Chuyến bay cuối cùng của năm

2019-01-15 20.42.54

Không biết có phải vì đây là chuyến đi cuối cùng trong năm không… dường như cảm xúc trải qua một năm bao sóng gió  vào những ngày cuối năm này lại càng trở nên muôn phần gay cấn…

Có lẽ tổng kết lại, thu hoạch của một năm chính là tình bạn với những người đã từng là đồng nghiệp, nay trở thành bạn và là cộng sự… Đối với công việc mà nói, năm nay là năm phá hoại, năm của tạm bợ và thất vọng… nhìn về lâu về dài, có lẽ đây là năm biến cố để chuẩn bị cho sự thay đổi dài hạn… mà có lẽ vì thế mà sự kích thích như được dồn nén lại để bùng nổ trong dịp cuối năm này…

Giờ đây, khi ngồi trên máy bay để trở về với gia đình của mình thì cũng là lúc phải đổi mặt với một vấn đề khác tuy rằng có lẽ đâu đó – ơn giời phù hộ – sự nặng nề đã được giải quyết phần nào… nhưng với tôi cái vấn đề cần đối mặt này lại làm cho tôi luôn nhức nhối, dù cho khi làm việc hay khi gặp gỡ, nó được chôn giấu một cách kỹ càng, y như là việc này của người khác vậy…

Cá nhân thì là vậy, công việc thì có cái nghĩ là khó thì thành thuận lợi, cái nghĩ là dễ thì lại hỏng… cũng may còn giữ được chữ “TÌNH”…dẫu rằng vốn biết cũng sẽ phải quay lại vì cũng toàn là những người bạn nhưng đây có lẽ là thời điểm tạm dừng lại để cho các bên xả hơi và nhìn lại chính mình… “Nâng lên không phải là khoẻ, khoẻ là khi đặt xuống nhẹ nhàng”, thấm câu nói, luôn phấn đấu nhưng không biết khi Lạt ma dạy điều này, ngài có thấy việc thực hành trên cõi đời này quả là không đơn giản… mọi việc luôn có cái giá của nó, nên khoẻ cũng phải có cái giá của khoẻ – mà khoẻ thật không nhỉ?

Nietzsche từng nói rằng: để vươn lên đùa rỡn với những cơn gió xuân, những đám mây trắng xốp, nơi gần với ánh sáng mặt trời toả sáng thì cần phải có bộ rễ chắc khoẻ, cắm sâu vào đất đen, nơi gần với bóng tối và tội ác nhất, vậy nên cổ thụ định mệnh phải chịu một nỗi cô đơn khắc khoải và đừng cố để chia sẻ những toả sáng cùng những đám mây xốp trắng kia đùa rỡn vuốt ve cơn gió thanh thanh với đám cây bụi dưới kia nơi mặt đất vì điều đó đơn giản là không thể – đây là cái giá, là số phần…

Thượng đế đã chết và siêu nhân cũng đã là dĩ vãng…

Tất cả chỉ còn lại một bóng hoàng hôn vàng ệch trong một buổi chiều những ngày cuối năm… chờ đợi những cuộc lột xác…

Bên cái gấp gáp, mọi thứ lại như ngưng đọng với tiếng loa báo chuyến bay tới trễ… cũng như phút quyết định trước khi xuống núi của nhà hiền triết trẻ Zarathrutra để giao giảng cho người đời về câu chuyện của siêu nhân và cây cổ thụ…

Những đồ rằng chàng cũng hiểu được xã hội này được sắp xếp theo một trật tự khác với trong truyền thuyết… người tốt rất khó sống và những cái ác thì thường tồn tại rất lâu… và đừng làm người tử tế – thượng đế đã chết thật rồi….

Và cứ như vậy, những ngày cuối cùng của năm này với tôi thật nặng nề và mệt mỏi, tất cả dường như là mớ hỗn độn… không đầu không cuối, chỉ là những khúc những đoạn cụt lủn mà như khúc giò thường thấy trên mẹt bà bán thịt ngoài chợ đầu hôm…

Ở cái tuổi ngoài tứ tuần này, mọi thứ trở nên mờ mờ ảo ảo lẫn lộn giữa thực tại tàn khốc và những mơ mộng hão huyền còn sót lại sau những cái níu kéo thời gian một cách vô vọng. Nói quá thì đã 2/3 chặng đường đời, nói lạc quan thì cũng đã nửa chặng, vậy là nói gì thì nói cũng đã là ở nửa sau; những lúc thế này nhìn lại mới thấy sức mạnh tàn phá của thời  gian… thói quen tốt thì khó giữ, mà thói quen xấu thì khó bỏ… nên chặng tới nay cũng là những vòng xoắn chôn ốc mà không rõ là theo chiều đi lên hay chiều đi xuống; thường phải tới khi đối mặt với biến cố thì mới biết là thế nào, có lẽ vậy nên mới nói: mọi chuyện xấu nhất đều đã xảy ra rồi nên cũng chẳng còn nỗi sợ nào tồn tại…

Đúng? Sai?

Sai, vì nỗi sợ nhất chỉ hiện ra khi chúng ta nhìn thẳng vào gương hằng mỗi sáng, chỉ khi nào chúng ta thật sự không còn sợ cái mỗi buổi sáng đó thì chúng ta không còn cần nói dối để ngụy biện che chắn cho chính mình… và bởi vậy mới có được tự do đích thực…

  • Mọi thứ mà tôi sợ đều đã xảy ra với tôi nên không còn gì làm cho tôi sợ hãi… –

Xxx – PhiLong 01/2019

Tùy trí ỷ thuyết…

Thế gian có mười hạng người phát tâm tu thiền định không giống nhau, kết quả bị rơi vào những hành vi tư tưởng thiên lệch, sai lầm, nên không thể nhập pháp môn…

Đó là:

  1. Vì lợi ích bồi dưỡng thân mạng của mình mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm Địa ngục.
  2. Khởi tâm hư dối tà kiến, vì tham danh tiếng, khen ngợi mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm Quỷ thần.
  3. Vì muốn ủng hộ bà con quyến thuộc của mình mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm Súc sanh.
  4. Vì ganh tỵ muốn hơn người khác mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm A-tu-la.
  5. Vì sợ đầu thai vào đường ác chịu quả báo đau khổ và muốn dứt hết những nghiệp lực bất thiện mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều phát tâm tái sanh làm người.
  6. Vì muốn bồi dưỡng tâm thiện của mình và mong cầu được an lạc mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều phát tâm sinh về sáu tầng trời cõi Dục.
  7. Vì muốn có được thế lực và thần thông tự tại mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm La-sát.
  8. Vì muốn được thông minh lanh lợi, phản ứng nhạy bén mà phát tâm tu thiền. Đây thuộc về tâm của Ngoại đạo.
  9. Vì muốn được sinh lên cõi trời Phạm thiên mà phát tâm tu thiền. Đây thuộc về cõi trời Sắc và Vô sắc.
  10. Vì muốn thoát khỏi thống khổ sinh, lão, bệnh, tử, mong chóng chứng Niết-bàn mà phát tâm tu thiền. Đây thuộc về tâm của hàng Nhị thừa.

Mười hạng người tu tập thiền định này, tuy họ phát tâm thiện hoặc ác có khác nhau, cảnh giới giải thoát hay trói buộc cũng khác. Chỉ vì họ không có tâm đại bi và mục đích phát tâm không chính đáng, kết quả đọa lạc vào nhị biên, (Đoạn kiến và Thường kiến chẳng vào Trung đạo).

Tại sao vậy?

Nếu dùng tâm này tu thiền định, cuối cùng cũng không thể thấu hiểu và thích ứng với Thiền ba-la-mật…

Cũng một danh từ “thiền”, nhưng sở chứng đắc thiền định của phàm phu, ngoại đạo, Nhị thừa, Bồ-tát, chư Phật có khác nhau, nhưng gọi chung là “thiền”… cùng chung một định nghĩa nhưng cách thức có thể nhiều ít khác nhau nhưng cuối cùng vẫn là để: “huấn luyện tâm làm quen về một chủ đề cụ thể nào đó” – Đức pháp vương dòng truyền thừa Drukpa.

Ba chữ “Ba-la-mật” còn gọi là đến bờ kia, nhưng chỉ có Phật và Bồ-tát mới chứng đạt được đến bờ kia… Vì sao vậy? “Ba-la-mật”, gọi là Độ vô cực, (tức là không có pháp nào độ thoát có thể sánh hơn năng lực này). Chỉ có hàng Bồ-tát và chư Phật mới được đầy đủ. Vì có khả năng thông đạt trung đạo, chứng ngộ Phật tính, phát sinh chín loại thiền lớn (Cửu chủng đại thiền), chứng đắc Đại Niết-bàn, do đó chẳng đồng hàng phàm phu, nhị thừa, cho nên nói là bất đồng.

Nếu luận chung, thì không nhọc phải phân tích. Vì sao? Vì thiền có chia ra đồng và chẳng đồng, danh từ “Ba-la-mật” cũng như thế, cho nên Luận Ma Ha Diễn ghi: “Ngữ pháp ở Ấn Độ, hễ có việc gì hoàn thành, đều gọi là Ba-la-mật”. – trích “Thiền Ba La Mật”

Vậy có khi nào chúng ta hiện nay sử dụng như một phương tiện dù có thiện xảo hay không như chúng ta vẫn tán tụng chỉ để đạt được mục đích của mình – “mượn” phương tiện; tuy nhiên việc mượn này cũng nếu có cũng chỉ có tác dụng trong một thời khắc. Những lầm tưởng về con đường giải thoát và một giây phút an ủi dưới dạng hưng phấn trong tinh thần sẽ dần dần dẫn tới cực đoan trong tâm thức – sách thường có câu “tâm ma” chắc ám chỉ điều này chăng…

Văn – Tư – Tu… ai cũng biết, ai cũng hay nhưng không mấy người hiểu chữ “TU”… thực ra nghĩa đơn giản rất nhiều, như một người anh cắt nghĩa rất đúng chính là “thực hành”… Một vị Rinpoche đến từ Nepal đã từng giảng: “con người ta thành Phật rất dễ, khi tới chùa, ai cũng đã là Phật vì ai cũng hướng tới Tâm Bồ Đề, cái khó đó chính là ngoài đời sống xô bồ, chúng ta vẫn THỰC HÀNH được Tâm Bồ Đề và luôn thực hành việc tốt nhưng khi chúng ta tại chùa – ấy nên thực hành Bồ Tát Đạo là vô cùng khó…

Đa phần, học thuyết của các tôn giáo có mặt cũng nhằm giải mã cho những nghi ngờ về thân phận con người sau khi chết, về cuộc sống, về những cái vô hạn khi mà trí hiểu biết của con người rất là hữu hạn. Quá chăng những lời giải thích đó không thỏa mãn được mọi người, đặc biệt là không thể nào làm thỏa mãn được trí óc siêu việt của thái tử thời bấy giờ. Bà La Môn giáo đã trả lời được cho cái bất tử bằng cách tạo dựng lên hình ảnh đấng Phạm Thiên (Brahma – Đại Ngã), là đấng bất tử, tồn tại vĩnh hằng, người có khả năng sinh ra vạn vật, kể cả con người. Con người là một phần nhỏ trong tổng thể của đấng Bhrama, phần nhỏ đó gọi là Tiểu Ngã (Atman); Tiểu Ngã này có sinh khởi và có hoại diệt (chết). Sau khi hoại diệt, mỗi cá thể Tiểu Ngã này sẽ nhập vào Đại Ngã thì trở thành cái bất tử sau khi chết. Đó cũng là cách lý giải để đáp ứng sự khát cầu về cái bất tử. Đại bộ phận quần chúng Ấn Độ thời bấy giờ cũng dựa vào học thuyết này và tin tưởng điều đó như một sự thật, cách giải quyết bế tắc, mặc dù chưa một vị giáo chủ nào có thể chứng minh…

Ở một góc khác, người Trung Hoa tương truyền về loại thuốc trường sinh bất tử do các vị thần tiên của Lão giáo chế tác ra bằng cách luyện linh đơn; sáng tạo ra nhiều môn khí công mà không chỉ đi từ tôn giáo mà còn đi cả từ y lý. Từ nhiều thế kỷ trước, thuật trường sinh đã mê hoặc các vị vua thời phong kiến làm cho họ ưa thích và tin dùng. Sự thật có đem lại kết quả trường sinh hay là một bi kịch, xưa kia thuốc trường sinh vẫn là lời đồn hấp dẫn cho những người muốn sống mãi trên đời để hưởng thụ. Đó cũng là cách giải quyết tạm thời cho những khối óc say mê tìm tòi cái bất tử… cũng như những nhà giả kim thuật ở châu Âu nhiều thế kỷ trước – âu đây cũng là ước mơ của con người nói chung.

Những triết học của tôn giáo, lời đồn về các vị thần tiên luyện linh đơn đã cho chúng ta cảm nhận rằng sinh tử là nỗi sợ hãi trong mỗi con người. Vì vậy, con người luôn đi tìm phương cách để giải quyết nỗi sợ đó. Và câu trả lời chính xác nhất ở đâu?

TRUNG ĐẠO…

Khi đọc kinh Đại Bát Niết Bàn chúng ta thấy trong kinh nêu lên Tứ Đức Niết Bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Điều này đã làm dấy lên sự tranh cãi: “Đã là Niết Bàn rồi mà còn Ngã, còn Tịnh, còn Thường gì nữa?” Bởi vì nó là pháp đối đãi nên chưa phải là Niết Bàn chân thật, là Niết Bàn tuyệt đối. Đúng vậy, cái tuyệt đối vốn vô ngôn, nếu đã lập ngôn thì lời nào cũng là tương đối. Nhưng ngôn ngữ có ra là để giải thích cho cái không lời, nhờ đó mà chúng ta có lối vào, từ tương đối mà nhận ra được chỗ tuyệt đối.

Kinh Niết Bàn nêu về chữ Ngã hay lời tuyên ngôn đản sanh của Phật (“Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”) là thuyết minh cho cái vô ngôn, để chỉ cho cái tuyệt đối, để chỉ cho cái bất sanh bất diệt bằng từ Ngã, là từ then chốt nhất, là mục đích tối thượng mà bao nhiêu ngàn năm con người đang tìm cầu nó, giải mã nó (chơn ngã). Nhưng mọi sự vật hiện tượng trong đời chỉ là hư ảo phù hoa.

Hãy tỉnh giác để thong dong vui sống trong cuộc đời giả tạm này.

Nhờ giác ngộ được Vô Ngã, nhận ra lẽ thật phũ phàng, chúng ta mới can đảm nói rằng: “Sống chết như đi về, ái ân là trò dâu bể”. Nhận thức rõ thân xác được kết hợp bằng thân Năm Uẩn, nó không thể nào tồn tại vĩnh cửu, nhưng con người không còn chỗ nào để bám trụ thì phải chấp nó, bám vào nó để có cái Tôi cái Ta tạm thời mà tồn tại. Thực tế, do con người không giác ngộ, nên mượn cái giả làm chơn, rồi chấp chặt vào nó, cho nó là thật nên bị khổ đau…

Lại nói, Tâm vốn không có hình sắc, cũng không có chỗ cố định, làm sao trụ tâm nơi cảnh? Chẳng qua chỉ chế phục vọng tưởng duyên lự mà thôi. Nếu tâm đã yên lặng dừng trụ thì không cần kềm chế, chỉ dứt tâm vọng tưởng tán loạn (tức là tu Chỉ). Nếu nói tâm quá khứ tuy đã diệt hết rồi, mà tâm kế tiếp tục sinh khởi, cho nên nghiệp tiếp tục theo tâm mà đến, như nói nghiệp quá khứ tuy diệt hết, nghiệp kế lại tiếp tục sinh khởi, nên đến được nhân hiện tại, nói như thế thật là sai lầm lớn.

Là vì sao?

Vì có khi tâm thiện của quá khứ diệt hết mà tâm ác tiếp tục sinh, nay cũng nghiệp thiện của quá khứ diệt mà nghiệp ác tiếp tục sinh, như thế phải cảm quả báo ác, nhưng vì sao lại cảm quả báo thiện được? Nếu nói nghiệp đến mà không theo tâm, thì nghiệp này phải tự có sẵn quả báo, lìa tâm mà thọ quả báo, thật ra ở đây chẳng phải thế…

Tương tự, người thực hành cũng đang an trụ trong nội tâm tĩnh lặng, bỗng nhiên tự nhận biết từng sát-na trong tâm, không có nhân, không có ngã, tự tính vốn không thật, vì cớ sao?

Vì khi một niệm đầu khởi phát, nhất định phải nhờ nhân duyên. Nhân duyên chính là đầy đủ cả 12 nhân duyên, nhưng nhân duyên thì không có tự tính, nên nếu một niệm không có thật, thì phá trừ tính tà chấp thật có của thế gian. Lúc này tâm cùng chánh định tương ưng, trí tuệ liền khai phát, giống như tia nuớc vọt ra không dừng; nghiệp thân và khẩu của hành giả được thanh tịnh, xa lìa các tà hạnh. Đây là tướng khai phát thiện căn của nhất niệm 12 nhân duyên. Trong Kinh Đại Tập cũng giải thích 12 nhân duyên này rất rõ ràng, cũng có thể giải thích tướng thiện căn khai phát, một niệm đầy đủ Tứ đế…

Một khi người thực hành gặp các thứ bất tịnh, nhưng biết nó là hư giả, cho nên tâm không còn sinh khởi lo sợ. Khi hành giả thấy sắc thanh tịnh, liền biết do nhân duyên hòa hợp phát sinh, nên nội tâm không còn ái nhiễm, đây gọi là “Thắng tri kiến”.

Nếu nói do ba tướng Sinh, Trụ, Diệt và tất cả các pháp hữu vi là vô thường, nhưng ba tướng vốn tự là Không, vì sao có chữ vô thường? Như khi có tướng sinh thì không có tướng trụ, diệt; khi lìa tướng sinh cũng không có tướng trụ, diệt. Nếu khi sinh mà có tướng trụ và diệt, không thể gọi là tướng sinh, vì như thế là tướng sinh diệt trái nhau; mặt khác, nếu nói không có tướng sinh mà có tướng trụ và diệt, cũng phá mất định nghĩa của cả ba tướng, nếu không có tướng sinh, thì tướng diệt cũng không có chỗ diệt.

Cho nên ba tướng: Sinh, trụ và diệt đều không thể được, nếu không có ba tướng, vì sao nói là vô thường? Nếu hành giả biết rõ tướng vô thường cũng Không, tức là đã thấy được Thánh đạo…

Lý thuyết thì là vậy, cơ mà còn tùy vào từng người, từng cơ duyên mà truyền, vậy mới có câu: “tùy trí ỷ thuyết” – ma đạo cùng từ đây…

Thay lời kết:

Bát-nhã là một pháp,

Phật thuyết có nhiều tên,

Tùy mỗi loài chúng sinh,

Mà lập riêng tên gọi.

Người chứng đắc Bát-nhã,

Tâm hý luận đều diệt,

Ví như mặt trời mọc,

Sương móc liền tan sạch.

Xxx – Phi Long

Từ Grab tới nỗi buồn…

Có lẽ đây là chuyến đi công tác cuối cùng trong năm nay; thế là một năm đã gần trôi qua với đúng nghĩa đen mà các cụ thường ví “bóng câu”, vẫn là chuyến bay đầu ngày như mọi khi nhưng cảm giác hơi khác, có lẽ vì vậy mà tôi dành thời gian nói chuyện với người tài xế trẻ tuổi…

photo-1-1529810816439229000435

Dùng dịch vụ thường xuyên, tôi cũng thích Grab vì dịch vụ đơn giản, nhanh và tiện, cùng với thái độ lịch sự của đa số các bác tài. Dần dà thì tôi chợt thấy nao nao mỗi khi đi Grab vì có cái gì đó thật khó diễn tả và có lẽ chỉ lần này sau khi nói chuyện với bác tài thì tôi mới nhận ra điều đó có ý nghĩa gì với tôi: các bác tài đều rất TRẺ, và phần lớn những “chú” tài – phải gọi như thế mới đúng vì họ ít tuổi quá – mà tôi gặp đều tốt nghiệp cao đẳng và đại học, thậm chí, từ những nơi danh tiếng của thành phố… Tỷ lệ của “nghịch cảnh” này ở Grab xe máy còn cao hơn Grab ô tô, những mong rằng tôi sai và với tần xuất đi hàng ngày thì tôi vẫn hoàn sai và chỉ mong đó là thiểu số ngẫu nhiên vào tôi mà thôi…

Gần đây, theo báo cáo GII/ 2018 công bố hồi tháng 7 vừa qua, Việt Nam đứng thứ 18/126 nước về giáo dục, với một yếu tố giúp cho Việt Nam có thứ hạng cao trong giáo dục là sự đầu tư của các bậc cha mẹ tại Việt Nam cho con cái, không chỉ riêng năm 2017 và 2018, Việt Nam mới đứng đầu ASEAN về chi tiêu cho giáo dục – đạt 5.7% tính theo GDP xếp hàng 29/126. Có lẽ báo cáo mới chỉ đưa ra các con số dù rất cụ thể nhưng đâu đó, vẫn còn chưa nêu được hết tầm quan trọng của giáo dục trong đời sống người dân Việt Nam.

Hàng năm, phải chứng kiến cảnh các các phụ huynh đưa con em mình đi thi và chờ đợi bên ngoài thì mới có cùng cảm nhận, vì rằng ai cũng biết các buổi thi không ít hơn hai giờ đồng hồ nhưng hiếm bậc phụ huynh nào “rời bỏ vị trí” của mình…, hình ảnh này cũng là hình ảnh thường thấy ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, nhưng ít ai biết, chỉ có 40% số các em tốt nghiệp lớp 12 có cơ hội học lên bậc đại học vì thiếu hụt số lượng các trường đại học; tính tới cuối 2016, chỉ có 28% các bạn trở thành sinh viên và trong niên khóa 2017-2018, hệ thống các trường đại học chỉ có thể đáp ứng được 400 nghìn trên 1 triệu học sinh tốt nghiệp lớp 12 đăng ký tuyển sinh. Ngoài ra, để nâng cấp cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng đào tạo, kể từ 2016, nhà nước đã bỏ bao cấp đối với đào tạo công tạo điều kiện công bằng đối với đối tượng giáo dục tư nhân, dẫn tới học phí tăng tới 34% đối với các trường công trong niên khóa 2016 – 2017, và dự kiến, còn tiếp tục tăng trong một số năm tới và phần nào kích thích đầu tư giáo dục tư nhân và mang tới nhiều cơ hội đào tạo hơn cho sinh viên cùng với chất lượng cơ sở vật chất tốt hơn.

Theo đánh giá của BMI – tổ chức nghiên cứu uy tín, giáo dục nói chung tại Việt Nam có tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 8% đạt USD 2.4 tỷ vào năm 2016, USD 2.6 tỷ, dự kiến đạt USD 3.6 tỷ vào năm 2020. Trong tổng số tiền chi cho giáo dục, chủ yếu là chi cho học phí (chiếm 33%) và các khoản chi khác (chiếm 26%). Các khoản chi này thường là các chi phí ăn ở, đi lại, chi phí này đặc biệt rất quan trọng đối với sinh viên, học sinh đi học xa nhà và phải ở trọ. Các khoản chi còn lại chiếm tỷ trọng khá thấp trong tổng chi tiêu cho giáo dục, thấp nhất là chi đóng góp cho trường lớp. Nhìn chung tình hình chi cho giáo dục của người dân trong vùng là khá thấp so với tình hình chi chung của cả nước chỉ đứng trên vùng Trung du và miền núi phía Bắc là 1,5 triệu đồng/người/năm, còn các hộ dân của cả nước chi trung bình hơn 3 triệu đồng một năm cho một thành viên đang đi học, ví dụ: ở đồng bằng sông Hồng người dân chi trung bình 3,5 triệu/người/năm, ở Đông Nam Bộ chi trung bình 5,5 triệu đồng/người/năm cho giáo dục; so sánh với tổng chi tiêu cho nhóm hộ thuộc tỉnh nghèo là 22,3 triệu/năm trong khi nhóm tỉnh giàu là 23 triệu, không có sự khác biệt về mặt thống kê. Chi trung bình của cả vùng đông bằng sông Cửu Long là khoảng 22,6 triệu/năm, cao hơn một ít so với nhóm tỉnh nghèo. Như vậy, mặt bằng chung về cơ cấu chi tiêu của người dân trong vùng không có sự khác biệt nhiều. Tuy nhiên, giữa thành thị và nông thôn lại có sự khác nhau trong chi tiêu cho giáo dục, các hộ dân ở khu vực thành thị có thu nhập cao hơn cũng như các điều kiện học tập tốt nên chi tiêu cho giáo dục cũng cao hơn so với các hộ dân ở nông thôn với mức chi trung bình 2,6 triệu đồng cho giáo dục cao hơn gần 2 lần so với các hộ dân ở nông thôn là 1,4 triệu đồng/năm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Điều này có thể giải thích bởi mặt bằng chung ở khu vực thành thị là cao hơn ở nông thôn, hơn nữa họ có điều kiện hơn nên mức đầu tư cho con em đi học cao hơn.

Ấy vậy mà sau bao cố gắng cho con em học hành tới nơi tới chốn, thậm chí giáo dục luôn là khoản mục được ưu tiên đầu tiên trong chi tiêu gia đình cho dù còn bao khó khăn cuộc sống; nhưng tương tự như “chú” tài xế của tôi, các bạn sau khi tốt nghiệp ra trường chọn con đường xe ôm, và giờ là Grab; có nhiều bạn thì mơ mộng chạy Grab tiết kiệm được một món rồi bỏ nghề đi theo mơ ước của mình, có bạn thì đơn giản coi đó như là mưu sinh của mình… nhưng tất cả đều tỏ ra không mấy áy náy vì bỏ phí 4 năm học tập cùng với bao mơ ước của các bậc cha mẹ…

Lận đận trong tìm việc làm, với bằng tốt nghiệp tin học nhưng cũng thừa nhận là mình cũng không có nhiều khả năng trong lập trình, sau vài ba công ty nhỏ, anh chàng đã cưới vợ và để nuôi cô công chúa bé nhỏ thì bạn quyết định bán một số tài sản, vay gia đình sắm chiếc xe Huyndai i10 cũ để chạy Grab. Cái lợi từ chạy Grab không chỉ là từ mưu sinh, “chú tài” tâm sự: “Trước hầu như chiều nào em cũng tụ tập, hết đồng nghiệp, bạn bè anh em vừa tốn tiền, vợ lại cằn nhằn. Từ hồi chạy xe em “ngoan ra” hẳn, chạy cả ngày tối mệt là lăn ra ngủ chẳng có thời gian đâu mà nhậu nữa”… nhưng,

cuối tháng 3 vừa qua, Grab đã mua lại hoạt động kinh doanh của Uber tại thị trường Đông Nam Á, Việt Nam nằm trong đó, đổi lại, Uber chỉ còn là cổ đông sở hữu 27,5% cổ phần của Grab. Dù rằng câu chuyện sáp nhập của Uber và Grab hiện vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi, nhưng điều nhìn thấy ngay được là sau sáp nhập, lực lượng lái xe của Uber nhập về Grab làm tăng số lượng và qua đó, cạnh tranh nội bộ cũng tăng lên phần nào. Với chính sách kinh doanh của mình, Grab không có nhiều chương trình khuyến mại như Uber, lợi ích của người sử dụng dịch vụ vì thế cũng giảm đi (đương nhiên vì làm gì còn cạnh tranh). Điều này dẫn tới các tài xế Grab trở nên khó khăn hơn. Bên cạnh đó, theo các bác tài kinh nghiệm, lượng khách giảm lại không phải nỗi lo lớn nhất mà là mức chiết khấu nộp về công ty mẹ quá cao – khoảng trên 23.6% và mới được điều chỉnh giảm xuống 20% sau vụ đình công vào hồi đầu năm 2018. Để tồn tại được cùng hàng loạt những khó khăn mà ở trên mới chỉ là một phần mà chưa tính tới, cướp bóc, quỵt tiền xe… “các tài” không còn cách nào khác là phải tăng cường chạy thêm giờ nhằm bù lại phần thu nhập. Thậm chí, nhiều tài cũng đang chật vật tìm cho mình những hướng đi khác; chán nản nghỉ chạy, tìm đường trở quay về taxi truyền thống, thậm chí bán xe chịu lỗ và nợ vay ngân hàng để tìm một công việc khác. Nhưng,

lực lượng sinh viên và cựu sinh viên thì hình như tăng lên chứ không giảm đi thì phải, với mô hình giao hàng, số lượng các bạn tham gia còn nhiều hơn, hình ảnh ở nhiều quán cà phê cóc, các bạn như gắn vào các trò chơi điện tử trực tuyến trên điện thoại trong lúc chờ tới cuốc của mình… Tôi từng chứng kiến nhiều trường hợp nhiều bậc phụ huynh lên thăm con đã bật òa khóc khi bất chợt gặp con em mình trong màu áo Grab; sau bao hy vọng [đổi đời] với biết bao dành dụm nhịn ăn nhịn uống dành để cho con em mình đi học đã tan thành mây khói…

Cũng chẳng thể đổ lỗi cho Grab hay bất cứ công ty nào được, cũng không thể trách xã hội đối với môi trường đào tạo còn nhiều bất cập và hữu hạn cơ hội công việc cho các em – với tiêu chí thường thấy: ưu tiên tuyển dụng đã có kinh nghiệm và vô hình chung giảm đi cơ hội vào đời của sinh viên mới ra trường; nhưng một phần cũng phải xem lại từ phía các em, phải chăng lối suy nghĩ ngắn hạn, những mong muốn và những cái đích thành công trước mắt phần nào đã đẩy các em tới chỗ quyết định lựa chọn công việc đơn giản sau bao năm đèn sách vất vả…

Việc giữ nước cốt ở lòng người không phải ở thế đất hiểm” – Lý Công Uẩn, nếu chúng ta không nỗ lực phấn đấu, không có hoài bão, mơ ước để theo đuổi, mà chỉ nhìn và trông chờ những điều trước mắt – cũng như chỉ là làm thuê cho các ông chủ lớn [Samsung hay Bochen] nước ngoài; liệu có khi nào chúng ta mãi sẽ như bà Phạm Chi Lan đã thuật lại lời nhận xét của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới: “Việt Nam là mô hình kỳ lạ nhất thế giới: Nước… không chịu phát triển!”

Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” là đây vậy… tất cả phụ thuộc vào mỗi cá nhân chúng ta…

Một thoáng buồn không hề nhẹ dịp bay cuối năm 2018;