, many customers were turning to other channels to address issues, as well as, requiring caring and personal care. Telecommunications and financial service organizations were currently experiencing an ever-increasing number of calls to their customer service points, and their customer service centers had to be relocated to remote work. Other organizations had stepped up options to find digital information; Erdos Group had launched a WeChat program in China to provide virtual product advice. In many countries, the government’s education administration agency had established a center for mental health care for students 24/24 via online and telephone …

Showing interest in the community through the values ​​of the organization. (1) Forming an engagement towards value creation: Educational institutions also demonstrated their commitment to the communities in which they operate could build a more loyal base of long-term loyalty. A 2019 survey of McKinsey found that 64% of consumers in general chose brands that they believed were doing well in society, up from 13% in 2017. In another McKinsey study, 70% the number of respondents said they tried to buy products from organizations they considered to be ethical; Gen Z, soon became the largest consumer segment, especially socially oriented, with about 65% of this segment trying to find the origin of the products and services they used… (2) Creating long-term connection with customers: In times of crisis, leading organizations were turning from access to support and from fulfilling their customers’ wishes to meeting their needs. Socially aware organizations in geographic areas and regions were seeking to reach and support their customers and community.

Had not behaved like humans, WuHan virus did not need to respect the national sovereignty border while spreading the disease. No country could escape the pandemic alone. If nations remained competitive and confrontational, mankind would surely lose this war … Therefore, the current COVID-19 outbreak was a global crisis and an opportunity for leaders to support the customer – directly and their community – indirectly. Setting careful and sympathetic relationships during these difficult times would be able to make real connections that would outlast the social and economic impacts of the pandemic. And large organizations had to consider it as an obligation to serve the community in which they operated to provide services and products …

Education in Vietnam in the current context, although it seemed to have known the “moves” to take but could not “re-act” before the impact of the disease while there were too many chess pieces in error positions…

… slowing down the game to passing time …

… whether education would be “checkmated” not by viruses but by future generations …

… a thousand years of verbal stele.

Xxx – Npl

Tuần – Week: 04 – 09/05/2020…

  • For English version, please scroll down –

 

Thủ tướng: Kinh tế Việt Nam phải phục hồi hình chữ V…

Liệu có phải là “Cờ Lờ Mờ Vờ”…

Các sự kiện chính – Main events:

Một lần nữa, người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh Việt Nam vẫn theo đuổi chiến lược mục tiêu kép, là vừa chống dịch, vừa tăng trưởng kinh tế, Thủ tướng tin kinh tế sẽ phục hồi như lò xo nén sau dịch với mục tiêu năm nay GDP tăng 5%, lạm phát dưới 4%.

Sau những bất cập trong điều hành xuất khẩu gạo, Bộ Tài chính thanh tra và phát hiện nhiều cục dự trữ cho gửi hàng vào kho trái quy định. Sau khi kiểm tra các kho của 22 Cục Dự trữ Nhà nước khu vực, Bộ Tài chính cho biết 7 đơn vị đã để các tổ chức, cá nhân gửi gạo trái quy định của Luật Dự trữ Nhà nước và hướng dẫn quản lý, sử dụng tài sản của Tổng cục Dự trữ Nhà nước. 7 đơn vị này gồm Cục Dự trữ nhà nước khu vực Hà Bắc, Đông Bắc, Bắc Thái, Hà Nội, Hà Nam Ninh, Bình Trị Thiên và Thanh Hoá. Bộ Tài chính cũng tạm đình chỉ công tác Cục trưởng, Chi cục trưởng các đơn vị trên để làm rõ sai phạm. Thanh tra Bộ sẽ chuyển hồ sơ vụ việc sai phạm sang Cơ quan Điều Tra – Bộ Công an để xử lý.

Giá heo giống tăng kỷ lục, mỗi con heo giống nặng 6-10 kg có giá tới 2,5-3 triệu đồng, cao gấp đôi cùng kỳ năm ngoái. CTCP Nông Súc Sản Đồng Nai (Dolico) thông qua kết quả kinh doanh quý I với tổng doanh thu gần 81 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế là 38,6 tỷ đồng, vượt 141% kế hoạch năm và cao hơn cả lợi nhuận năm 2019 chỉ 27,3 tỷ đồng. Sang quý II, công ty chăn nuôi lợn tại Đồng Nai đặt mục tiêu sản lượng 855 tấn heo thịt. Tổng doanh thu là 65 tỷ và lợi nhuận trước thuế 15 tỷ đồng. Kế hoạch cả năm 2020 là gần 169 tỷ tổng doanh thu, 16 tỷ lợi nhuận trước thuế và cổ tức từ 7% trở lên.

Tại sao nó ảnh hưởng – Why is it affected:

Lúc này chúng ta phải khởi động lại nền kinh tế, phấn đấu GDP đạt mức tăng trưởng 5%, cao hơn dự báo của IMF và kiểm soát lạm phát dưới 4%“, Thủ tướng nhấn mạnh. Nhiều tổ chức quốc tế hạ dự báo tăng trưởng Việt Nam năm nay, như WB là 4,9%, IMF 2,7%… Quý I, GDP Việt Nam tăng 3,82% – mức thấp nhất 10 năm gần đây nhưng theo ông, là mức khá trong số các nước ASEAN. Điều này cho thấy Việt Nam không quá phụ thuộc vào thị trường thế giới. Trước khó khăn của đại dịch, Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ người dân, nền kinh tế. Khi các lệnh giãn cách được nới lỏng, dịch bệnh đi qua thì nền kinh tế sẽ như chiếc lò xo nén lại, giờ là lúc phải bung ra. Muốn đạt mục tiêu này, ông đề cập 5 mũi giáp công là thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế, trước hết là đầu tư tư nhân. Kế đó là thu hút đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh xuất khẩu, đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công và khuyến khích tiêu dùng nội địa. “Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam cần đóng góp vào phát triển, kinh tế sau dịch phải hình chữ V, chứ không phải chữ U, càng không phải chữ W“, Thủ tướng khẳng định.

Bộ Tài chính thông tin có 24 doanh nghiệp từ chối ký hợp đồng với khối lượng trúng thầu 170.300 tấn gạo. Do đó, 24 doanh nghiệp này đã bị tịch thu hơn 27,8 tỷ đồng, số tiền bảo đảm dự thầu để nộp ngân sách nhà nước.

Cùng lúc, một người dân kinh doanh ở Đồng Nai cho biết, mấy ngày nay đặt mua heo giống tại các trang trại nhưng đều hết hàng. Những nơi báo còn, giá lên tới 300.000 đồng một kg heo hơi giống (tương đương 3 triệu đồng một con 10 kg). “Giá heo giống tăng quá cao lại khan hiếm nguồn hàng nên tôi quyết định không tái đàn. Vì nếu tiếp tục nuôi lúc này, tôi sợ giá heo hơi thương phẩm sắp tới có thể xuống 60.000 đồng một kg theo yêu cầu của Chính phủ thì sẽ bị lỗ“, người đó cho biết. Theo một số hộ nuôi nhỏ lẻ ở miền Tây, trước đây các doanh nghiệp chăn nuôi heo giống liên tục chào giá nhưng nay họ đều báo hết hàng. Điều này khiến giá heo giống ngày càng tăng cao. Mỗi con loại 6-10 kg có giá 1,5-2,5 triệu đồng. Đây cũng là mức cao kỷ lục trong nhiều năm qua – gấp đôi so với giá heo giống cách đây một năm. Nhiều trang trại chăn nuôi heo giống cho rằng, loại này đang khan hiếm thật chứ họ không hề “ém hàng“. “Chúng tôi đang tìm cách đẩy mạnh nguồn cung nhưng dịch bệnh khiến lượng heo hậu bị (heo nái) giảm và heo giống (heo con) giảm theo“, chủ một trang trại nói.

Xu hướng chính – Key trends:

Góp ý để kinh tế Việt Nam phát triển theo hình chữ V, đại diện Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam cho rằng, Chính phủ nên tiếp tục thu hút đầu tư, tăng cường chuỗi cung ứng. Hiệp hội này sẽ hỗ trợ đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhật Bản vào Việt Nam. “Các doanh nghiệp Việt Nam nên tận dụng tốt hơn cơ hội trong khai thác thị trường mới, xây dựng chuỗi cung ứng bền vững“, Thủ Tướng nói; “Chính phủ không thể giúp doanh nghiệp tăng lợi nhuận, nhưng giúp doanh nghiệp tăng năng suất. Giờ là lúc bàn tới chính sách tăng tốc, đòn bẩy cho phát triển“, ông lưu ý. Với các doanh nghiệp, ông đề nghị nên có 5 nhân tố lúc này là yêu Tổ quốc, đoàn kết, chủ động, sáng tạo và giữ vững niềm tin. “Đừng cầu không có khó khăn, đừng mong có dễ dàng vì dễ dàng không đến lượt chúng ta. Nếu không sáng tạo, tự mình lùi lại phía sau“, ông nói. Hiện nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã vươn tầm quốc tế nhưng chưa có doanh nghiệp lọt vào top 500. “Tôi hy vọng 25 năm nữa Việt Nam sẽ xuất hiện những đế chế như Google, Alibaba… Không gì là không thể“, Thủ tướng nói.

Một chuyên gia chăn nuôi ở Đồng Nai nhìn nhận, nguồn cung heo giống trên thị trường đang khan hiếm nên mới xảy ra tình trạng giá tăng đột biến. Giá càng tăng cao người nuôi càng không dám tái đàn nhất là khi Chính phủ đề nghị kéo giá heo hơi về mức 60.000 đồng một kg. Theo tính toán của ông, nếu heo giống ở mức 2,5-3 triệu đồng một con (6-10kg) như hiện nay thì giá heo hơi thương phẩm phải ở mức 64.000-65.000 đồng một kg người nuôi mới có lãi.

Cái gì tiếp theo – What comes next:

Theo khuyến nghị của cơ quan thống kê, bài toán khó trong tăng trưởng năm nay có thể giải quyết bằng động lực thể chế, gia tăng hiệu quả sử dụng vốn, cải thiện năng suất lao động, thay đổi cơ cấu kinh tế. Giải ngân thêm 1% vốn đầu tư công giúp GDP tăng 0,06%. Trong khi đó, nếu hệ số đầu tư tăng trưởng (ICOR) giảm 0,5 thì GDP tăng 0,64%, ICOR giảm 1 thì GDP tăng 1,42%. Năng suất lao động cũng là một yếu tố tạo lực đẩy cho tăng trưởng khi tăng 1% có thể làm GDP tăng 0,94%. “Kinh tế đang rất khó khăn, thậm chí kéo dài những quý sau. Việt Nam không có nguồn lực mạnh như Mỹ để có thể phát cho dân 1.000 USD, cung cấp các gói cứu trợ mấy nghìn tỷ USD, nhưng chúng ta sẽ có những giải pháp khác. Tăng trưởng kinh tế sẽ đạt mức tích cực, có thể không hoàn thành mục tiêu 6,8% nhưng sẽ hơn hiện trạng chung của thế giới“, Tổng cục trưởng Thống kê cho biết.

Vào ngày 12/5, Tổng cục Dự trữ Nhà nước sẽ đấu thầu lại 182.300 tấn gạo để đưa vào kho dự trữ quốc gia. Đơn vị này dự kiến hoàn thành nhập kho trong tháng 6. Sau sự việc này, Bộ Tài chính sẽ trang bị, lắp đặt hệ thống camera tại tất cả kho dự trữ nhà nước.

Dấu hiệu rủi ro – Risk signals:

Khó khăn kép” hiện nay với cộng đồng doanh nghiệp là vừa thiếu hụt nguyên liệu đầu vào, vừa bị giảm mạnh thị trường đầu ra, nhất là các ngành hàng tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất, chuỗi giá trị toàn cầu. Khảo sát nhanh gần 130.000 doanh nghiệp cho thấy, 86% cho biết bị ảnh hưởng tiêu cực bởi Covid-19, doanh thu 4 tháng giảm 30% so cùng kỳ.

Tuy giải quyết mạnh mẽ chống dịch Covid-19 nhưng liệu có “Cờ Lờ Mờ Vờ” chỉ tiêu nền kinh tế khi tình hình doanh nghiệp và sản xuất kinh doanh bi đát, an ninh lương thực bị đe dọa…

xxx – npl

 

<Week 04 – 09/05/2020…> 

Prime Minister: Vietnam’s economy must recover the V-shape …

Would it be the “Cờ Lờ Mờ Vờ” …

Main events:

Once again, the head of the Government emphasized that Vietnam was still pursuing a dual goal strategy, which was both to combat epidemic and to increase economic growth, the Prime Minister believed that the economy would recover like a post-epidemic compression spring with the goal. This year GDP increased by 5%, inflation was below 4%.

After inadequacies in the management of rice exports, the Ministry of Finance inspected and discovered many reserves for consigning goods into warehouses in contravention of regulations. After inspecting the warehouses of 22 regional State Reserves, the Ministry of Finance said that 7 units had allowed organizations and individuals to send rice in contravention of the State Reserve Law and guide the management and use assets of the General Department of State Reserve. These 7 units included the Ha Bac, Dong Bac, Bac Thai, Hanoi, Ha Nam Ninh, Binh Tri Thien and Thanh Hoa Regional Reserves. The Ministry of Finance also temporarily suspended the work of the Directors and Heads of the above units to clarify violations. The Ministry Inspectorate would transfer the case file to the Investigation Agency – the Ministry of Public Security for processing.

The price of breeding pig had reached to a record, each pig weighing 6-10 kg costed up to VND 2.5-3 million , doubled the same period last year. Dong Nai Agricultural Products Joint Stock Company (Dolico) approved first quarter business results with total revenue of nearly VND 81 billion. Profit before tax was VND 38.6 billion, exceeding 141% of the year plan and higher than the profit of only VND 27.3 billion in 2019. In the second quarter, the pig raising company in Dong Nai aimed to produce 855 tons of porker. Total revenue was 65 billion and profit before tax of 15 billion. The whole year plan for 2020 was nearly 169 billion dong of total revenue, 16 billion dong of EBT and dividend of 7% and above.

Why is it affected:

Now we have to restart the economy, strive for GDP growth of 5%, higher than the IMF’s forecast and inflation control below 4%,” the Prime Minister emphasized. Many international organizations lowered their forecasts for Vietnam’s growth this year, such as the WB at 4.9%, IMF 2.7% … In the first quarter, Vietnam’s GDP increased by 3.82% – the lowest level in the recent 10 years but according to him, was a quite fair among ASEAN countries. This showed that Vietnam was not too dependent on the world market. In the face of pandemic difficulties, the Government had issued many policies to support people and the economy. When the command was to release, the disease went through, the economy would be like a spring of compression, now was the time to inflate. In order to achieve this goal, he mentioned that the 5 frontiers would be to attract investment from all economic sectors, firstly from private investment. Next would be to attract foreign investment, boost exports, accelerate disbursement of public investment and encourage domestic consumption. “Vietnam, Vietnamese enterprises need to contribute to development, the economy after the translation must be V-shaped, not U-shaped, even more not a W“, the Prime Minister affirmed.

The Ministry of Finance reported that 24 businesses refused to sign contracts with the winning volume of 170,300 tons of rice. Therefore, these 24 enterprises were confiscated over VND 27.8 billion, the amount of bid security to pay to the state budget.

At the same time, a business person in Dong Nai said that, for a few days, he ordered to buy breeding pigs at the farms but they were out of stock. In other places, the price was up to VND 300,000 per kilogram of breeding pigs (equivalent to VND 3 million per 10 kg pig). “The price of breeding pigs increased so much that there was a shortage of supplies, so I decided not to re-breed. Because if I continue to raise now, I am afraid that the price of live pigs will be down to VND 60,000 per kg at the request of the Government. there will be losses,” the person said. According to some small farming households in the West, previously pig breeding enterprises kept offering prices, but now they were out of stock. This made the price of breeding pigs increasing. Each type of 6-10 kg was priced at VND 1.5-2.5 million. This was also a record high for many years – doubled the price of breeding pigs a year ago. Many pig breeding farms said that this type had been scarce but they were not “hide“. “We are seeking ways to boost supply, but the disease has reduced the number of gilts (sows) and piglets (piglets),” said the owner of a farm.

Key trends:

Commenting on the development of Vietnam’s economy in a V-shape, the representative of the Japan Business Association in Vietnam said that the Government should continue to attract investment and strengthen the supply chain. This association would support Japanese foreign direct investment into Vietnam. “Vietnamese businesses should better take advantage of opportunities in tapping new markets, building sustainable supply chains,” the Prime Minister said; “The government can not help businesses increase profits, but help businesses increase productivity. Now is the time to discuss policies to accelerate and leverage development,” he noted. For businesses, he suggested that there should be 5 factors as the country love, solidarity, initiative, creativity and belief. “Don’t pray without difficulty, don’t expect it to be easy because it’s not our turn. If you’re not creative, step back,” he said. Currently, many Vietnamese businesses had reached the international level, but there were no businesses in the top 500. “I hope that in 25 years Vietnam will appear empires like Google, Alibaba … Nothing is impossible“, The Prime Minister said.

A breeding expert in Dong Nai admitted that the supply of breeding pigs in the market was scarce so the price spike happened. The higher the price, the more daring farmers did not dare to re-grow, especially when the Government proposed to bring the price of live pigs to VND 60,000 per kg. According to his calculations, if the breeding pig was at VND 2.5-3 million per pig (6-10kg) as today, the price of commercial live pigs had had to be at VND 64,000-65,000 per kilogram of farmers to be profitable.

What comes next:

According to the statistics agency’s recommendation, this year’s difficult growth problem could be solved by institutional dynamics, increasing capital efficiency, improving labor productivity, and changing economic structure. An additional 1% of public investment disbursement helped increase GDP by 0.06%. Meanwhile, if the growth rate of investment (ICOR) decreased by 0.5, GDP increased by 0.64%, ICOR decreased by 1, GDP increased by 1.42%. Labor productivity was also a driving force for growth when increasing by 1% could increase GDP by 0.94%. “The economy is in a very difficult situation, even in the following quarters. Vietnam does not have the resources as strong as the United States to be able to distribute to people USD 1,000, to provide relief packages of several trillion dollars, but we will have other solutions. The economic growth will be positive, may not achieve the target of 6.8% but it will be more than the general situation of the world,” the General Director of Statistics said.

On May 12, the General Department of State Reserve would re-bid 182,300 tons of rice to put into the national reserve. This unit was expected to complete warehousing in June. After this incident, the Ministry of Finance would equip and install camera systems at all state reserves.

Risk signals:

The current “double difficulties” for the business community was both a shortage of input materials and a sharp decrease in the output market, especially for goods deeply involved in production networks and global value chains. A quick survey of nearly 130,000 businesses showed that 86% said they were negatively affected by Covid-19, 4-month revenue decreased by 30% over the same period.

Despite resolving strongly against the Covid-19 epidemic, did there “ Cờ Lờ Mờ Vờ” targeting the economy when the situation of enterprises and production and business was tragic, while food security was threatened …

xxx – npl

Tuần – week 27 – 30/04/2020…

  • For English version, please scroll down –

Sau gần một tháng giãn cách xã hội, đúng kỳ nghỉ lễ 30/4 và 1/5 kéo dài tới 4 ngày, nhiều gia đình về quê, đi du lịch “xả hơi” khiến các cửa ngõ TP HCM ken đặc xe dưới nắng gắt, một số nơi ùn tắc kéo dài…

Các sự kiện chính – Main events:

Từ đêm 29 kéo dài tới sáng 30/4, xe khách, ôtô, xe máy nghìn nghịt nối đuôi nhau thành hàng dài trên quốc lộ 1 – đoạn qua huyện Bình Chánh và quận Bình Tân, cửa ngõ về các tỉnh miền Tây. Từ vòng xoay An Lạc hướng về cầu Bình Điền, các xe di chuyển khó khăn. Xuyên đêm tới trưa, nhiều gia đình chở nhau trên xe máy, lủng lẳng hành lý, vã mồ hôi khi phải nhích từng chút dưới trời nắng nóng 37 độ C. Tại đường dẫn vào cao tốc TP HCM – Trung Lương, dòng xe kéo dài khoảng 2 km. Tại bến phà Cát Lái (cửa ngõ phía Đông thành phố), xe máy, ôtô cũng xếp hàng kéo dài hàng trăm mét chờ phà. Nhân viên bến phải ưu tiên cho xe máy qua trước để hạn chế tập trung đông người khiến ôtô phải chờ khoảng một giờ mới được qua phà…

Hồ Kênh Lấp – hồ trữ nước ngọt lớn nhất miền Tây, trữ một triệu m3 nước cạn trơ đáy khiến hơn 11.000 hộ dân tại Ba Tri thiếu nước sinh hoạt. Hồ Kênh Lấp (xã Tân Xuân) dài gần 5 km, rộng 40-100 m, vốn là con kênh đào từ thời Pháp được lấp hai đầu. Sau đợt nắng hạn kéo dài, giữa trưa cuối tháng 4, phần lớn lòng hồ đã cạn khô… Những chiếc xuồng người dân dùng để giăng câu, lưới quanh hồ cũng nằm chơ vơ. Hồ chứa một triệu mét khối nước, giờ chỉ còn lại những vũng nước nhỏ, chỗ sâu nhất hơn một mét, cả đám sen dại cũng héo khô. Do hồ cạn, bầy chim, cò hàng nghìn con mấy ngày nay đến đậu kín, kiếm thức ăn. Ven hồ, các máy bơm nước nằm chỏng chơ, bởi phía dưới hệ thống ống là mặt đất khô nứt nẻ. Những thửa ruộng thu hoạch xong còn trơ gốc rạ, mặt đất nứt toác, các rẫy trồng rau bỏ hoang, cây xanh lẫn cỏ dại khô cằn, chết héo vì nắng nóng…

Tại sao nó ảnh hưởng – Why is it affected:

Hồ Kênh Lấp có sức chứa gần một triệu m3 nước, đủ sức phục vụ cho khoảng 200.000 người tại 24 xã, thị trấn trên địa bàn, là hồ chứa nước ngọt nhân tạo lớn nhất miền Tây; khởi công năm 2017, đi qua ba xã Tân Xuân, Phước Tuy và Phú Ngãi, với tổng kinh phí khoảng 85 tỷ đồng, từ ngân sách Trung ương và địa phương. Sau khi đưa vào sử dụng được ba tháng, hồ bị nhiễm mặn. Một người nông dân ở trong khu vực làm nghề chăn nuôi; như thường lệ vào buổi sáng, ông ra bên hông chòi vịt xách ba can nhựa loại 30 lít, nhưng thay vì ra mé bờ hồ múc nước như mọi khi, ông bỏ lên xe kéo, sau đó chạy hơn 2 km, đến giếng nước ngọt công cộng do các mạnh thường quân tài trợ, vừa hoạt động khoảng nửa tháng nay. “Trước đây hồ tuy bị nhiễm mặn nhưng vịt còn uống được, mấy ngày nay, hồ cạn khô, còn nước đâu nữa mà lấy“, ông nói. Sau khi hứng đầy ba can nước, người nông dân chở về trại vịt, đổ vào thau. Ngoài bầy vịt, ông còn nuôi 9 con bò. Để có nước cho chúng uống, ông phải mua từ các xà lan với giá 70.000 đồng mỗi khối. Chi phí đắt đỏ, nên mấy hôm trước, ông bỏ ra 5 triệu đồng nhờ người khoan giếng; tuy nhiên, giếng khoan xong phải bỏ không, do bị nhiễm phèn. Bốn người trong gia đình ông mấy tháng nay may mắn vẫn còn nước mưa dự trữ trong các bể xi măng, nhưng vẫn phải xài tiết kiệm đợi mùa mưa đến. Ông cũng chỉ là một trong hơn 11.000 hộ dân thiếu nước sinh hoạt tại Ba Tri mùa này, khi 12 nhà máy, trạm cấp nước trên địa bàn nước đều đã bị nhiễm mặn, người dân phải mua nước ngọt giá có khi lên đến 150.000 đồng mỗi khối. Hơn 4.300 ha lúa gieo sạ chết khô, nông dân phải cắt cho bò ăn. Đàn bò, dê, heo hơn 100.000 con cũng đang trong tình trạng thiếu nước trầm trọng. Ước tính tổng thiệt hại do hạn mặn tại huyện này khoảng 150 tỷ đồng.

Xu hướng chính – Key trends:

Ba Tri là huyện có diện tích lúa lớn nhất Bến Tre, vụ này, gần 5.000 ha lúa gieo sạ bị mặn xâm nhập, thiệt hại gần như toàn bộ. “Cơn bão hạn mặn” cũng càn quét sang các địa bàn lân cận, đe dọa hơn 4.000 ha hoa kiểng, cây ăn trái tại “thủ phủ” hoa Chợ Lách cùng 1.000 ha ao tôm càng xanh tại xứ biển Thạnh Phú. Dưới kênh, những khúc sông trước đây lục bình mọc kín, ghe xuồng đi lại khó khăn – giống bèo dại thường ngày không cách nào diệt xuể, nay cũng không sống nổi với nước sông mặn chát như pha muối; mùa này hồ trữ ngọt lẫn nước máy đều bị nhiễm mặn, hàng nghìn hộ dân phải mua nước ngọt sử dụng, với giá có khi lên đến 300.000 đồng mỗi khối. Cây cối khô cằn, héo úa vì thiếu nước; dưới cái nắng cháy, những đàn bò hàng chục con bụng đều căng tròn, nước quá mặn – chúng càng uống càng khát, cái dạ dày đã không thể chứa thêm được… Mùa hạn mặn năm nay đến sớm bất thường và kéo dài khiến 6 tỉnh, gồm Bến Tre và Tiền Giang, Long An, Kiên Giang, Cà Mau và Sóc Trăng phải công bố tình huống hạn mặn khẩn cấp. Hạn mặn gây thiệt hại 43.000 ha lúa, 80.000 hộ dân thiếu nước sinh hoạt. Chính phủ đã chi 530 tỷ đồng cho 6 tỉnh chống hạn mặn.

Cái gì tiếp theo – What comes next:

Từ những ảnh hưởng khô hạn mặn hay sụt lún – trong khi là những vấn nạn chưa có lời giải, dẫn tới kinh tế bấp bênh khiến Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trù phú lại là vùng có tỷ suất xuất cư (ly hương) cao nhất nước theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2019. Giai đoạn 5 năm, từ tháng 4/2014 đến ngày điều tra dân số 1/4/2019, tỷ suất xuất cư của ĐBSCL là 45/1000 trong khi trung bình cả nước là 22/1000. Tổng cộng toàn vùng có 728.800 người xuất cư trong giai đoạn 2014 – 2019. Đến năm 2019, dân số ĐBSCL là hơn 17,2 triệu người. Điều này đồng nghĩa, người dân miền Tây có xu hướng ly hương cao hơn gấp đôi trung bình của cả nước. Ngược lại với xu hướng ly hương của miền Tây, Đông Nam Bộ tiếp tục là điểm đến thu hút nhất đối với người di cư; với 1,3 triệu người nhập cư trong giai đoạn 2014-2019. Phần lớn người nhập cư đến Đông Nam Bộ là từ ĐBSCL (710.000 người, chiếm 53,2%). Nghĩa là trung bình hai người nhập cư vào Đông Nam Bộ thì có một người miền Tây.

Dấu hiệu rủi ro – Risk signals:

Thuở xưa, Bến Tre là vùng đất được phù sa bồi đắp, nằm ở cuối nguồn sông Mekong, gồm ba cù lao: cù lao Minh, cù lao Bảo và cù lao An Hóa hợp thành. Từ thế kỷ 18, những lưu dân miền Bắc, miền Trung hành trình bằng ghe, men theo bờ biển xuôi về phương Nam. Khi đến những chỗ đất giồng ở Ba Tri, họ neo ghe, đốn rừng, trồng rẫy, lập nên những xóm ấp đầu tiên ở Bến Tre. Theo sự mô tả của Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục, thì Bến Tre thuộc xứ Đàng trong, khi ấy là vùng đất phủ màu xanh của rừng rậm trải dài hàng ngàn dặm, nhưng bên trong rừng là các “lõm dân cư” sinh sống. 300 năm sau, màu xanh của những cánh rừng rậm xưa giờ được thay thế bởi màu xám của những vạt đồng khô cháy, nứt nẻ. Con cháu của tiền nhân mở cõi năm xưa giờ lại ly hương từ miền Tây lên miền Đông… với những “kỷ lục” buồn: tỷ lệ dân số tốt nghiệp THPT (11,3%) thấp và tỷ lệ dân số có trình độ chuyên môn kỹ thuật (9,7%) thấp nhất nước.

Trẻ em, tương lai của miền Tây cũng không được thụ hưởng giáo dục tốt với tỷ lệ trẻ em thất học cao nhất các vùng miền Nam (13,3 %, trung bình cả nước 8,3%) bên cạnh tỷ lệ tăng dân số thấp nhất của vùng châu thổ sông Cửu Long và cả nước trong khi chỉ số già hóa dân số lại là cao nhất;

… là kết cục buồn của một “vùng cò bay mỏi cánh” chăng…?

… con người luôn cảm tính, bản năng nhưng ở đây còn là câu chuyện ngắn hạn và ích kỷ với ngàn đời sau…

xxx – npl

<Week 27 – 30/04/2020…>

After nearly a month of social isolation, right on the holidays of 30/4 and 1/5 lasted up to 4 days, many families came back to their hometowns, traveling for “fresh breaths”, causing the gates of Ho Chi Minh City to be jammed under strong sunshine severely, long queues to some places…

Main events:

From the evening of 29 until the morning of 30/4, passenger cars, cars, motorbikes were lined up on Highway 1 – the section passing Binh Chanh and Binh Tan districts, the gateway to the western provinces. From An Lac roundabout toward Binh Dien bridge, vehicles had difficulty moving. Throughout the night until noon, many families carried each other on motorcycles, dangling luggage, sweating when they had had to inch slightly under the hot sun of 37oC. At the road leading to the Ho Chi Minh City – Trung Luong highway, towed trucks about 2 km long. At Cat Lai ferry port (the eastern gateway of the city), motorbikes and cars also queued for hundreds of meters to wait for the ferry. Terminal staff had had to give priority to motorbikes first to avoid crowding, causing cars to wait about an hour to approach the ferry…

Kenh Lap Lake – the largest freshwater reservoir in the West, reserved one million m3 but shallowed, making more than 11,000 households in Ba Tri lack water for living. Kenh Lap Lake (Tan Xuan Commune) was nearly 5 km long, 40-100 m wide, which had been a canal from the French period was filled at both ends. After a long drought, at midday late April, most of the lake had dried up … The canoes people used to fish around the lake also laid idle. Reservoir a million cubic meters of water, now only small puddles with the deepest place more than a meter, the wild lotus were also withered. Because of the shallow lake, the flocks of birds, and the stork, thousands of herds had come here for days to find food. Along the lake, the water pumps were idle, because under the pipe system was the dry cracked ground. The harvested fields were still inert, strewn ground, abandoned vegetable fields, greenery and weedy trees, withered from the heat …

Why is it affected:

Kenh Lap reservoir had a capacity of nearly one million m3 of water, enough to serve about 200,000 people in 24 communes and towns in the area, was the largest artificial freshwater reservoir in the West; the construction started in 2017, passing through the three communes of Tan Xuan, Phuoc Tuy and Phu Ngai, with a total budget of about VND 85 billion funded by central and local budgets. After being put into use for three months, the lake was saline. A farmer living in a farming area; as usual in the morning, he went to the side of the hut carrying three 30-liter plastic cans, but instead of going to the edge of the lake to draw water as usual, he put on a tractor, then ran more than 2 km, to the public well sponsored by generous people, had been operating for about half of this month. “Previously, although the lake was salty, ducks still could drink. These days, the lake dried up, and there was no more water,” he said. After collecting three cans of water, the farmer drove it to the duck farm and dumped it into brass. In addition to the flock of ducks, he also reared 9 cows. To have water for them to drink, he had to buy from barges for VND 70,000 per m3. Expensive costs, so a few days ago, he spent 5 million for drilling wells; however, the well had to be abandoned, due to alum contamination. Four members of his family for several months were fortunate enough to still have limited rainwater stored in cement tanks, still had to save it to wait for the rainy season coming. He was also just one of more than 11,000 households suffered lacking water for living in Ba Tri during this season, as 12 water supply stations in the area were saline water, people had to buy fresh water, sometimes up to VND 150,000 per m3. More than 4,300 hectares of rice were sowed with dried grain, farmers had to cut cows. Cow, goat and pig herd of more than 100,000 were also in serious water shortage. It was estimated that the total damage caused by saline drought in this district had been about VND 150 billion.

Key trends:

Ba Tri was the district with the largest rice area in Ben Tre, this crop, nearly 5,000 hectares of sowing rice were saline intrusion, almost total damage. “Salty drought storm” also swept to neighboring areas, threatening more than 4,000 hectares of ornamental flowers, fruit trees in the “capital” of Cho Lach flowers and 1,000 hectares of giant freshwater shrimp ponds in Thanh Phu oceanic area. Under the canals, the previously hyacinth fulfilled river sections, boats and vessels were difficult to travel – the same wild duckweed that had no way of killing them – could not survive with salty river water like pure salt; this season, both fresh water and tap water were contaminated with salt water, thousands of households had to buy fresh water to use, with prices sometimes up to VND 300,000 per m3. The trees were arid, withered from lack of water; under the scorching sun, dozens of cows were tensed up, the water too salty – the more they drank the thirst, the stomach could not contain any more … This year’s salt season came abnormally early and prolonged causing 6 provinces, including Ben Tre and Tien Giang, Long An, Kien Giang, Ca Mau and Soc Trang to declare emergency salinity drought. The drought causes 43,000 hectares of rice damage, 80,000 households lack water for daily use. The government had spent VND 530 billion on 6 provinces to combat salt drought.

What comes next:

From the effects of drought or subsidence – while these were still unresolved issues, leading to economic uncertainty, the Mekong River Delta (Mekong Delta) was a rich region with a highest out-migration rate (exile) in the country according to the results of the Population and Housing Census 2019. In the 5-year period, from April 2014 to the census date of 1/4/2019, the out-migration rate of the Mekong Delta was 45/1000 while the national average of 22/1000. In total, the whole region had 728,800 people emigrating between 2014 and 2019. By 2019, the Mekong Delta’s population would be over 17.2 million. This meant that people in the West had tended to exile more than double the national average. Contrary to the trend of the Western region, the Southeast continued to be the most attractive destination for migrants; with 1.3 million immigrants between 2014-2019. The majority of immigrants to the Southeast were from the Mekong Delta (710,000, accounting for 53.2%). This meant that on average, every two people to the Southeast, there was one from the West.

Risk signals:

In the past, Ben Tre was the alluvial land, located at the end of the Mekong River, including three islets: Minh, Bao and An Hoa islet. From the 18th century, the migrants from the North and Central Vietnam traveled by boat and traveled along the coastline to the South. As they reached to the land in Ba Tri, they anchored, cut down forests, planted fields, established the first hamlets in Ben Tre. According to Le Quy Don’s description of Phu Bien Tap Luc, Ben Tre had been in “Dang Trong”, then the green-covered area of ​​the jungle stretched out for thousands of miles, but inside the forest were “residential dents” living. 300 years later, the green of the ancient forests was now replaced by the gray of the dry, cracked fields. Descendants of the ancestors who had firstly “opened the new land” in the past now resided from the West to the East… with sad “records” of: the low proportion of high school graduates (11.3%) and the lowest proportion of the population with a specialized technical education (9.7%) in the country.

Children, the future of the West also did not receive good education with the highest rate of illiterate children in the South (at 13.3%, while the national average of 8.3%), in addition to the lowest population growth rate in the Mekong Delta and the whole country while the aging index was the highest;

… was the sad ending of a “to tired flying stork land” …?

… people had been always emotional and instinctive, but here was a short-term and selfish story to the next thousands of generations …

xxx – npl

Cú hích – The pokes…

  • For English version, please scroll down –

 

Mọi sự đều có hai mặt, ẩn chứa cả mặt tốt và không tốt… vì chúng ta tất cả đều cảm tính. Trong thời kỳ khó khăn, một sự phá vỡ cấu trúc nền kinh tế cũng là một cơ hội được che đậy. Để tồn tại, và cuối cùng, để phát triển mạnh mẽ, các công ty phải học cách khai thác nó. Không có gì ví như cuộc khủng hoảng – một cơ hội để gột rửa tâm trí. Trong thời điểm biến động đột ngột, cần phải có một chiến lược; và trên thực tế, không như hầu hết những điều mọi người vẫn định nghĩa về chiến lược – tuyên bố sứ mệnh, mục tiêu táo bạo, kế hoạch ngân sách ba đến năm năm…; ở đây là một chiến lược thực sự…

Không sốt hay đau họng, cũng không cảm thấy mệt mỏi, ho khan hay có các vấn đề về tiêu hóa; vẫn cảm thấy khỏe mạnh, nhưng bí ẩn là ai đó trong chúng ta có thể đã mất khứu giác hoặc vị giác. Được biết đến như chứng mất vị giác, sự mất cảm giác này đang nổi lên như một triệu chứng ở những người mang mầm bệnh không biểu hiện bên ngoài khác của Covid-19. Mặc dù dữ liệu còn hạn chế, tờ New York Times báo cáo rằng các bác sĩ tai mũi họng (ENTs) có tập hợp đủ thông tin để đưa ra cảnh báo, nhưng với các ENT ở Vương quốc Anh, họ yêu cầu những người mắc chứng mất vị giác đột ngột phải cách ly trong ít nhất bảy ngày. Theo tờ Times, các bác sĩ người Anh đã trích dẫn các báo cáo từ các quốc gia khác chỉ ra rằng số lượng bệnh nhân coronavirus đáng kể đã trải qua chứng mất vị giác; ở Hàn Quốc, nơi xét nghiệm quy mô lớn, 30% trong số 2.000 bệnh nhân xét nghiệm dương tính mắc chứng mất vị giác. Và đó là lý do tại sao những người cảm thấy khỏe mạnh phải cảnh giác…

Nhưng, mất vị giác và khứu giác trong thời gian giãn cách khi nhiều người tìm kiếm sự “bình an” trong rượu vang và thực phẩm thì chắc chắn đây là một sự thất vọng, một thảm họa; nhưng thực sự lại ở chỗ những người mắc chứng mất vị giác có thể vô tình lây truyền virus sang những người có hệ thống miễn dịch dễ bị tổn thương. Bất cứ ai cũng có thể đối mặt với điều tương tự?

Từ những ảnh hưởng của Covid-19 cũng như cảnh giác về khả năng lây nhiễm và tái lây nhiễm Covid-19 vào cộng đồng dù vừa qua thời hạn cách ly và giãn cách xã hội, vẫn rất cần thận trọng phòng tránh cho sức khỏe của mỗi người;

bên cạnh đó, người Việt ngày càng chú trọng nâng cao ý thức chất lượng cuộc sống và sức khỏe, trong đó, 20% – 40% thu nhập dành cho chi phí ăn uống, gồm: cả chi phí ăn chính và những bữa ăn với bạn bè, người yêu, gia đình… và “bên ngoài” – nhu cầu thưởng thức ẩm thực tại các quán ăn, nhà hàng đang dần phổ biến trong cuộc sống của người Việt Nam.

Cho tới cuối 2019 trước khi Covid-19, Hà Nội đang có khoảng 3.500 quán kinh doanh cafe, đồ uống và hơn 5.000 nhà hàng quán ăn; ở TP.HCM con số này lớn hơn rất nhiều. Theo một thống kê tổng quát về ngành ẩm thực của Việt Nam, xét ở khu vực dịch vụ ăn uống, Việt Nam có trên 540 nghìn cửa hàng ăn uống, trong đó có 430 nghìn cửa hàng nhỏ, hơn 7 nghìn nhà hàng thức ăn nhanh, 22 nghìn nhà hàng cà phê, bar với hơn 80 nghìn nhà hàng phát triển bài bản. Dự kiến nhu cầu vẫn không ngừng tăng cao trong năm 2020. Hãng nghiên cứu thị trường BMI dự đoán, tốc độ tăng trưởng ngành thực phẩm và đồ uống sẽ cao hơn trong giai đoạn 2016 – 2020, trong đó khả năng Việt Nam sẽ đứng ở vị trí thứ ba Châu Á.

Năm 2018, cùng với phát triển nở rộ của công nghệ, ngành ẩm thực chứng kiến sự vươn mình vượt trội của loại hình giao đồ ăn cùng với sự định hình phân loại thông qua đánh giá của người tiêu dùng về thực phẩm mà họ đang sử dụng. Điều này đặt ra thách thức không nhỏ với loại hình truyền thống, thách thức các nhà quản lý nhà hàng, quán ăn thích nghi với những thay đổi thị trường qua những yếu tố định hình xu hướng nổi lên trong năm 2019 vừa qua. Năm 2020 được dự đoán sẽ là cơ hội phát triển của nhiều mô hình kinh doanh ẩm thực vừa và nhỏ – phát triển sâu phân khúc thị trường ngách đáp ứng nhu cầu của thực khách đang hướng tới hương vị độc đáo, mới lạ, thơm ngon và phù hợp với túi tiền…

Từ những ảnh hưởng lên xã hội như cách ly, đại dịch COVID-19 đã thay đổi cuộc sống, thói quen, đặc biệt, thay đổi cách sử dụng internet; dữ liệu cho thấy một cái nhìn sâu sắc thú vị về tác động của đại dịch và hành vi sử dụng – đã thay đổi mối quan hệ của con người với công nghệ; có thể nói bị “mắc kẹt” tại nhà trong đại dịch Covid-19, các rạp chiếu phim đóng cửa và không có nhà hàng nào để ăn tối, người ta đã dành nhiều chỗ trong cuộc sống của họ hơn để lên “mạng”. Trong một phân tích của New York Times về việc sử dụng internet ở Hoa Kỳ từ SameWeb và Apptopia, hai nhà cung cấp dữ liệu trực tuyến, cho thấy hành vi của người dân thay đổi, và rõ ràng, khi virus lây lan và đẩy mọi người gần hơn nữa với các thiết bị điện tử để làm việc, chơi, giải trí thư giãn và kết nối…

Sẽ thật sự bất ngờ khi dữ liệu cho thấy, các dịch vụ trò chuyện video như Google Duo, Hangout, Whatsapp và Zalo đều có lượng truy cập tăng mạnh kể từ ngày 21 tháng 1. Tương tự, các ứng dụng làm việc từ xa phổ biến, bao gồm Zoom, Microsoft Teams và Google Classroom, đã trở nên phổ biến hơn. Tuy người ta vẫn nghi ngờ chất lượng các dịch vụ này, nhưng có lẽ không ai không nhận ra chúng đã bùng nổ đến mức nào cho đến khi nhìn vào báo cáo phân tích. Tại Mỹ, kết luận còn đáng ngạc nhiên hơn;  ví dụ: nhìn vào lưu lượng truy cập trung bình hàng ngày của Facebook, Netflix và YouTube [qua trang web] từ ngày 15 tháng 1 đến ngày 24 tháng 3. Trong khi những ứng dụng đó trên di động đã cho thấy lưu lượng truy cập tăng lên rất nhỏ trong khoảng thời gian đó (hoặc thậm chí giảm) – thì ngược lại lượng truy cập qua trình duyệt tương ứng đã tăng vọt; thậm chí, chúng còn thay đổi cách mọi người tìm kiếm tin tức – điển hình là lưu lượng truy cập đến các tờ báo địa phương và quốc gia đã tăng vọt…

là một thực tế mới, nhưng có thể khó xác định chính xác liệu những thay đổi đối với hành vi của con người đó là từ chính loài người hay là dấu hiệu cho sự khởi đầu của một thay đổi lớn hơn.

Trong vài năm qua, người dùng các dịch vụ trực tuyến ngày càng chuyển sang điện thoại thông minh của họ, tạo ra sự tập trung toàn ngành vào thiết bị di động. Bây giờ khi chúng ta đang cách ly – dành thời gian ở nhà, với máy tính bên cạnh, dường như sẽ khá khó chịu khi phải tập trung nhìn vào những màn hình điện thoại nhỏ bé đó trong một thời gian dài. Facebook, Netflix và YouTube đều đã thấy số người dùng trên các ứng dụng điện thoại của họ bị đình trệ hoặc giảm xuống trong khi qua các trang web của họ đột biến, dữ liệu từ SameWeb và Apptopia chỉ ra việc này đặc biệt xảy ra với người tiêu dùng Hoa Kỳ.

Trong khi các trang mạng xã hội truyền thống cũng đang tăng, có vẻ như loài người muốn làm nhiều hơn là chỉ kết nối thông qua tin nhắn hay văn bản – con người muốn gặp nhau, muốn giao tiếp. Điều này đã mang lại một động cơ lớn cho các ứng dụng trò chuyện video Google Duo, Hangout, Whatsapp và Zalo, cho phép các nhóm bạn tham gia trò chuyện video và chơi trò chơi cùng với nhau phát triển. Con người dù sao cũng quan tâm nhiều hơn đến môi trường trực tiếp của chính họ, cách nó thay đổi qua phản ứng với virus và các biện pháp kiểm dịch. Điều này đã dẫn đến một sự quan tâm mới đối với các trang web truyền thông và mạng xã hội tập trung vào việc kết nối cộng đồng và bè bạn.

Thực tế, đối tượng hưởng lợi lớn nhất là các trang tin tức [địa phương], với lưu lượng truy cập rất lớn khi mọi người cố gắng kiếm thông tin về đại dịch cũng như ảnh hưởng và sự lây lan của chúng. Các thương hiệu truyền thông có uy tín như CafeF, Vnexpress, 24h có lượng truy cập đột biến tìm kiếm thông tin về cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng và hậu quả kinh tế của nó. Tương tự, ở Hoa Kỳ, CNBC, trang tin tức kinh doanh, đã chứng kiến lượng độc giả tăng vọt. Các trang web của New York Times và The Washington Post đều tăng lưu lượng truy cập hơn 50% so với tháng trước, theo SameWeb.

Khi tất cả các trò chơi thể thao giải đấu lớn đã bị loại bỏ, trong đó có những sự kiện thể thao được trông đợi như giải đua F1. Tương tự, việc sử dụng trang web của ESPN đã giảm mạnh kể từ cuối tháng 1. Đồng thời, một số trang web trò chơi video đã có lưu lượng truy cập tăng đột biến, cũng như với các trang web cho phép bạn xem người khác chơi. Twitch, trang web hàng đầu để chơi trò chơi phát trực tuyến, đã có lưu lượng truy cập tăng 20%. TikTok ứng dụng di động với các đoạn phim ngắn từ trò chơi khăm tới hát nhép, đã cất cánh trước khi dịch coronavirus bùng phát và… nó vẫn tiếp tục đi lên kể từ đó. Và,

ít nhất còn một số thứ vẫn không thay đổi bởi cuộc khủng hoảng…

Rõ ràng,

việc làm sáng tỏ tầm quan trọng của một sự kiện khó hơn là việc kể lại chúng. Thiết nghĩ rằng chúng ta đang xem xét một sự phá vỡ cấu trúc với quá khứ một cụm từ kinh tế lượng, trong đó nó biểu thị thời điểm trong dữ liệu chuỗi thời gian khi xu hướng và mô hình liên kết giữa các biến thay đổi.

Một cuộc khủng hoảng doanh nghiệp thường là một dấu hiệu cho thấy mô hình kinh doanh của công ty đã nói lên rằng, cấu trúc cơ bản của ngành công nghiệp đã thay đổi đáng kể, vì vậy những cách kinh doanh cũ không còn hiệu quả nữa. Tương tự như vậy, các tờ báo hiện đang khủng hoảng khi Internet thu hút độc giả và quảng cáo của họ. Nhu cầu về thông tin và phân tích ngày càng tăng, nhưng các phương tiện xuất bản truyền thống gặp khó khăn trong việc kiếm tiền từ nó.

Nguyên tắc tương tự áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế. Trong hầu hết các cuộc suy thoái trong 40 năm qua, nhu cầu bắt kịp với công suất và tăng trưởng trở lại sau 10 đến 18 tháng. Sự suy thoái này cảm thấy khác biệt bởi vì thật khó để tưởng tượng sự tái cấu trúc đầy đủ của các dịch vụ tài chính hoặc sự quay vòng nhanh chóng trong tiêu dùng. Ngoài hai điểm nóng này, dường như có những xu hướng không bền vững về giá cả hàng hóa, nhập khẩu dầu, cán cân thương mại quốc gia, tình trạng của các trường học, và những lời hứa lớn về quyền lợi – sự hỗ trợ. Khi mô hình kinh doanh của một phần hoặc toàn bộ nền kinh tế thay đổi theo cách này, sự phá vỡ cấu trúc đã hình thành để trở thành chủ đề nóng tiếp theo…

Phá vỡ cấu trúc làm cho nhiều mô hình hành vi hiện có thay đổi hoặc biến mất, nhưng việc đó lại chỉ ra con đường phía trước cho một số công ty và đôi khi ngay cả đối với toàn bộ nền kinh tế. Ví dụ, cuộc suy thoái kéo dài năm 1893 đã đánh dấu kết thúc của sự bùng nổ đường sắt, và sự khởi đầu của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên hàng tiêu dùng tinh vi. Milton Hershey xây dựng thương hiệu sô cô la sớm và lợi thế phân phối của mình ở giữa những thời điểm khó khăn đó. General Electric là một sản phẩm cùng thời, vì sự phá vỡ cấu trúc cũng đánh dấu sự phát triển của một nền kinh tế mới dựa trên điện. Mặc dù những năm 1930 là thời kỳ rất khó khăn đối với Hoa Kỳ, nhưng không phải mọi ngành công nghiệp hay doanh nghiệp đều bị từ chối. Khi nền kinh tế chuyển dịch ồ ạt từ hàng hóa tư bản sang hàng tiêu dùng, một số ngành công nghiệp như thép, cao su, than, thủy tinh, đường sắt và tòa nhà đã bị ảnh hưởng rất nhiều, nhưng các thương hiệu tiêu dùng như Kellogg, đã đạt được bước tiến. Tương tự như vậy, trong thập kỷ từ 1996 đến 2005, chi tiêu chung của người tiêu dùng vẫn khá bằng phẳng ở Nhật Bản. Tuy nhiên, nền kinh tế xoay chuyển sang những điều mới. Đất nước này, chẳng hạn, có hơn 200 nhãn hiệu nước giải khát, và mỗi cửa hàng tiện lợi nhỏ Seven-Eleven Nhật Bản mang theo hơn 50 bất cứ lúc nào. Khoảng 70 phần trăm của các thương hiệu này biến mất mỗi năm và được thay thế bởi những thương hiệu mới…

Sự phá vỡ và thời điểm khó khăn là những dấu hiệu chắc chắn cho thấy một mô hình cũ đã được đẩy đến giới hạn của nó và đang phá hủy giá trị. Hãy xem xét các ưu đãi trong ngành tài chính như một ví dụ về mô hình như vậy. Nhiều thập kỷ nghiên cứu chỉ ra không có bằng chứng cho thấy bất cứ điều gì ngoài may mắn giải thích lý do tại sao một số nhà quản lý quỹ vượt trội hơn những người khác. Một mô hình khác có thể tạo ra lợi nhuận giảm dần hoặc tiêu cực là sự phức tạp khó hiểu của hệ thống quản lý và kinh doanh. Ngành công nghiệp dịch vụ tài chính cũng là một con đẻ cho các chi phí của loại hình phức tạp này. Các cơ quan quản lý tốt nhất có thể làm trong trường hợp này là cấm một số loại hành vi…

Vì vậy, trong thời gian phá vỡ cấu trúc tại thời điểm khó khăn, việc cắt giảm chi phí là không đủ. Mọi thứ phải được thực hiện khác nhau, và trên hai cấp độ: giảm sự phức tạp của cấu trúc doanh nghiệp và chuyển đổi mô hình kinh doanh. Ở cấp độ công ty, điều ưu tiên đầu tiên là đơn giản hóa và đơn giản hóa lại. Vì các công ty phải cấu trúc “lắp ghép” (module) và đa dạng hơn, loại bỏ các ủy ban điều phối, hội đồng đánh giá và các cơ chế khác kết nối các doanh nghiệp, sản phẩm hoặc địa lý. Mục đích của những cắt giảm này là cung cấp các dịch vụ trung tâm và hỗ trợ tinh gọn mà không yêu cầu các đơn vị kinh doanh phải dành thời gian và năng lượng để điều phối các hoạt động của họ. Chia các đơn vị lớn hơn thành các đơn vị nhỏ hơn để tiết lộ các khoản trợ cấp chéo và phá vỡ các phong tỏa chính trị. Đâu đó có thể cho rằng chi phí phối hợp sẽ tăng nếu phân chia doanh nghiệp, nhưng thực tế buộc phải làm như vậy để chỉnh lại những gì phải được sắp xếp hợp lý.

Nói chung,

nhiệm vụ đầu tiên là hiểu cách một doanh nghiệp tồn tại, cạnh tranh và kiếm tiền trong quá khứ. Nếu doanh nghiệp quá phức tạp để hiểu, hãy chia nó thành những phần dễ hiểu. Một khi đạt được sự hiểu biết quan trọng này, chúng ta có thể bắt đầu công việc định hình lại. Ở đây không có cái gọi là công thức kỳ diệu: cải cách một doanh nghiệp luôn có cái nhìn sâu sắc và trí tưởng tượng…

Mùa dịch,

các nhà hàng ở mọi nơi phải đấu tranh để tồn tại giữa vô số những hạn chế chặt chẽ. Trên khắp thế giới, các thành phố và hệ thống thực phẩm và chuỗi giá trị của họ đang bị ảnh hưởng bởi sự lây lan của Covid-19 theo nhiều cách khác nhau và những thay đổi mạnh mẽ cũng vì vậy mà diễn ra ở nhiều mức độ hiệu quả khác nhau – cách mà chính cộng đồng đối phó và thích nghi trong thế giới đầy biến động này:

  • Hiện tại ở Paris, người ta chỉ có thể rời khỏi nhà để mua thực phẩm thiết yếu hoặc các mặt hàng khác, chăm sóc y tế, chăm sóc trẻ em hoặc người bị bệnh hoặc ốm yếu, những công việc thiết yếu không thể thực hiện tại nhà hoặc một số lượng nhỏ bài tập đơn độc trong khu phố của họ. Trước khi cách ly hoàn toàn, trường học đã đóng cửa và mọi người được yêu cầu làm việc tại nhà; và rất nhanh sau đó, một thông báo vào tối thứ bảy, nhà hàng, quán bar, bảo tàng, rạp chiếu phim, các công viên và chợ công cộng cũng đóng cửa. Việc kiểm dịch lần đầu tiên thực tế là một trở ngại rất lớn đối với thói quen, thú vui và sự tiện lợi của cuộc sống hàng ngày ở Paris – nơi đối với phần lớn người dân, nhà hàng, mua sắm thực phẩm và giao thức ăn là quan trọng nhất. Giờ đây, như một thử thách tâm lý sâu sắc bắt đầu xuất hiện liên quan đến từ sự cô lập, sợ hãi và suy ngẫm về cuộc sống. Sự cần thiết phải thực hiện việc nấu ăn tại nhà ban đầu là niềm vui đối với nhiều người, nhưng nó bắt đầu bị bào mòn ngày này qua ngày khác, điều này nhắc nhở mọi người nhớ về các đầu bếp và ngành công nghiệp nhà hàng. Hàng ngàn nhà hàng ở Pháp sẽ không sống sót sau vụ đóng cửa này, vì tỷ suất lợi nhuận của họ đã mỏng và thường chỉ có nguồn tiền mặt tối thiểu. Điều này cũng sẽ có tác động khủng khiếp đối với nông dân, người làm pho mát, nhà sản xuất rượu vang… Toàn bộ chuỗi thực phẩm của Pháp trở nên mong manh và cần sự hợp tác hơn khi chỉ có các nhóm nhà hàng lớn như Alain Ducasse và các nhà sản xuất thực phẩm công nghiệp lớn tồn tại;
  • Khách du lịch là chìa khóa để hỗ trợ trào lưu thực phẩm chậm Ý và các sản phẩm thực phẩm thủ công. Với lượng du khách đã sụt giảm, những nhà cung cấp và thực phẩm sản xuất có nguy cơ ngừng sản xuất, điều này cũng sẽ làm mất đi truyền thống được bảo vệ an toàn hoặc đa dạng sinh học mà thực phẩm Ý được tôn vinh rộng rãi;
  • Tại Budapest, các trường học đã bị đóng cửa, tất cả các sự kiện công cộng bị hủy bỏ, vì vậy đường phố vắng tanh và mọi người được khuyến khích ở nhà. Các nhà hàng và quán cà phê có thể hoạt động đến 3 giờ chiều, sau đó họ phải đóng cửa hoặc chuyển sang dịch vụ giao hàng. Vấn đề là, vô số nhà hàng Budapest phụ thuộc vào khách du lịch. Thành phố đã dọn sạch du khách nước ngoài và hầu hết người dân địa phương không thể đủ khả năng trả 10 euro cho một món ăn chính. Điều này có nghĩa là chúng ta không chỉ cần cuộc sống, mà cả du lịch phục hồi trở lại; bởi vậy, sẽ còn phải lâu hơn nữa…
  • Cùng lúc, Phần Lan đang trong tình trạng khẩn cấp quốc gia. Chính phủ quyết định đóng cửa tất cả các viện bảo tàng và nhà hát dù ngành văn hóa đang có một cú hích lớn, và đất nước này đã đóng cửa biên giới ngoại trừ vận chuyển hàng hóa. Các nhà hàng và quán cà phê vẫn được phép duy trì mở cửa, nhưng nhiều người đã quyết định đóng cửa, như S-Group, nơi đang đóng cửa mạng lưới 82 nhà hàng ở Helsinki. Việc sa thải đang diễn ra mọi nơi, và nỗi sợ phá sản trở nên đặc quánh trong không khí…
  • Ở châu Á, Kuala Lumpur cũng đang trong tình trạng bị “khóa” hoàn toàn, và không ai được phép vào hoặc ra khỏi đất nước. Lực lượng thực thi pháp luật và quân đội đang sử dụng các cuộc tuần tra và rào chắn để thực thi lệnh giới nghiêm, đảm bảo mọi người chỉ ra ngoài nơi công cộng để mua nhu yếu phẩm hoặc giúp đỡ người già hoặc những người không thể tự giúp mình. Hai dịch vụ giao thực phẩm lớn trong khu vực là GrabFood và FoodPanda vẫn đang cung cấp và khuyến khích người dân đặt hàng thực phẩm. Tuy nhiên, cả hai shipper này dường như đang tống tiền các nhà hàng – Grab lấy 20 đến 25% phí cho mỗi đơn hàng và FoodPanda tính phí 30% – một gánh nặng khủng khiếp cho các nhà hàng tại thời điểm này, vì họ chỉ được phép phục vụ thức ăn bằng cách lấy hàng hoặc giao hàng;
  • Còn tại Việt nam, có thể nói, chưa bao giờ hoạt động kinh doanh nhà hàng ăn uống lại rơi vào tình trạng khó khăn nặng nề như thời gian vừa qua. Dịch COVID-19 bùng phát trên toàn thế giới, lan rộng toàn Việt Nam khiến cả nước căng mình chống dịch. Người dân lo lắng trước nguy cơ nhiễm dịch bệnh; và cũng vì thế, thói quen tiêu dùng gần như thay đổi hoàn toàn; có ảnh hưởng từ hạn chế đến những nơi đông người, tránh tiếp xúc khi không cần thiết… Trong bối cảnh đó, những người kinh doanh nhà hàng, quán ăn và nhà hàng ăn nhanh… rơi vào tình trạng “ngồi trên đống lửa”; mỗi ngày mở mắt ra, họ phải đối mặt với hàng loạt chi phí như thuê mặt bằng cho nhà hàng, chi phí nhân công, nguyên vật liệu, phần mềm quản lý nhà hàng… Các nhà quản lý đau đầu tìm kiếm giải pháp mong sao có thể cắt giảm bớt chi phí, gia tăng doanh thu để duy trì và củng cố ổn định hoạt động kinh doanh của nhà hàng… Giải pháp giao hàng tận nơi cũng được nhiều nhà hàng lựa chọn khi lệnh cách ly hiệu lực…

Giờ đây, cùng với những khó khăn, những người làm việc tại hầu hết mọi nhà hàng trên toàn cầu đang phải chịu một nỗi kinh hoàng tàn khốc hơn, một người bị đe dọa không chỉ với tiền lương mà còn cả sức khỏe của họ. Bỗng nhiên vào một ngày khủng khiếp cho cả chủ sở hữu và người lao động, cả hai điều đáng sợ có nghĩa là không có khách và điều gì sẽ xảy ra nếu khách hàng nhiễm virus, việc đóng cửa hàng loạt đang diễn ra, và hoàn toàn không ai có thể đoán được chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo…

Nếu nhân viên y tế là người đầu tiên gióng lên hồi chuông cảnh báo về mối đe dọa nghiêm trọng thì coronavirus mới chính là thước đo cho sức khỏe, và nhân viên nhà hàng là người đầu tiên cảnh báo chúng ta về mối đe dọa mà nó gây ra cho nền kinh tế của chúng ta. Cuộc khủng hoảng tài chính 2008 và 2009 hay dịch SARS đã nghiền nát ngành công nghiệp nhà hàng sau nhiều tháng đóng cửa và thông qua sự tiêu hao dần dần, tàn khốc. Nhưng bây giờ, các nhà hàng ở các thành phố lớn trên khắp cả nước đang đóng cửa cùng một lúc trong vài ngày, không biết khi nào họ sẽ mở cửa trở lại, hoặc thậm chí họ có thể không bao giờ mở lại nữa…

Những người làm việc trong thế giới nhà hàng và những người yêu thích nó đang trải qua cảm giác đau buồn thực sự khi cuộc sống đang bị trì hoãn, và những nơi chúng ta sẽ cần nhất để xây dựng lại lại có nguy cơ biến mất vĩnh viễn. Nỗi đau buồn đó sẽ chỉ tăng lên khi các trường hợp COVID-19 tăng lên. Bây giờ, nỗi sợ hãi thậm chí còn tồi tệ hơn, cả đối với toàn bộ ngành công nghiệp đang giảm và ngừng hoạt động; các đầu bếp, nhân viên giao hàng và nhân viên tạp hóa có nguy cơ bị căng thẳng và đối mặt với nguy cơ phơi nhiễm. Sinh kế và cuộc sống có nguy cơ – và nếu không có bất cứ can thiệp nào, sẽ mất cân bằng và đảo lộn… và thực sự trở thành mâu thuẫn thách thức.

Đối với nhiều người “trốn” trong nhà và không có không gian ngoài trời, phiên bản khu vườn “riêng tư” của họ trông hơi giống những “mảnh thế giới riêng” và giống như hành lá mọc trong ly nước trên bậu cửa sổ. Giống như nướng bánh hay cà phê và các bữa tiệc ảo thời cách ly, hình thức làm vườn cấp thấp này đã nổi lên như một trong những xu hướng của đại dịch. Đối với nhà văn Kat Thompson, việc trồng tỏi tây và hành lá của cô – những “đứa con thực vật” của cô – có ý nghĩa cả về tiền bạc và thời gian khi sự bùng phát virus gia tăng ở New York và việc mua sắm tạp hóa trở nên nguy hiểm hơn…

Sự đơn giản của loại vườn trồng rau thủy canh cũng là một lý do tại sao nhiều người, kể cả những người trồng rau lần đầu, bị cám dỗ để thử. “Nếu bạn định bắt đầu một thứ gì đó, cho dù đó là nấu ăn hay thậm chí là làm vườn, hãy bắt đầu với thứ bạn biết sẽ tạo dựng sự tự tin. Các nhu yếu phẩm hay thức ăn và phế liệu nhà bếp; hành lá trong bình đựng nước, hạt đậu còn sót lại trong nồi đất, thậm chí là cà chua, thật dễ dàng và đáng khích lệ để giải quyết động cơ gia tăng cảm hứng. Đây là tất cả những việc nhỏ mà mọi người có thể làm mà không cần phải nỗ lực quá nhiều,” theo Nik Sharma, tác giả cuốn sách dạy nấu ăn Nik Sharma. Tất nhiên, không phải tất cả mọi người hiện đang cố gắng phát triển cuộc sống mới trên bậu cửa sổ sẽ vẫn tiếp tục sau khi đại dịch kết thúc. Trước nhiều điều không chắc chắn, lãng phí thực phẩm khan hiếm và lao động – vấn đề này không thể giải thích được câu chuyện hành lá, vì nó minh chứng cho hành trình từ cánh đồng đến cửa hàng tạp hóa đến nhà bếp của mọi người…

Các nhà hàng và quán ăn từ lâu đã tồn tại một số quy định nghiêm ngặt về an toàn thực phẩm, với các sở y tế là việc thực thi các quy định về vệ sinh, nhiệt độ, rửa tay, nhiễm chéo và sử dụng găng tay để chuẩn bị thức ăn. Nhưng coronavirus mới chính thức làm cho các thủ tục đó trở nên quan trọng và cấp thiết khi ngăn chặn căn bệnh lây lan. Sau khi coronavirus tăng đột biến, nhân viên nhà hàng tuân thủ phải đeo khẩu trang. Nhưng đối với nhiều nhà hàng, khẩu trang dường như một bước bắt buộc quan trọng để ngăn chặn sự lây lan ra cộng đồng. Khi sở y tế địa phương yêu cầu mọi người thực hiện các khuyến nghị để ngăn ngừa COVID-19, là những điều cần làm vì ở đây liên quan tới kinh doanh thực phẩm. Tuy nhiên, vẫn còn những rào cản đối với việc áp dụng chúng trong môi trường công nghiệp thực phẩm. Trong nhà bếp, các nhân viên đứng cách nhau 2 mét theo quy định và đeo khẩu trang trong suốt ca làm việc; có lúc khẩu trang trở nên vướng và khó thở, đặc biệt, khi họ đứng bên nước sôi. Sau một tuần cố gắng điều chỉnh nhà hàng nhỏ Saffron De Twah của mình sang thành dịch vụ mang về (take away), đầu bếp Omar Anani đã đóng cửa vào ngày 17 tháng 3 do doanh số hạn chế và khó khăn khi đảm bảo nhân viên có thể tiếp cận công việc một cách an toàn. Anani đã tìm kiếm lời khuyên trên mạng về cách sử dụng đúng khẩu trang và thông qua nói chuyện với bạn bè và người thân trong lĩnh vực y tế. Trong khi khó có ai có thể thực sự tưởng tượng được việc kinh doanh sẽ như thế nào trong những tuần và tháng tới, Anani tin rằng khẩu trang có thể sẽ trở thành một phần thường xuyên của đồng phục mới cho nhân viên nhà hàng, chúng sẽ trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống bình thường. Phần lớn mọi người nghĩ một cách vô thức rằng nhiều năm tới mọi người sẽ ra đường với khẩu trang…

Ở phần nhiều các quốc gia, các nhà hàng ăn nhanh (Quick-Service Restaurant – QSR) đóng hoàn toàn hoặc chỉ hoạt động trên cơ sở hạn chế, cung cấp mang đi, nhận, giao hàng, lái xe qua hoặc một số kết hợp của các tùy chọn đó. Ngay cả khi một số QSR vẫn còn mở cửa, sự sụt giảm trong kinh doanh vẫn có chiều hướng tăng lên. Các cuộc điều tra về hành vi của người tiêu dùng mà McKinsey đã thực hiện vào cuối tháng 3 trên khắp châu Âu và Hoa Kỳ chỉ ra rằng trong cuộc khủng hoảng, hầu hết người tiêu dùng mong đợi giảm chi tiêu cho tất cả các món ăn từ nhà hàng, QSR hay các loại nhà hàng khác, thậm chí cả dịch vụ về thực phẩm và giao hàng.

Trong khi đó, tại Trung Quốc hay Việt Nam [trừ Hà Nội] mấy ngày trước đây, khi các hạn chế về khoảng cách vật lý đã được dần nới lỏng, các cuộc điều tra về hành vi của người tiêu dùng cho thấy ba xu hướng có thể diễn ra giống nhau ở các khu vực địa lý khác nhau:

  • Chi tiêu hậu dịch cho ăn uống tại nhà hàng dự kiến ​​sẽ thấp hơn mức trước đó, phần lớn là do người tiêu dùng vẫn sẽ cảnh giác khi ở trong không gian công cộng đông dân cư;
  • Nhu cầu về việc mang đi dự kiến ​​sẽ trở lại mức độ trước khi dịch bùng phát khá nhanh;
  • Sau đại dịch, người tiêu dùng có thể sẽ chi nhiều hơn cho việc cung cấp thực phẩm, thực phẩm chế biến sẵn và cửa hàng tạp hóa so với trước đại dịch.

Vì căng thẳng về tài chính và lo ngại về việc ăn uống ở những nơi đông người, người tiêu dùng có thể sẽ tiếp tục ăn ở nhà, ít nhất là trong thời gian tới. Và, dường như những thách thức mà mỗi QSR phải đối mặt trong cuộc khủng hoảng này là duy nhất, tùy thuộc vào vị trí thị trường và tài chính của công ty và thời gian và tiến triển của đại dịch tại thị trường [địa phương] đó.

Làm thế nào để đối mặt với thách thức và rủi ro?

Lập lại kế hoạch ngay bây giờ: Những ưu tiên ngắn hạn

Bảo vệ nhân viên và khách hàng

Cho đến nay, hầu hết nhà quản lý QSR đã thiết lập các quy trình và chính sách về sức khỏe và an toàn mới để bảo vệ nhân viên và khách hàng. QSR cũng đã điều chỉnh các dịch vụ tại chỗ của mình để tuân theo các hướng dẫn của địa phương và quốc gia; ví dụ, bằng cách tắt các quầy thức ăn tự chế biến, đình chỉ tất cả các sự kiện liên quan tới khách hàng và chuyển sang mô hình chỉ giao hàng. Liên quan đến vệ sinh và an toàn, QSR đã thiết lập các giao thức nghiêm ngặt, như cung cấp chất khử trùng tay và nhiệt kế, thiết lập kính chắn và đào tạo nhân viên để giảm thiểu tiếp xúc với con người.

Bảo vệ hàng đầu

Bất chấp các quy định giãn cách vật lý, các nhà hàng có thể tiếp tục tạo ra doanh số. Tại các địa phương cấm ăn uống tại chỗ, QSR đã tăng cường khả năng tiếp nhận và giao hàng và áp dụng các chiến thuật tiếp thị mới để tiếp cận những người tiêu dùng vốn không chủ động tìm kiếm các dịch vụ này.

Ổn định chuỗi cung ứng

Các nhà hàng cần một chuỗi cung ứng đáng tin cậy không chỉ cho các thành phần thực phẩm mà còn cho các nguồn cung cấp thiết yếu để duy trì hoạt động kinh doanh: hàng giấy dùng một lần, sản phẩm làm sạch, phụ tùng cho xe tải và xe máy được sử dụng để giao thực phẩm… Để giảm thiểu rủi ro gián đoạn trong chuỗi cung ứng, các QSR đang thực hiện một loạt các hành động; chẳng hạn như giới hạn các menu để phù hợp với những gì họ có thể dự đoán nguồn, thay thế các sản phẩm đông lạnh cho các sản phẩm tươi khi cần thiết, điều chỉnh lại các đơn đặt hàng để phù hợp với nhu cầu, xác định thay thế các nhà cung cấp, và hợp tác với các nhà sản xuất để tạo ra các kế hoạch dự phòng. Để hỗ trợ các nhà cung cấp vừa và nhỏ có thể gặp khó khăn trong cuộc khủng hoảng, một số QSR giàu tiền mặt đang điều chỉnh các điều khoản thanh toán hoặc đưa ra các lựa chọn cho vay tạm thời. Một số ít QSR có tư duy tiến bộ cũng đang tận dụng giá hàng hóa thấp trong lịch sử bằng cách mua trước nếu có thể hoặc bằng cách đặt trước năng lực vận chuyển hàng hóa.

Quản lý tiền mặt

Hầu hết các QSR xác định phục hồi một phần nhỏ của doanh thu bình thường trong thời gian trước mắt, vì vậy quản lý tiền mặt phải là một ưu tiên. Một số QSR đã hình thành một nhóm quản lý tiền mặt thường trực để có thể đánh giá đầy đủ về dự báo và tối ưu hóa nguồn tiền mặt. Để tiết kiệm tiền mặt, các nhà quản lý còn hoãn hoặc đàm phán lại các khoản thanh toán tiền thuê nhà, trì hoãn chi tiêu gián tiếp và chi tiêu vốn, và giảm chi phí nhân sự và nỗ lực tận dụng các chương trình do chính phủ hỗ trợ…

Mô hình hóa một loạt các kịch bản

Thời gian phục hồi thay đổi theo quốc gia, Trung Quốc và Việt Nam dường như hồi phục trước nhiều nước phương Tây bao gồm Ý và Hoa Kỳ. Đối với nhà quản lý chuỗi QSR có địa điểm ở nhiều thị trường, một bài tập quan trọng là lập mô hình các kịch bản 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng cho mỗi thị trường và phát triển các kế hoạch hành động cụ thể cho mọi kịch bản, đảm bảo rằng các nhà lãnh đạo công ty được liên kết về các kịch bản cũng như danh mục hành động cho từng kịch bản. Ví dụ, nếu các nhà hàng vẫn đóng cửa trong 6 tháng, thời gian, các QSR có thể cần giảm chi phí cố định bằng cách đàm phán lại hợp đồng thuê và các điều khoản tín dụng hoặc bằng cách bán bất động sản. Nếu nhà hàng đóng cửa kéo dài hơn 6 tháng, một số công ty có thể cần tìm kiếm các dòng tín dụng mới, các đơn vị kinh doanh thoái vốn hoặc thậm chí đưa ra để bán…

Lập kế hoạch cho phục hồi: hành động trung hạn

Khi các nhiệm vụ ở nhà bắt đầu giảm và các nhà hàng mở cửa trở lại, QSR sẽ cần phải có kế hoạch để nắm bắt nhu cầu quay trở lại. Việc quay trở lại mức nhu cầu trước đó đã là giành chiến thắng ngay lập tức; do đó, QSR sẽ cần thực hiện một cách tiếp cận theo từng giai đoạn để “sống” lại lao động, hoạt động ăn uống và hỗ trợ chuỗi cung ứng. Vì các công ty QSR bước vào cuộc khủng hoảng từ vị thế mạnh sẽ có nhiều lựa chọn hơn và linh hoạt hơn trong việc chuẩn bị cho sự phục hồi.

Bảo tồn và phát triển

Phần lớn nhà hàng truyền thống hay QSR nói riêng bước vào cuộc khủng hoảng ở vị thế tiền mặt bấp bênh. Nói rộng ra, những loại hình này có xu hướng có một vài thuộc tính chung:

  • sự phụ thuộc nặng nề vào hình thức nhà hàng truyền thống;
  • sự hiện diện tối thiểu trong các kênh kỹ thuật số và phân phối;
  • các menu không đủ khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh và lòng trung thành hạn chế các chương trình;
  • có xu hướng dễ bị mất ổn định chuỗi cung ứng vì cơ sở cung ứng nhỏ và phân tán.

Trong cuộc khủng hoảng, các công ty này sẽ tập trung vào việc tránh phá sản; họ cần tìm cách điều chỉnh dịch vụ của mình trong khi bảo toàn tiền mặt. Ngay cả trong giai đoạn phục hồi, các nhà hàng giới hạn tiền mặt sẽ cần phải tiếp tục truyền thông văn hóa ý thức về tiền mặt ở tất cả các cấp của tổ chức. Họ cần phải cân nhắc thận trọng với chi tiêu, cũng là một biện pháp dự phòng trong trường hợp hồi sinh của coronavirus. Đối với các công ty này, việc tiếp tục tạo ra các dự báo dòng tiền hàng tuần và thực hiện đánh giá sức khỏe tài chính thường xuyên có vai trò vô cùng quan trọng. Họ cũng nên xem xét đàm phán lại các hợp đồng để tăng tính linh hoạt; ví dụ, bằng cách buộc tiền thuê vào doanh thu. Đồng thời, các QSR bị hạn chế về tiền mặt phải liên tục liên lạc với khách hàng của họ, đặc biệt là những người trung thành nhất của họ, họ sẽ là đòn bẩy tốt nhất để tăng nhu cầu khi nhà hàng mở cửa trở lại.

Xây dựng dựa trên thế mạnh

Ngược lại, khi QSR bước vào cuộc khủng hoảng với vị thế thanh khoản mạnh. Các công ty ổn định tài chính này có xu hướng có các kênh phân phối và kỹ thuật số được thiết lập tốt và các chương trình khách hàng thân thiết mạnh mẽ. Hầu hết đã đầu tư vào chuỗi cung ứng bằng cách xây dựng một cơ sở cung ứng ổn định và phát triển các kế hoạch dự phòng để giảm thiểu sự gián đoạn chuỗi cung ứng trong thời kỳ khủng hoảng. Trong quá trình phục hồi, các công ty này có thể tăng tốc tăng trưởng bằng cách tăng đầu tư vào các giải pháp di động và giao hàng, cung cấp các chương trình khuyến mãi bữa ăn giá trị và bữa ăn gia đình, và tập trung vào những dịp phát sinh sụt giảm lớn nhất trong cuộc khủng hoảng (bữa sáng trên đường đi làm). Họ có thể lôi kéo khách hàng quay trở lại ăn uống tại chỗ với các chương trình khuyến mãi hấp dẫn và các dịch vụ thực đơn mới. Họ cũng có thể xem xét khởi động “lực lượng đặc nhiệm” để tiến hành giảm thiểu cạnh tranh: ở một số thị trường, đối thủ cạnh tranh có thể đang gặp khó khăn hoặc có địa điểm đóng cửa. QSR đồng thời có thể đẩy mạnh các nỗ lực tiếp thị của họ trong các lĩnh vực đó để chiếm thị phần. Các công ty mạnh hơn cũng có thể tận dụng các vị trí tiền mặt của họ để tạo những động thái đột phá: ví dụ, đầu tư theo chu kỳ, mua bất động sản hoặc mua các đối thủ cạnh tranh, đơn vị kinh doanh hoặc thương hiệu đang yếu thế.

Hình dạng bình thường tiếp theo: Cân nhắc dài hạn

Khi khủng hoảng lắng xuống, tất cả các QSR phải chuẩn bị cho những thay đổi sắp tới, trong suy nghĩ và hành vi của người tiêu dùng, điều đó sẽ định hình ngành công nghiệp tiếp theo bình thường, gồm:

  • Quan tâm nhiều hơn về vệ sinh và an toàn: Người tiêu dùng sẽ yêu cầu nhiều thông tin hơn về các thành phần trong thực phẩm nhà hàng, nguồn gốc từ đâu, cách thức chế biến và của ai. Kết quả là chi phí hoạt động hàng ngày sẽ tăng lên. Chi phí đóng gói thực phẩm cũng có thể tăng. Giao hàng và tiếp nhận không tiếp xúc có thể trở thành tiêu chuẩn;
  • Nhu cầu mạnh hơn về kỹ thuật số và giao hàng: Bối cảnh cạnh tranh trong phân phối thực phẩm sẽ được chuyển đổi khi nhà quản lý xây dựng năng lực nội bộ, đầu tư vào công nghệ thế hệ tiếp theo hoặc hợp tác với các nhà cung cấp bên thứ ba. Các chương trình khách hàng thân thiết sẽ trở nên mạnh mẽ hơn khi các QSR tìm cách tăng cường sự gắn bó giữa các khách hàng;
  • Chuyển đổi chi tiêu từ nhà hàng đến các cửa hàng tạp hóa: Dấu hiệu ban đầu cho thấy một số sự thay đổi từ chi tiêu trong nhà hàng sang chi tiêu của các cửa hàng tạp hóa phát triển trong một thế giới hậu coronavirus. QSR có thể tìm kiếm các nguồn doanh thu bổ sung; ví dụ, các nhà quản lý QSR có thể xem xét tung ra các dòng sản phẩm tạp hóa hoặc mở rộng sang các kênh mới, như phục vụ B2B. Để tổn tại với mức doanh số thấp hơn, các QSR cũng có thể xem xét đánh giá lại chi phí công ty, mạng lưới nhà hàng và cơ sở nhượng quyền của họ;
  • Tăng cường tập trung vào quản lý chuỗi cung ứng: Cuộc khủng hoảng COVID-19 đang phơi bày những điểm yếu trong nhiều chuỗi cung ứng và nhấn mạnh tầm quan trọng của tính linh hoạt và khả năng thích ứng. Thách thức này sẽ thúc đẩy các QSR đầu tư vào công nghệ và năng lực của chuỗi cung ứng để họ có thể cải thiện tốt hơn và cung cấp nhanh hơn cho phù hợp với nhu cầu. Nhiều QSR cũng gặp phải sự gián đoạn chuỗi cung ứng do thiếu hụt lao động trong cuộc khủng hoảng, và điều đó có thể khiến họ đẩy nhanh đầu tư vào tự động hóa chuỗi cung ứng.

QSR và nhà hàng nói chung cần một mô hình hoạt động đủ linh hoạt để có thể đáp ứng mức độ không chắc chắn mà ngành công nghiệp phải đối mặt.

Chỉ trong hơn một tuần, nhiều cơ sở trên cả nước có thể chưa bao giờ xem xét việc giao hàng trước đây đã chấp nhận bán buôn như một phương tiện sinh tồn trong bối cảnh mới và đáng sợ được tạo ra bởi coronavirus. Và một số ít thậm chí còn tiến xa hơn một bước bằng cách trở thành điểm đến cho các mặt hàng chủ lực đựng thức ăn, làm sạch, tiếp liệu, giấy vệ sinh ngoài bánh mì nướng thông thường. Về cơ bản, các nhà hàng đang trở thành cửa hàng “đầu đường” ([convenient] corner shop). Các nhà hàng đang cung cấp tủ đựng thức ăn và cho khách hàng mượn. Ở Portland, Oregon, nhà hàng gà rán Yonder đang cung cấp thực đơn bình thường; ngoài ra còn có một thực đơn mới, được thiết kế để giúp khách dự trữ: các mặt hàng thường không có sẵn để bán, như bánh mì, sẵn sàng – để nướng bánh quy, dưa chua, và bơ có hương vị. Ở một tiệm bánh nổi tiếng ở Detroit, đã nhanh chóng chuyển hướng cung cấp các mặt hàng mang đi như salad cải xoăn và bánh quy sô cô la kiều mạch, cũng như một lựa chọn luân phiên của các mặt hàng chủ lực như bột mì, trứng, sữa và sữa chua. Định dạng, tuy còn ở giai đoạn đầu, là một yếu tố được gọi là một kế hoạch toàn diện được thiết kế để giúp chăm sóc nhân viên trong khi giảm lãng phí tại cửa hàng và tạo thu nhập. Các cửa hàng kệ hàng cung cấp thêm các tùy chọn như trứng, sữa, đậu đóng hộp, gia vị và nước rửa tay sát khuẩn – những nhu yếu phẩm hàng ngày trở nên có nhu cầu hơn kể từ khi COVID-19. Nếu việc ngừng hoạt động kéo dài lâu hơn nữa, có khả năng nhiều nhà hàng sẽ bắt đầu xem xét các mô hình này để bổ sung thu nhập ngoài dịch vụ thực phẩm…

Khi các nhà hàng, quán ăn trên khắp đất nước đóng cửa để đối phó với đại dịch, các nhà hàng chuyển sang giao hàng và mang đi – nhưng, một số đầu bếp đang phàn nàn rằng nó không đáng…

Ngày càng nhiều đầu bếp và chủ nhà hàng trên khắp đất nước, những người ban đầu cố gắng thực hiện việc giao hàng và/ hoặc giao hàng sau khi hiện các kế hoạch giãn cách xã hội, nhưng gần đây đã quyết định rằng nó quá rủi ro cho sức khỏe và sự an toàn, và thay vào đó chọn đóng cửa hoàn toàn. Tuần trước cách ly, hàng loạt nhà hàng khách sạn đóng cửa cơ sở của mình do những lo ngại về an toàn cho nhân viên và khách hàng. Một phần quyết định khó khăn này đưa ra để đóng cửa hàng nhờ vào một phần khách hàng không tôn trọng an toàn khoảng cách hoặc khẩu trang. Một người phụ nữ xuất hiện trong mồ hôi và ho. Từ góc độ tài chính, đây là quyết định khó khăn, nhưng khi liên quan tới y tế công cộng giờ đang được quan tâm nhiều thì đó là sự cấp thiết…

Các cấp quản lý đang cố gắng giải quyết một vấn đề quy mô chưa từng có, trong khi vật lộn với thông tin thay đổi nhanh chóng và đôi khi mâu thuẫn về virus và các biện pháp tốt nhất để ngăn chặn nó…

Đôi khi như ở một số nhà hàng tại quận 1 và 3 ở HCMC đã cung cấp dịch vụ mang đi tại đơn vị kinh doanh của họ cách đây 2-3 tuần, nhưng dần họ nhận ra đang phải đối phó với một vấn đề không lường trước được: khách hàng vây quanh bên ngoài mà không tuân thủ các hướng dẫn giãn cách xã hội. Đây là một vấn đề khiến các nhà hàng lo lắng từ việc xử phạt của nhà chức trách và tạo ra mối đe dọa đối với sự an toàn. Điều này đã trở nên rõ ràng khi đám đông nhân viên giao hàng và khách hàng tập trung đến mức cảnh sát vào, giải tán đám đông, và phạt nhà hàng, kết quả cuối cùng nhà hàng đã đóng cửa hoạt động. Các nhà hàng chắc chắn ý thức những gì họ đang cố gắng trong vài ngày trước khi họ hết sản phẩm dự trữ đã đặt hàng và điều này đã khiến việc chuyển sang giao hàng tạm thời cũng có thể bị gián đoạn. Việc mang đi và giao hàng rất quan trọng để kéo dài những gì họ có thể làm để có thể giữ lại và hy vọng sẽ kéo dài duy trì dòng tiền cho đến khi có thể tiếp cận hỗ trợ từ chính phủ.

Khi Quốc Hội và Chính Phủ đã thông qua gói cứu trợ an sinh xã hội VND 60 nghìn tỷ, phần nào có thể cung cấp một số cứu trợ cho các nhà hàng và nhân viên của họ bị ảnh hưởng trong ngành nhà hàng khách sạn, hay du lịch nói chung – mặc dù nó vẫn không đủ cho các chủ doanh nghiệp nhỏ và hàng triệu người lao động. Nhưng đa phần chủ sở hữu thất vọng vì thiếu hướng dẫn từ các nguồn chính thức, vẫn chọn cách mở “lén” và thực hiện các biện pháp vật lộn nhiều nhất có thể…

Hầu hết người trong cùng ngành đồng cảm với các đồng nghiệp của họ, những người chọn mở. Họ muốn bảo vệ và duy trì càng nhiều nhân viên có công việc càng tốt, và đồng thời, ở khía cạnh nào đó, muốn thể hiện tinh thần lạc quan và nuôi sống cộng đồng. Đúng là không thể nghĩ rằng bất cứ ai đang mở đều thực sự là chỉ để kiếm tiền, hay sẽ kiếm được tiền – hầu hết họ đều sợ rằng nếu họ đóng cửa, họ sẽ mất tất cả…

Một đầu bếp cao cấp tại Quận 1, HCMC chia sẻ: “hy vọng rằng khi tình hình tiếp tục được cải thiện, chính phủ sẽ làm điều cần thiết và cung cấp cứu trợ để nhiều nhà khai thác cảm thấy thoải mái khi đóng cửa. Tôi yêu nhà hàng của mình và tôi yêu thế giới nhà hàng, nhưng chúng tôi không phải là một phần của chuỗi cung ứng có thể cung cấp các nhu yếu phẩm cơ bản cho con người nhất là trong khó khăn. Chúng tôi phải ở nhà; tất cả chúng ta…”

___

Xxx – npl

 

 

<The pokes…>

 

Everything has two sides, both hidden good and bad side … because we are all emotional. In difficult times, a disruption of the economic structure has been also an opportunity in disguise. To survive, and finally to thrive, companies had had to learn to take use from it. There would be nothing like a crisis – an opportunity to wash away the mind. In times of sudden upheaval, a strategy was needed; and in fact, unlike most things people still defined strategies – mission statement, bold goals, three-to-five-year budgeting plan …; here would be a real strategy …

No fever or sore throat, nor feeling tired, dry cough or digestive problems; still felt healthy, but the mystery was that one of us might have lost our sense of smell or taste. Known as loss of appetite, this anosmia was emerging as a symptom in Covid-19’s other non-exogenous pathogen carriers. Although the data had been limited, the New York Times reported that ear, nose, and throat doctors (ENTs) had had enough information to issue warnings, but for UK ENTs, they asked people with sudden loss of appetite symptom had had to be isolated for at least 7 days. According to the Times, British doctors cited reports from other countries indicating that a significant number of coronavirus patients had experienced a loss of appetite; In South Korea, where large-scale testing was performed, 30% of the 2,000 positive test patients suffered from anosmia. And that was why those who felt healthy should be alerted …

But, losing taste and smell during the break as when many people seeking “peace” in wine and food was certainly a disappointment, a disaster; but actually the loss of appetite could unintentionally spread the virus to those with compromised immune systems. Anyone could face the same thing?

Due to the effects of Covid-19 as well as being vigilant about the possibility of infecting and re-infecting Covid-19 into the community, despite the time of social isolation and social separation, it was still necessary to take serious precautions to protect health invidually;

besides, Vietnamese people were increasingly focusing on raising the awareness of quality of life and health, in which, 20% – 40% of income was spent on food expenses, including: meals and meals With friends, lovers, family … and “outside” – the need to enjoy food in bars and restaurants was gradually popularized in the life of Vietnamese people.

By the end of 2019 before Covid-19, Hanoi had had about 3,500 cafes, drinks and more than 5,000 restaurants and bars; In Ho Chi Minh City, this number was much higher. According to a general statistics of the culinary industry of Vietnam, in the food service area, Vietnam had more than 540 thousand restaurants, including 430,000 small restaurants, more than 7,000 fast-food restaurants, 22,000 coffee and bar restaurants with more than 80,000 well-developed restaurants. Demand was expected to continue to increase in 2020. BMI market research firm predicted that the growth rate of food and beverage industry would be higher in the period of 2016 – 2020, in which Vietnam was likely to be ranked at third place in Asia.

In 2018, along with the booming technology, the food industry witnessed the remarkable rise of the food delivery niche along with the classification of shapes through consumer reviews of the food they were currently served and using. This posed a big challenge to the traditional type, challenging restaurant and restaurant managers to adapt to market changes through the factors that had shaped the emerging trend in 2019. 2020 was expected to be an opportunity for development of many small and medium culinary business models – deep development of niche market segments to meet the needs of customers heading towards unique, new and fragrant flavors. delicious and affordable …

From widely social influences such as isolation, the COVID-19 pandemic had changed lives, habits, in particular, changed internet usage; the data showed an interesting insight into the impact of pandemics and usage behavior – changing human relationships with technology; It could be said that “stuck” at home during the Covid-19 pandemic, the cinemas closed and there were no restaurants for dinner, people spent more “space” in their lives to surf internet. In an analysis of the New York Times of internet usage in the United States from SameWeb and Apptopia, two online data providers, showed that people’s behavior had changed, and obviously, when the virus spread and pushing people were closer to electronic devices to work, play, relax and connect …

It would be really a shock when the data showed that video chat services like Google Duo, Hangout, Whatsapp and Zalo had all increased their traffic since January 21. Similarly, well-known remote working applications, including Zoom, Microsoft Teams and Google Classroom, had become more popular. While the quality of these services had been doubtful, no one may not realize how blasting it were until looked at the analytical report. In the US, the conclusion was even more surprising; for example, looked at the average daily traffic of Facebook, Netflix, and YouTube [via the website] from January 15 to March 24. While those mobile apps showed traffic access increased very little during that period (or even decreased) – in contrast, the corresponding browser traffic had skyrocketed; they even changed the way people search for news – typically, traffic to local and national newspapers had skyrocketed …

was a new reality, but it could be difficult to determine exactly whether the changes of human behavior would be from the human race itself or a sign of the beginning of a larger novel change.

Over the last few years, users of online services had increasingly turned to their smartphones, creating an  industry-wide condensed focus on mobile devices. Now when we had been isolated – spending time at home, with a computer in reachable, it would seem quite uncomfortable to stare into those tiny phone screens for a while. Facebook, Netflix and YouTube had all observed the number of users on their phone apps stalled or shrank while their websites were mutant, as data from SameWeb and Apptopia, indicating that was especially happening to American.

While traditional social networking sites were also on the rise, it seemed that people had wanted to do more than just connect via short messages or texts – people wanted to meet, communicate. This had brought a great incentive to the video chat apps as Google Duo,  Hangout, Whatsapp and Zalo, allowing groups of friends to join video chat and play games together to rocket. People were , nonetheless more interested in their own direct environment, the way it changed through virus response and quarantine measures. This had led to a renewed interest in social media and social networking sites focusing on connecting with community and friends.

In fact, the biggest beneficiaries were [local] news sites, with huge traffic when people had tried to find information about pandemics as well as its influence and spread. Reputable media brands such as CafeF, Vnexpress, 24h had had mutant traffic seeking information about the public health crisis and its economic consequences. Similarly, in the United States, CNBC, the business news site, had seen its readership soar. The New York Times and The Washington Post websites both increased traffic by over 50% compared to the previous months, according to SameWeb.

When all major tournament sports games had been eliminated, those were expected sporting events such as F1. Similarly, usage of ESPN’s website had dropped sharply since the end of January. At the same time, some video game sites were seen a spike in traffic, as well as with sites that allowed people to view other playing. Twitch, the leading site for playing live streaming games, had a 20% increase in traffic. TikTok mobile app with short videos from pranks to lip-syncing, took off before the coronavirus outbreak and … it had continued to rise ever since. And,

at least some things remained unchanged by the crisis …

Clearly,

clarifying the importance of an event was more difficult than retelling it. It was thought that we have been considering a structural break with the past an econometric term, in which it denoted the moment in time series data when trends and patterns of links between variables were changing…

A business crisis was often an indication that the company’s business model had stated that the basic structure of the industry was changed dramatically, so the old ways of doing business had been no longer effective. Similarly, newspapers were currently in crisis as the Internet has attracted their readership and advertising. The demand for information and analysis was growing, but traditional publishing media had difficulty been making money from it.

The same principle applied to the entire economy. In most recessions over the past 40 years, demand had caught up with capacity and grew again after 10 to 18 months. This recession would feel different because it was hard to imagine the full restructuring of financial services or the rapid turnaround of consumption. Beyond these two hotspots, there seemed to be unsustainable trends in commodity prices, oil imports, national trade balance, the status of schools, and great promises of entitlement – support. As the business model of part or the whole of the economy changed in this way, structural disruption had formed to become the next hot topic …

Breaking down the structure would make many of the existing behavioral patterns change or disappear, but that did show the way forward for some companies and sometimes even the entire economy. For example, the 1893 recession marked the end of the rail boom, and the beginning of the transition to a sophisticated consumer-based economy. Milton Hershey built the chocolate brand early and his distribution advantage in the midst of those difficult times. General Electric was a contemporary product, because the structural disruption also marked the development of a new electricity-based economy. Although the 1930s were a difficult time for the United States, not every industry or business was rejected. As the economy shifted massively from capital goods to consumer goods, some industries such as steel, rubber, coal, glass, railways and buildings were greatly affected, but brands. Consumers like Kellogg, have made strides. Similarly, in the decade from 1996 to 2005, overall consumer spending remained fairly flat in Japan. However, the economy turned to new things. The country, for example, had more than 200 beverage brands, and each Japanese small convenience store Seven-Eleven carried more than 50 at any time. About 70 percent of these brands disappeared each year and were replaced by new ones …

Disruptions and hard times were sure signs that an old model had been pushed to its limits and was destroying value. Considering incentives in the financial industry as an example of such a model. Decades of research had shown no evidence that anything but luck explained why some fund managers outperformed others. Another model that could generate diminishing or negative profits was the confusing complexity of business and management systems. The financial services industry was also a poster child for the costs of this complex type. The best governing authorities that could do in this case would be to ban certain types of behavior…

So, during a time of structural disruption at a difficult time, cost cutting was not enough. Everything had to be done differently, and on two levels: reducing the complexity of the business structure and transforming the business model. At the company level, the first priority was to simplify and re-simplify. As companies had to be structured in “modules” form, eliminating coordination committees, evaluation boards and other mechanisms connecting businesses, products or geographies. The purpose of these cuts was to provide streamlined support and central services without requiring business units to spend time and energy coordinating their operations. Dividing larger units into smaller units to reveal cross-subsidies and circumvent political blockades. Some might argued that the cost of coordination would increase if the business was divided, but in fact it was forced to do so to correct what had had to be streamlined.

Generally,

the first task was to understand how a business had been existed, competed and made money in the past. If the business was too complex to understand, dividing it into easy-to-understand parts. Once this important understanding was reached, we could begin the work of reshaping. There was no such thing as a magic formula: reforming an enterprise always had insight and imagination…

Season of epidemic,

restaurants everywhere struggled to survive amid a myriad of tight restrictions. Around the world, cities and their food systems and value chains were affected by the spread of Covid-19 in many ways and drastic changes were thus taking place in many varying degrees of effectiveness – how the community itself coped and adapted in this volatile world:

  • Currently in Paris, people could only leave home to buy essential food or other items, medical care, care for children or people who were sick or ill, essential tasks that could not be done at home or a small exercise alone around their neighborhood. Before full isolation, the school was closed and everyone was required to work from home; and very soon after that, an announcement on Saturday night, restaurants, bars, museums, cinemas, parks and public markets also closed. The first quarantine was in fact a huge obstacle to the habits, pleasures and convenience of everyday life in Paris – where for most people, restaurants, food shopping and food delivery were the most important. Now, as a profound psychological challenge began to appear related to the isolation, fear and reflection on life. The need for home cooking at first was fun for many, but it started to be abrasive day after day, reminding people of chefs and the restaurant industry. Thousands of restaurants in France would not survive with this closure, as their profit margins were already thin and often had minimal cash. This would also have a terrible impact on farmers, cheese makers, winemakers, etc. The entire French food chain was more fragile and needed more cooperation as when only large restaurant groups had been involved such as Alain Ducasse and other existed major industrial food manufacturers.
  • Tourists were key to supporting the trend of slow Italian food and craft food products. With the decline in the number of tourists, the suppliers and the food manufacturers were in danger of stopping production, this would also lose the tradition of safety protection or biodiversity to which Italian food was widely honored.
  • In Budapest, schools were closed, all public events were canceled, so the streets were empty and people were encouraged to stay home. Restaurants and cafes could operate until 3 pm, after which they had to close or switch to delivery. The problem was, countless Budapest restaurants had depended on the tourists. The city had cleared out foreign visitors and most locals could not afford to pay 10 euros for a main dish. This meant that we did not only need life, but also tourism to recover; therefore, it would take much longer …
  • At the same time, Finland was in a national emergency. The government decided to close all museums and theaters despite the recent big cultural push, and the country closed its border except freight. Restaurants and cafes were still allowed to remain open, but many had decided to close, such as S-Group, which was closing its network of 82 restaurants in Helsinki. The layoffs were happening everywhere, and the fear of bankruptcy became thick in the air …
  • In Asia, Kuala Lumpur was also in a state of “locked” completely, and no one was allowed to enter or leave the country. Law enforcement and military forces were applying patrols and barriers to enforce a curfew, making sure people only go out in public to buy necessities or help the elderly or those who could not help yourself. Two major regional food delivery services, GrabFood and FoodPanda, were still providing and encouraging people to order food. However, both shippers seemed to extort restaurants – Grab charged 20 to 25% of the fee for each order while FoodPanda charged 30% – a terrible burden for restaurants at the moment, because their only food was served by pickup or delivery.
  • In Vietnam, it could be said that restaurant business had never been in such a difficult situation as recently. COVID-19 epidemic broke out around the world, spreading throughout Vietnam, causing the whole country to fight against epidemics. People were worried about the risk of disease infection; and also because of that, consumption habited almost changed completely; influenced from restricting to crowded places, avoiding contact when not needed … In this context, business people in restaurants, bars and fast food restaurants … fell into the situation of “being on a fire“; opening their eyes every day, they faced a range of costs such as location renting for a restaurant, labor costs, materials, restaurant management software … Managers had a headache finding the desired solution. How could they reduce costs, increase sales to maintain and consolidate stable business operations of the restaurant … Delivery solutions were also selected by many restaurants when the isolation order took effect …

Now, along with the difficulties, people who worked at almost every restaurant across the globe had been suffering from a more horrifying terror, one who was threatened not only with their income but also with their health. Suddenly on a horrible day for both owners and employees, both scary things meant no customers and what would happen if customers had been infected with the virus, mass closures were taking place, and absolutely no one could predict what might happen next …

If a medic officer was the first person to bell a warning about a serious threat, coronavirus was a real measure of health, and restaurant staff was the first to alarm us about a threat on what it was causing to our economy. The 2008 and 2009 financial crisis or the SARS epidemic crushed the restaurant industry after months of closure and through gradual, catastrophic consumption. But now, restaurants in major cities across the country were closing at the same time for several days, not knowing when they would re-open, or even they might never re-open again …

Those who worked in the restaurant world and those who loved it were experiencing true grief when life was delayed, and the places we would need the most to re-build were in danger of disappearing forever. That grief would only increase as the cases of COVID-19 increased. Now, the fear was even worse, for the entire industry that was falling and decommissioning; chefs, delivery staffs, and grocery workers were at risk of being stressed and exposed to exposure. Livelihoods and lives were at risk – and without any intervention, imbalances and upsets … and truly became challenging contradictions.

For many people who “hided” indoors and did not have an outdoor space, their “private” garden versions looked a bit like “world pieces” and resembled scallions growing in a glass of water on a windowsill. Like baking cookies or coffee and quirky virtual parties, this low-level gardening had emerged as one of the trends of the pandemic. For writer Kat Thompson, her growing leeks and scallions – her “plant children” – meant both money and the time when the virus outbreak was rampant in New York and the grocery shopping became more dangerous …

The simplicity of the hydroponic vegetable garden was also why many people, including first-time vegetable growers, were tempted to try. “If you’re going to start something, whether it’s cooking or even gardening, start with something you know will build confidence. Necessities or food and kitchen scraps; scallions in a pitcher of water, peas leftover in earthen pots, even tomatoes, are easy and encouraging to tackle the motivating motivation. These are all small things that people can do without much effort,” said Nik Sharma, author of the cookbook Nik Sharma. Of course, not everyone who was currently trying to develop a new life on the windowsill, would continue it after the pandemic ends. Facing many uncertainties, wasting scarce food and labor – this problem could not explain the story of green onions, as it illustrated the journey from the field to the grocery store up to the kitchen of every people…

Restaurants and eateries had long had a number of strict food safety regulations, with health departments enforcing hygiene, temperature, hand washing, cross-contamination and usage rules using gloves to prepare food. But coronaviruses made these procedures even more important and urgent while stopping the disease from spreading. After the coronavirus spike, the compliance restaurant staff had had to wear a mask. But for many restaurants, masks appeared to be an important mandatory step to prevent the spread to the community. When the local health department asked people to follow recommendations on things to do to prevent COVID-19 as because it had related to the food business. However, there were still barriers to their application in the food industry environment. In the kitchen, employees stood 2 meters away from each other according to regulations and dressed a mask throughout the shift; sometimes masks became entangled and breathless, especially when they were standing by boiling water. After a week of trying to turn his small restaurant Saffron De Twah into a take away service, chef Omar Anani closed on March 17 due to limited sales and difficulty in securing the members to access work safely. Anani had sought advice online on how to use a mask correctly and through talking with friends and relatives in the health field. While hardly anyone could really imagine what the business would be like in the coming weeks and months, Anani believed that masks could become a regular part of the new uniform for restaurant staff, they would become an important part of normal life. Most people subconsciously thought that in the coming years people would come out with masks …

In most countries, quick/fast-service restaurants (QSRs) were fully closed or operate only on a limited basis, offering take-off, pick-up, delivery, drive-through or some mixes of those options. Even when some QSRs were still open, the decline in business still tended to increase. McKinsey’s consumer behavior surveys conducted in late March across Europe and the United States found that during the crisis, most consumers expected to reduce spending on all items from eating from restaurants, QSRs or other types of restaurants, to even food and delivery services.

Meanwhile, in China or Vietnam [except for Hanoi] a few days ago, when physical distance restrictions were gradually eased, surveys of consumer behavior showed three cents. The direction might take place the same in different geographical areas:

  • Post- epidemic expenditure in restaurants would be expected to be lower than the previous level, largely because consumers might still be wary of being in a crowded public space;
  • Demand for take-away would be expected to return to pre-outbreak levels pretty quickly;
  • After a pandemic, consumers would probably spend more on food, processed food and grocery stores than before the pandemic.

Because of financial stress and worries about eating in crowded places, consumers might continue to eat at home, at least in the very near future. And, it seemed that the challenges each QSR faced in this crisis had been unique, depending on the market position and financial position of the company and the timing and progress of the pandemic in the [local] market there.

How to face challenges and risks?

Re-addressing the plan now: Short-term priorities

Protecting employees and customers

To date, most QSR managers had established new health and safety policies and procedures to protect employees and customers. QSR had also adapted its on-site services to follow local and national guidelines; for example, by shutting down home-made food stalls, suspending all customer-related events and switching to a delivery-only model. In terms of hygiene and safety, QSR had to establish strict protocols, such as the provision of hand disinfectants and thermometers, set up screens and staff training to minimize human contact.

Top guard

Despite physical spacing rules, restaurants could continue to generate sales. In places where eating and drinking were prohibited, QSR had increased interception and delivery capabilities and applied new marketing tactics to reach consumers who were not actively seeking these services.

Stable supply chain

Restaurants needed a reliable supply chain not only for food ingredients but also for essential supplies to sustain their business: disposable paper goods, cleaning products, spare parts for trucks and motorbikes used for food delivery … To minimize the risk of disruption in the supply chain, QSRs were taking a series of actions; such as restricting menus to match what they could predict the source, replacing frozen products for fresh produce as needed, adjusting orders to fit needs, Identify alternative suppliers, and collaborate with manufacturers to create contingency plans. In order to support small and medium-sized suppliers who may be in crisis, some cash-rich QSRs were adjusting payment terms or offering temporary lending options. A few thoughtful QSRs were also taking advantage of historically low commodity prices by buying in advance if possible or by booking freight capacity.

Cash management

Most QSRs identified recovering a small portion of normal revenue in the immediate future, so cash management had had to be a priority. A number of QSRs had formed a standing cash management team to be able to fully evaluate the forecast and optimize cash resources. To save cash, managers postponed or re-negotiated renting payments, delaying indirect and capital expenditures, and reducing staffing costs and taking effort to take advantage of government support …

Modelling a variety of scenarios

Recovery times varied by country, China and Vietnam seemed to recover before many Western countries including Italy and the United States. For QSR chain managers with locations in many markets, an important exercise were to model 3-month, 6-month, and 12-month scenarios for each market and to develop specific action plans for every single scenario, making sure that company leaders were linked on the scripts as well as the list of actions for each scenario. For example, if restaurants remained closed for 6 months and time, QSRs might need to reduce fixed costs by renegotiating leases and credit terms or by selling real estate. If the restaurant closed for more than 6 months, some companies might need to look for new credit lines, divesture or even offer a sale…

Planning for recovery: medium-term action

As home tasks began to decline and restaurants re-opened, QSR would need to have a plan to capture the need to come back. Returning to the previous demand level was an instant win; therefore, QSR would need to take a phased approach to “relive” labor, food activities and supply chain support. Because QSR companies entering the crisis from a position of strength would have more options and more flexibility in preparing for recovery.

Conservation and development

Most traditional restaurants or QSR in particular entered the crisis in a precarious cash position. More broadly, these types tended to have a few common attributes:

  • heavy reliance on traditional restaurant forms;
  • minimal presence in digital and distribution channels;
  • menus were not sufficiently different from competitors and loyalty was limited tagged to programs;
  • tended to be vulnerable to supply chain instability because of small and fragmented supply base.

During the crisis, these companies would focus on avoiding bankruptcy; they needed actually to find ways to adjust their services while preserving cash. Even during the recovery period, cash-limited restaurants would need to continue cash-conscious culture communication at all levels of the organization. They needed to weigh carefully with spending, which was also a preventive measure in case of a revival of coronavirus. For these companies, it was important to continue creating weekly cash flow forecasts and performing regular financial health assessments. They had had also to consider renegotiating contracts to increase flexibility; for example, by tying rent into sales. At the same time, cash-constrained QSRs had to constantly communicate with their customers, especially their most loyal people, which would be the best leverage to increase demand when the restaurant reopened.

Building on strengths

On the contrary, when QSR stepped in the crisis with a strong liquidity position. These financially stable companies tended to have well-established digital and distribution channels and strong loyalty programs. Most had invested in the supply chain by building a stable supply base and developing contingency plans to minimize supply chain disruptions during a crisis. In the process of recovery, these companies could accelerate growth by increasing investment in mobile and delivery solutions, providing valuable meal and family meal promotions, and focusing on the biggest contractions during the crisis (as breakfast on the way to work). They could entice customers to come back to eat on-site with attractive promotions and new menu services. They might also consider initiating a “task force” to reduce competition: in some markets, competitors might be struggling or might have a place to close. QSR could also accelerate their marketing efforts in those areas to gain market share. Stronger companies could also take advantage of their cash positions to make breakthrough moves: for example, cyclic investments, real estate purchases or competitors, business units or weak brand.

Next normalized shape: Long-term considerations

When the crisis subsided, all QSRs had had to prepare for the upcoming changes, in the minds and behaviors of consumers, that would shape the next industry normally, including:

  • More care about hygiene and safety: Consumers could ask for more information about the ingredients in a restaurant’s food, where it came from, how it was prepared and whose it was. As a result, daily operating costs would increase. Food packaging costs might also increase. Non-contacting delivery and reception might become standard;
  • Stronger demand for digital and delivery: The competitive landscape of food distribution would be transformed as managers built internal capacity, invested in next-generation technology or partner with other third party vendors. Loyalty programs would become stronger as QSRs seeked to strengthen customer engagement;
  • Transition spending from restaurants to grocery stores: The early sign showed some changes from restaurant spending to grocery store development in a post-coronavirus world. QSR might seek additional sources of revenue; For example, QSR managers might consider launching grocery product lines or expanding to new channels, such as serving B2B. To compromise at lower sales levels, QSRs might also consider reevaluating their company costs, restaurant network and franchise facility;
  • Increasing focus on supply chain management: The COVID-19 crisis was exposing weaknesses in many supply chains and emphasizing the importance of flexibility and adaptability. This challenge would motivate QSRs to invest in supply chain technology and capabilities so they could improve better and deliver faster to suit demand. Many QSRs also experienced supply chain disruptions due to labor shortages during the crisis, and that could prompt them to invest in supply chain automation.

QSR and restaurants in general needed a model that would be flexible enough to meet the level of uncertainty the industry faces.

In just over a week, many facilities across the country could never consider deliveries that previously accepted wholesale as a means of survival in the new and frightening context created by coronavirus. And a few even went a step further by becoming a destination for staples for food, cleaning, supplies, toilet paper in addition to regular toast. Basically, restaurants were becoming “convenient” corner shops. Restaurants were providing pantry and lending to customers. In Portland, Oregon, the Yonder fried chicken restaurant was offering a casual menu; there was also a new menu, designed to help guests stock: items that were often not available for sale, such as bread, ready – for baking biscuits, pickles, and flavored butter. At a famous Detroit bakery, it was quick to shift to offering takeaway items like kale salads and buckwheat chocolate biscuits, as well as a rotating selection of staples like flour, eggs, milk and yogurt. The format, while being still at an early stage, was an element called a comprehensive plan designed to help take care of employees while reducing shop waste and generating revenue. Shop shelves offered more options like eggs, milk, canned beans, spices and antiseptic hand sanitizers – daily necessities had become more in demand since COVID-19. If the outage lasted much longer, it was likely that many restaurants would begin to consider these models to supplement income outside of food services …

As restaurants and bars across the country closed to cope with the pandemic, restaurants turned to delivery and take away – but, some chefs were complaining that it’s not worth …

An increasing number of cooks and restaurant owners country-wide, who initially tried to make deliveries and/or deliveries after showing social separation plans, but recently decided that it was too health and safety risks, and instead of choosing to close completely. Last week was isolated, a series of hotel restaurants closed their premises due to safety concerns for employees and customers. Part of this difficult decision made to close the store was due to customers who did not respect distance or masks. A woman appeared in sweating and coughing. From a financial perspective, this was a difficult decision, but when it had come to public health, it was urgent now…

Managers were trying to solve an unprecedented scale problem, while grappling with rapidly changing and sometimes conflicting information about viruses and the best measures to prevent it …

Sometimes, as to some restaurants in District 1 and 3 in HCMC that provided take-away service at their business units 2-3 weeks ago, they gradually realized they were dealing with an unforeseen problem: the customer surrounded the outside without following socially spaced instructions. This was a problem that worried restaurants from the sanctions of the authorities and created a threat to safety. This became evident when the crowd of delivery staffs and customers was so concentrated that the police entered and dispersed the crowd, and charge fine to the restaurant, as consequence, eventually the restaurant was closed. Restaurants were definitely aware of what they were trying to do for a few days before they ran out of their stockpiles and this had led to a temporary interruption in delivery. Take-away and deliveries were important to prolong what they could do to keep and hopefully extend the maintenance of cash flow until government support could be accessed.

Once the National Assembly and the Government had approved a VND 60 trillion social security bailout, which might provide some relief to the affected restaurants and staff in the hospitality industry, or tourism in general – though it was still not enough for small business owners and millions of staffs. But most owners were frustrated by the lack of guidance from official sources, still choosing to “sneakily” open and taking all efforts to struggle as much as possible …

Most people in the same industry sympathized with their peers, who had chosen to open. They eventually wanted to protect and maintain as many employees as possible, and at the same time, wanted to show optimism and nurture the community. It was true that it had been impossible to think that anyone who had been opening was really just to make money, or would make money – most of them were afraid that if they closed, they would lose everything …

A senior chef in District 1, HCMC said: “It is hoped that as the situation continues to improve, the government will do what is needed and provide relief for many operators to feel comfortable closing. . I love my restaurant and I love the restaurant world, but we are not part of the supply chain where can provide basic necessities to people especially in hard times. We have to stay at home; all us…

___

Xxx – npl