Vô tri…

Hoài lời nói kẻ vô tri, Một trăm gánh chì đúc chẳng nên chuông.” – Ca dao

Theo từ điển, vô tri – “無知” là không có khả năng nhận biết, hay theo từ điển Hán Nôm, có nghĩa là không biết gì… “Tôi chỉ biết một điều, đó là không biết gì cả!“, câu nói nổi tiếng của Socrates từ 2500 năm trước vẫn có sức nặng trong xã hội hiện đại: chúng ta thường bắt đầu như là nhà giáo điều, và – nếu mọi việc trôi chảy – thường sẽ kết thúc như là nhà hoài nghi, theo nhận xét của Hannah Arendt, nữ triết gia sắc bén của thế kỷ 20.

Tuy nhiên, đó là theo từ điển và theo người xưa để lại, với thay đổi gần đây của xã hội thì định nghĩa nên chăng cần được thay đổi để phù hợp hơn… với thời đại?

Trước kia là không biết mà thành “vô tri” vì thiếu thông tin, vì thiếu học – giáo dục, vì thiếu uốn nắn gia đình và xã hội – văn hóa… kể ra thì thời đó cũng khó vì chung quy không có phương tiện… nhưng có lẽ ở xã hội thời mông muội “vô tri” đó mà lại sống với nhau “tình” hơn… hay vì đơn giản hơn – cuộc sống, nhu cầu?

Bây giờ, ngoài xã hội, cùng với công nghệ phát triển, thông tin giờ gần như là tức thì… với các loại mạng xã hội có ngắn, có dài, có bài chia sẻ, có tin vắn… sách vở thì đầy, báo mạng thì không có thời gian mà đọc, lười thì “google thần chưởng”… ấy vậy mà sao càng nhiều lại càng “vô tri”???

Vậy nên, người ta có thể nói rằng không chỉ không còn gì là không biết mà phải là… quá biết – quá biết tới độ “vô tri”… tức là

quá biết, quá hiểu, quá rõ nhưng làm thì vẫn làm mà không có cảm nhận với xã hội xung quanh nên thành “vô tri”…

Này nhé,

Hẹp thì:

Nhà hàng Tháp Bà Làng Chài có tổng hóa đơn lên đến 16.5 triệu đồng cho 14 món ăn và 10 chai bia với những “siêu” món có giá “siêu đắt” như khổ qua xào có 250.000 đồng/đĩa, mồng tơi 250.000 đồng/đĩa, su su 250.000 đồng/đĩa, cháo 400.000 đồng/phần, tô cháo giá 400.000 đồng; tương tự, trứng xào cà chua giá 500.000 đồng” của nhà hàng Hưng Phát khiến các cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa phải vào cuộc. Hưng Phát đã 3 lần đổi chủ, mới nhất vào tháng 2/2019, liên lạc với chủ cũ của nhà hàng, tên Phụng – người đàn ông này cho hay, anh đã rút hết vốn và bàn giao nhà hàng cho chủ mới vào ngày 2/2 (28 tháng Chạp) –  “Người chủ mới mua lại nhà hàng nhưng chưa tiếp nhận mà về Bắc ăn tết luôn. Họ tạm giao cho người quản lý mới điều hành”…

Ngày 7/2 (mùng 3 Tết), lãnh đạo UBND phường Xuân An, TX.Long Khánh, tỉnh Đồng Nai là nơi xảy ra vụ việc cho hay, đã xác định tài xế đi xe ô tô đánh người phụ nữ chở con nhỏ gây phẫn nộ cộng đồng mạng từ ngày mùng 1 Tết (tức ngày 5/2). Theo đó, người này được xác định là ông Nguyễn Thành T. ngụ tại Đồng Nai. Được biết sau vụ việc, ông T. vẫn chưa lên trình diện và đã tắt điện thoại…

Đường Nguyễn Huệ được coi là bộ mặt của TP nhưng sau countdown thì đã tả tơi vì rác thải. Nếu mỗi người đều ý thức tự gom rác của mình và bỏ đúng chỗ thì đâu có khủng khiếp như vậy” – bạn HH, một trong những bạn trẻ dọn rác sau giao thừa ở đường Nguyễn Huệ, cho biết; tại thành phố du lịch Đà Lạt, trong dịp Tết đã thu hút hàng ngàn lượt khách tham quan, tuy nhiên, người dân Đà Lạt đã ngán ngẩm vì TP xanh, sạch, đẹp này đã ngập trong biển rác; một điểm ngập rác khác được báo chí phản ánh là thủ đô Hà Nội, cụ thể là khu vực Hồ Gươm. Đêm giao thừa, mọi người đều háo hức trong lễ hội đếm ngược, nhưng sau khi người người ra về thì những con phố tại những khu vực lãnh trọn đủ loại rác do nhiều người tham dự lễ đếm ngược xả ra; “khi bọn em dọn thì thấy đủ loại rác, nhầy nhụa khắp đường. Từ chai lọ đến hộp đựng thức ăn, rồi giấy gói thức ăn, rồi cả vỏ các loại hạt nữa. Bọn em không phụ thì những người dọn vệ sinh chắc đuối lắm!”…

Rộng thì:

Cầu Vàm Cống (Đồng Tháp) xuất hiện vết vứt tại dầm thép rộng 4 cm, dài 2 m tại dầm thép trụ T29 mà chưa kịp khánh thành… Cầu Vàm Cống bắc qua sông Hậu thuộc địa phận huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp và quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ cách cầu Cần Thơ gần 50 km về phía thượng lưu. Toàn dự án cầu và đường dẫn dài 5,75 km, trong đó phần cầu 2,97 km, gồm 4 làn xe cơ giới và 2 làn xe thô sơ; vận tốc thiết kế 80 km/h; 5700 tỷ có nguy cơ “hóa vàng”…

Tổng đầu tư tăng gần 3 lần sau 6 năm thi công, liên tục “đói” vốn, lộ sai phạm thất thoát gần 2.900 tỷ… khiến Metro Số 1 không thể hoàn thành năm 2020…  Metro Số 1 dài khoảng 20 km, được thành phố phê duyệt năm 2007 với tổng mức đầu tư gần 17.400 tỷ đồng (hơn 126.500 triệu yen Nhật). Đến năm 2009, tư vấn chung của dự án đã tính toán và xác định lại, tổng mức đầu tư là hơn 47.300 tỷ đồng (hơn 235.500 triệu yen Nhật) với nguyên nhân đội vốn được thành phố cho là: tăng khối lượng xây dựng nhằm đem lại hiệu quả đầu tư với đầu máy, toa xe, trang thiết bị nhà ga…??? nguyên liệu tăng giá, tăng lương tối thiểu 2006-2009; trượt giá giữa Yen Nhật – Việt Nam đồng và tỷ lệ tính toán các chi phí dự phòng, rủi ro trượt giá theo quy định mới; 30 nghìn tỷ đội vốn phải “bơm” thêm liệu có thành “phác đồ điều trị”…

Những dự án chậm tiến độ như sân bay Tân Sơn Nhất, metro, dự án chống ngập, nút giao Mỹ Thủy, bến xe Miền Đông. Ông cũng nêu tên cụ thể “nhiều dự án treo hàng thập kỷ” như Bình Quới – Thanh Đa hơn 20 năm, khu tái định cư tại phường Tân Thới Nhất (Q.12) hơn 16 năm, dự án khu đô thị đại học quốc tế hơn 10 năm, Saigon One… “Tôi đề nghị TP.HCM phải so sánh với Thượng Hải, Hồng Kông, Singapore chứ không phải với các TP trong nước. Phải yêu cầu cao như thế với đô thị trung tâm” – Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc; Thủ tướng cũng nói và nhắc đến việc thành phố HCM dừng một số dự án mà theo Thủ tướng, việc dừng một số dự án gây hoang mang xã hội, gây lãng phí, ảnh hưởng đến tăng trưởng phát triển, môi trường đầu tư nhất là có yếu tố nước ngoài…

Kìa điểu thú là loài vạn vật, Dẫu vô tri cũng bắt đèo bòng” – Cung oán ngâm khúc

Ô hô ai tai…

Xxx – NPL

Năm heo vàng đừng vội vàng như con thỏ…

2019-02-08 17.44.31

Nhâm nhi ly café đá đặc dẻo quánh, nhìn dòng người dần dần tấp nập lấy lại nhịp sống sau một kỳ nghỉ thật dài, mùng 4 năm con heo này là ngày đẹp nên các cửa hàng đua nhau mở hàng; ở cái xứ mà người gốc Hoa chiếm phần đông này thì màu sắc chủ đạo là màu đỏ, nên ngày này màu đỏ lại thêm phần rực rỡ. Tiếng chiêng trống của các đội múa lân rộn ràng từ ngoài đầu ngõ tới nơi cuối phố mừng gia chủ mở hàng một năm thêm thịnh vượng, an lạc

Ấy vậy mà cái không gian rộn rã cùng những đổi thay hàng ngày ở cái xứ này lại khiến người viết như chùng xuống… Một ly café chất lượng dành cho người khách quen nơi chỗ ngồi quen thuộc ưa thích mỗi lần về quê vợ đem lại những suy tư và mong mỏi trong dịp đầu năm mới.

Biểu trưng năm nay là con heo vàng – may mắn và tài lộc cho gia chủ. Con heo vốn là con vật hiền lành, là biểu tượng cuối cùng của một vòng can chi 12 con giáp (Hợi) và cũng đứng cuối cùng trong lục súc theo văn hóa phương Đông. Con heo hay con lợn (miền Bắc) là loài vật đã gắn bó lâu đời với con người và xung quanh đó là nhiều câu chuyện trong văn hóa đại chúng về con lợn. Trong văn hóa, con lợn cũng được gọi với nhiều tên như con heo, chú ỉn, trư, hợi.

Theo khoa học, heo nói chung là một chi động vật móng guốc có nguồn gốc ở đại lục Á-Âu được gộp nhóm tổng thể với danh pháp khoa học là Sus, thuộc họ Lợn (Suidae). Lợn rừng đã được thuần hóa và được nuôi như là một dạng gia súc để lấy thịt cũng như da. Các sợi lông cứng của chúng còn được sử dụng để làm một số loại bàn chải, da có thể dùng để sản xuất bóng bầu dục. Ngoài ra, phân của lợn nhà cũng được dùng làm phân chuồng để cải tạo đất;

Theo hội nhậu, heo nhà là một gia súc được thuần hóa, được chăn nuôi để cung cấp thịt, hầu hết heo nhà có lớp lông mỏng trên bề mặt da. Chăn nuôi lợn (heo) là một ngành hết sức quan trọng, nó cung cấp một số lượng rất lớn thịt cho bữa ăn của hàng tỷ người trên trái đất và là một loại thực phẩm thiết yếu. Heo nuôi chủ yếu dùng để lấy thịt; các sản phẩm khác từ thịt heo như xúc xích, lạp xưởng, jambon; đầu heo có thể được dùng làm dưa da đầu lợn; rồi gan, huyết và các nội tạng khác cũng được dùng làm thực phẩm (lòng heo);

Theo văn hóa, heo là con vật có sự gần gũi với đời sống con người là con vật mà hình ảnh của nó đã đi vào thơ ca, ca dao, hội họa dân gian, và là một biểu tượng văn hóa. Trong 12 con giáp, heo nằm trong số ba con vật cuối cùng (gà, chó, và lợn) có mối liên hệ gần với đời sống hàng ngày của con người hơn các con vật khác như rồng, cọp, khỉ. Trong văn hóa dân gian Việt Nam, con heo được thể hiện qua các bức tranh dân gian Đông Hồ, hình ảnh con heo hiện hữu trên tấm lịch tường gia đình thể hiện sự sung mãn, phồn thực, vui vẻ hạnh phúc.

Con heo trong quan niệm văn hóa cổ truyền thuộc dòng Âm ôn hòa nhã nhặn, sinh nở đầy đàn nên yếu tố phồn thực được đề cao trong loại tranh dân gian, chúc tụng năm mới gặp nhiều may mắn, con cháu đông vui, phúc lộc. Bức tranh heo đàn là biểu tượng của sự sung túc, no đủ, phồn thực. Trên mình heo có vòng khoáy Âm – Dương ngụ ý phát triển, sinh sôi nảy nở, bức tranh còn thể hiện con heo mẹ trắng xóa mắt lim dim lờ đờ, mõm tũm tĩm, năm con heo con, con xanh, con đỏ, con trắng, con tím lúc nhúc cả bầy dưới chân. Hình ảnh heo Cấn sắc nét nhất là trên tranh Heo ăn lá ráy, Nghệ nhân Đông Hồ đã quan sát kỹ con heo phàm ăn, đang sục mõm vào máng, cành lá ráy như động đậy, ước lệ.

Ở vùng đất thuộc hạ nguồn sông Hậu, người Khmer vẫn cho rằng heo năm móng và heo ba giò là những cốt tinh lang thang của người đầu thai, nếu trong nhà có một con heo như thế thì cũng đồng nghĩa với việc nhà ấy gặp những chuyện tai ương khủng khiếp, lục đục chuyện gia đình và người ta tìm mọi cách để tống khứ. Tại Chùa Dơi còn có tên gọi khác là chùa Mã Tộc ở tỉnh Sóc Trăng là nơi chốn những con heo đặc biệt này cư ngụ, cả phần xác lẫn phần hồn;

Theo tâm linh, trong ba con vật cuối cùng của 12 địa chi (gà, chó và heo), heo là con vật có thể nói đã từng song hành với con người trong suốt quãng đường dài tiến hóa. Tuy nhiên, người ta thường khinh con heo và hay nói theo quán tính ngu như heo hay ngu như con heo. Heo là một trong những con vật có một mối liên hệ lâu đời nhất với con người, không chỉ người Á châu mà còn cả châu Âu và các nền văn minh khác.

Con heo trong tự nhiên tuy là giống ăn tạp ăn nhiều hay bị gắn với chậm chạp ngu đần nhưng hiền lành, nên ông trời ban cho cặp nanh để phòng thân – tương truyền là cũng quý lắm chỉ sau vuốt hổ và gấu biểu trưng cho dũng cảm may mắn mà lại lành cho người đeo khác với đeo vuốt cọp phải chọn tuổi.

Chẳng cứ gì năm con heo vàng, người người, nhà nhà đều mong năm tới luôn may mắn hoan hỉ, phúc lộc hạnh phúc đầy nhà… và sau một năm chạy đôn chạy đáo, mọi người lại cũng chạy đây chạy đó chuẩn bị sắm sửa để “ăn” một cái Tết thật hoành tráng, năm này hơn hẳn năm trước… rồi chúng ta tới thăm nhà nhau chúc tụng đầu năm để rồi qua mỗi nhà lại ních thêm một phần… Tết ra, vòng bụng ai cũng dường như nhích thêm vài phân…

Câu chuyện vui đầu năm dường như không thể thiếu được những câu chuyện cà kê so sánh những thăng trầm trong cuộc sống của mình, của những người xung quanh như động lực cho sự phấn đấu của mỗi một cá nhân trong năm tiếp theo… Và cũng không thiếu đâu đó những câu chuyện so bì với nhau, những câu chuyện thêm thắt cho đậm chất kịch tính của người kể chuyện… bên chén rượu nồng với cỗ bàn ê hề, câu chuyện như thêm lửa… để rồi ra Tết có nhiều trường hợp rạn vỡ thật đáng tiếc giữa những người bạn thân…

Những năm gần đây, nhịp sống cũng thay đổi ít nhiều, người ta dường như không dành nhiều thời gian cho Tết nữa; nhưng cuộc sống có lẽ lại còn bị đẩy nhanh hơn nữa, thay vì ngồi tụ tập, thì giờ với công nghệ và mạng xã hội, người ta giao tiếp còn nhanh hơn…

Có cái duy nhất có lẽ không thay đổi được chính là sự chuẩn bị của Tết, người ta đổ ra đường để mua sắm; hay với giới trẻ, các dịch vụ giao hàng – “shipping” được tận dụng tối đa, năm nay người ta chợt thấy đột biến số lượng các “shipper” – người giao hàng với áo đỏ của Go-Viet, áo xanh của Grab, của Ninja Van,… vẫn cảnh đường tắc, mọi người cùng nhích từng bước – như thế này thì hơi ngoa, phải nói đúng là nhích từng cm, mà nhích được đã cảm thấy dư vị thoả mãn trong những ngày giáp Tết; rồi thì họ tranh nhau, dành nhau từng món đồ – ở đôi nơi nó gợi lại cho ta cái cảm nhận của thời bao cấp vào thập niên 80 – 90 của thế kỷ trước.

Giới có tiền thì êm ả hơn, họ đặt hàng giao tới tận nhà với những món đồ xa xỉ hơn hẳn những năm trước, xu hướng “chê” đồ truyền thống ngày càng đậm nét hơn với mứt Nhật, dưa Hàn, lựu Ai Cập, gà Anh, mẫu đơn Thượng Hải… dù có vậy thì bận rộn trên đường vẫn chính là những “shipper”, chăm chỉ nhích từng cm để chuyển đồ tới khách hàng cho kịp giờ… Cùng lúc đó, họ – giới có tiền còn mải mê xoay sở với bộn bề kinh doanh cuối năm, chốt sổ, ngoại giao… và không thiếu hình ảnh doanh nhân trước áo quần là lượt mà nay đầu bù tóc rối chạy đôn đáo lo tiền trả nợ, tiền lương cho người công nhân, người lao động về quê ăn Tết… Bản thân người viết cũng chứng kiến vài doanh nghiệp có tiếng trong thành phố chạy ngược xuôi bán tài sản, gán tài sản vay nợ lãi cao để kịp cho công nhân về dịp Tết… trả nợ lãi vay cho ngân hàng để kịp thời gian cho tổ chức tín dụng chốt sổ trước Tết; nếu không kịp, với kỳ nghỉ dài, ắt hẳn sẽ được nêu tên trên sổ “Nam Tào” – hậu quả là phải mất tới ba (03) năm sau mới được xóa tên nếu đảm bảo chất lượng tín dụng tốt, và khả năng huy động vay từ hệ thống ngân hàng trong ba năm đó sẽ dần trở nên xa vời cho tới khi được xóa tên… ấy vậy nên phải đôn phải đáo là vậy…

Như một cuộc chạy đua với đích đến là đêm giao thừa, người người tấp nập, nhà nhà chạy đua sao cho ai cũng được một cái Tết thật thảnh thơi; cuộc đua lên tới đỉnh cao kịch tính vào trưa ngày 30 – ngày cuối cùng của năm để rồi, người người nhà nhà chuyển sang một cuộc đua khác – từ cuộc đua ngoài đường chuyển về cuộc đua trong nhà – xoay vần trong bếp để hoàn tất mâm cỗ vào kịp thời khắc tất niên.

Có thảnh thơi được không?

Chắc chỉ có các em bé mới thảnh thơi hoan hỉ thật sự; người lớn thì nấu nướng, người già thanh niên trang hoàng quét dọn nhà cửa… đâu đó vang lên những âm thanh chúc tụng năm sớm từ những mâm cỗ hội họp gia đình bè bạn trước thời khắc giao thừa… Năm Heo vàng mà có lẽ sau Tết thì mặt “vàng” thật, mà là vàng ệch…

2019-02-08 17.04.01

Hối hả tất bật… kể cả trong dịp nghỉ lễ Tết Nguyên Đán cũng vậy, có chăng chỉ là khác nhau về hình thức… Phú quý sinh lễ nghĩa, dịp Tết không còn là dịp thảnh thơi để mọi người tới tụ tập nói chuyện với nhau hay gia đình sum họp nữa, mà không biết từ bao lâu rồi, Tết là dịp mọi người chưng ra phú quý khoe ra lễ nghĩa… có lẽ, cũng từ khi đó, người ta trở nên tất bật với Tết chăng???

Khổng Phu Tử có nhắn nhủ:

  • Tâm còn chưa thiện, phong thủy vô ích;
  • Bất hiếu cha mẹ, thờ cúng vô ích;
  • Anh em không hòa, bạn bè vô ích;
  • Làm việc bất chính, đọc sách vô ích;
  • Làm trái lòng người, thông minh vô ích;
  • Không giữ nguyên khí, thuốc bổ vô ích;
  • Thời vận không thông, mưu cầu vô ích.

Ở Việt Nam nghe đồn rằng từ thời thượng cổ, chỉ có lễ cơm mới là quan trọng nhất trong năm vì đó là dịp tạ ơn trời đất cho một mùa bội thu, tạ ơn cha mẹ dưỡng dục bằng hạt gạo mới dẻo đầy;

Ở Trung Quốc, không tháng nào không có một kỳ lễ cổ truyền, mà quan trọng nhất có lẽ là Tết Nguyên Tiêu (15/5 âm lịch). Dân gian đặt ra thì ít mà vua chúa vẽ ra rõ là nhiều… cũng là dịp để họ ngắm xem dân gian ấm no hạnh phúc ra sao chăng???

tất nhiên nước nào có phong tục tập quán nước đó, có điều nên chăng đừng biết thành một dịp thể hiện sự xa hoa xa xỉ của toàn xã hội, đừng biến thành cuộc chạy đua để rồi nếu có thắng – về đích thì cũng vẫn chỉ là con thỏ mà thôi…

Theo phép ẩn dụ quen thuộc, rùa thắng thỏ với hai phiên bản (version):

  • Vợ chồng nhà rùa nấp ở hai đầu đường đua, thỏ chạy tới tức thở mà không hiểu vì sao rùa luôn thắng…
  • Thỏ chủ quan lỡ ngủ quên trên đường đua, rùa tới đích – thắng…

Tất nhiên rùa luôn thắng vì đây là bài học cho sự kiên nhẫn, nỗ lực và thận trọng, không chủ quan trên bước đường đời… Thỏ thông minh láu cá nhanh nhảu với đôi chút kiêu ngạo nên luôn về bét… đó là người xưa muốn răn dạy các thế hệ sau.

Người viết thì có cái nhìn hơi khác một chút, cho dù ở phiên bản nào đi chăng nữa, rùa thắng cơ bản vì rùa biết sống cho mình, thảnh thơi trên nẻo đường của mình, cho dù thỏ có chế giễu thế nào đi chăng nữa, vẫn là những nỗ lực hàng ngày, rùa vẫn “bò như rùa”… rùa thanh thản, có lẽ vậy…

Đích là nơi mọi người mong muốn đạt tới, nhưng nhìn gần kỹ lại, đích của mọi người vô cùng khác nhau, sức chạy của mỗi người cũng không giống nhau; vậy tại sao phải so sánh với nhau, phải chạy đua với nhau… Cuộc sống cần được tận hưởng một cách đúng nghĩa, con người cần có những giây phút sống với chính mình để hiểu được ý nghĩa cuộc sống thay vì chạy theo những trào lưu của xã hội; thậm chí như ở Trung Quốc đại lục, năm nay người ta đã “lì xì” bằng “áp” qua điện thoại di động – ví điện tử, tài khoản trực tuyến, và Wechat… Có lẽ họ đã sớm quên mất ý nghĩa của tục lệ “lì xì” nhiều hơn rất nhiều việc “cho tiền” thuần túy, chữ “tiện” cùng với công nghệ đâu đó đã bị lạm dụng để rồi được dịp chà đạp lên một nét văn hóa xưa; Hongkong hàng năm chính phủ in duy nhất tờ 10 đô la HongKong để “lì xì” – tất nhiên là lưu thông được; phải biết rằng việc in tiền tại HongKong do ba ngân hàng chính phát hành theo quy định của ngân hàng và chính quyền quyết định, và tục lệ vẫn được lưu giữ và trân trọng qua những cái nho nhỏ này vậy…

Vốn là dịp sum họp gia đình, nên chăng dành nhiều thời gian hơn quây quần gia đình thay vì những tất bật bếp núc, những tục và lệ… tất nhiên cũng phải chuẩn bị, cũng phải nấu nướng nhưng có nhất thiết mất nhiều thời gian như một cuộc đấu tới vậy, heo vàng chắc cũng khó có thể vượt qua những mâm cao cỗ đầy, những sơn hào hải vị. Cuộc sống của một năm đã vốn đầy bận rộn, liệu chúng ta dành được bao giây phút cho người thân, người xung quanh???

là những thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa cái cũ và cái mới, chúng ta có đủ tĩnh tâm, đủ “thanh thản như rùa”, đủ “hiền lành như heo” để chiêm nghiệm lại những được mất cá nhân, hoạch định cho mình cái đích mới…

liệu còn đủ thời gian tĩnh tại đắm mình trước không gian tĩnh lặng bình an một cảnh chùa buổi đầu năm…

Thời gian trôi…

Xxx – npl

Chuyến bay cuối cùng của năm

2019-01-15 20.42.54

Không biết có phải vì đây là chuyến đi cuối cùng trong năm không… dường như cảm xúc trải qua một năm bao sóng gió  vào những ngày cuối năm này lại càng trở nên muôn phần gay cấn…

Có lẽ tổng kết lại, thu hoạch của một năm chính là tình bạn với những người đã từng là đồng nghiệp, nay trở thành bạn và là cộng sự… Đối với công việc mà nói, năm nay là năm phá hoại, năm của tạm bợ và thất vọng… nhìn về lâu về dài, có lẽ đây là năm biến cố để chuẩn bị cho sự thay đổi dài hạn… mà có lẽ vì thế mà sự kích thích như được dồn nén lại để bùng nổ trong dịp cuối năm này…

Giờ đây, khi ngồi trên máy bay để trở về với gia đình của mình thì cũng là lúc phải đổi mặt với một vấn đề khác tuy rằng có lẽ đâu đó – ơn giời phù hộ – sự nặng nề đã được giải quyết phần nào… nhưng với tôi cái vấn đề cần đối mặt này lại làm cho tôi luôn nhức nhối, dù cho khi làm việc hay khi gặp gỡ, nó được chôn giấu một cách kỹ càng, y như là việc này của người khác vậy…

Cá nhân thì là vậy, công việc thì có cái nghĩ là khó thì thành thuận lợi, cái nghĩ là dễ thì lại hỏng… cũng may còn giữ được chữ “TÌNH”…dẫu rằng vốn biết cũng sẽ phải quay lại vì cũng toàn là những người bạn nhưng đây có lẽ là thời điểm tạm dừng lại để cho các bên xả hơi và nhìn lại chính mình… “Nâng lên không phải là khoẻ, khoẻ là khi đặt xuống nhẹ nhàng”, thấm câu nói, luôn phấn đấu nhưng không biết khi Lạt ma dạy điều này, ngài có thấy việc thực hành trên cõi đời này quả là không đơn giản… mọi việc luôn có cái giá của nó, nên khoẻ cũng phải có cái giá của khoẻ – mà khoẻ thật không nhỉ?

Nietzsche từng nói rằng: để vươn lên đùa rỡn với những cơn gió xuân, những đám mây trắng xốp, nơi gần với ánh sáng mặt trời toả sáng thì cần phải có bộ rễ chắc khoẻ, cắm sâu vào đất đen, nơi gần với bóng tối và tội ác nhất, vậy nên cổ thụ định mệnh phải chịu một nỗi cô đơn khắc khoải và đừng cố để chia sẻ những toả sáng cùng những đám mây xốp trắng kia đùa rỡn vuốt ve cơn gió thanh thanh với đám cây bụi dưới kia nơi mặt đất vì điều đó đơn giản là không thể – đây là cái giá, là số phần…

Thượng đế đã chết và siêu nhân cũng đã là dĩ vãng…

Tất cả chỉ còn lại một bóng hoàng hôn vàng ệch trong một buổi chiều những ngày cuối năm… chờ đợi những cuộc lột xác…

Bên cái gấp gáp, mọi thứ lại như ngưng đọng với tiếng loa báo chuyến bay tới trễ… cũng như phút quyết định trước khi xuống núi của nhà hiền triết trẻ Zarathrutra để giao giảng cho người đời về câu chuyện của siêu nhân và cây cổ thụ…

Những đồ rằng chàng cũng hiểu được xã hội này được sắp xếp theo một trật tự khác với trong truyền thuyết… người tốt rất khó sống và những cái ác thì thường tồn tại rất lâu… và đừng làm người tử tế – thượng đế đã chết thật rồi….

Và cứ như vậy, những ngày cuối cùng của năm này với tôi thật nặng nề và mệt mỏi, tất cả dường như là mớ hỗn độn… không đầu không cuối, chỉ là những khúc những đoạn cụt lủn mà như khúc giò thường thấy trên mẹt bà bán thịt ngoài chợ đầu hôm…

Ở cái tuổi ngoài tứ tuần này, mọi thứ trở nên mờ mờ ảo ảo lẫn lộn giữa thực tại tàn khốc và những mơ mộng hão huyền còn sót lại sau những cái níu kéo thời gian một cách vô vọng. Nói quá thì đã 2/3 chặng đường đời, nói lạc quan thì cũng đã nửa chặng, vậy là nói gì thì nói cũng đã là ở nửa sau; những lúc thế này nhìn lại mới thấy sức mạnh tàn phá của thời  gian… thói quen tốt thì khó giữ, mà thói quen xấu thì khó bỏ… nên chặng tới nay cũng là những vòng xoắn chôn ốc mà không rõ là theo chiều đi lên hay chiều đi xuống; thường phải tới khi đối mặt với biến cố thì mới biết là thế nào, có lẽ vậy nên mới nói: mọi chuyện xấu nhất đều đã xảy ra rồi nên cũng chẳng còn nỗi sợ nào tồn tại…

Đúng? Sai?

Sai, vì nỗi sợ nhất chỉ hiện ra khi chúng ta nhìn thẳng vào gương hằng mỗi sáng, chỉ khi nào chúng ta thật sự không còn sợ cái mỗi buổi sáng đó thì chúng ta không còn cần nói dối để ngụy biện che chắn cho chính mình… và bởi vậy mới có được tự do đích thực…

  • Mọi thứ mà tôi sợ đều đã xảy ra với tôi nên không còn gì làm cho tôi sợ hãi… –

Xxx – PhiLong 01/2019

Tùy trí ỷ thuyết…

Thế gian có mười hạng người phát tâm tu thiền định không giống nhau, kết quả bị rơi vào những hành vi tư tưởng thiên lệch, sai lầm, nên không thể nhập pháp môn…

Đó là:

  1. Vì lợi ích bồi dưỡng thân mạng của mình mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm Địa ngục.
  2. Khởi tâm hư dối tà kiến, vì tham danh tiếng, khen ngợi mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm Quỷ thần.
  3. Vì muốn ủng hộ bà con quyến thuộc của mình mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm Súc sanh.
  4. Vì ganh tỵ muốn hơn người khác mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm A-tu-la.
  5. Vì sợ đầu thai vào đường ác chịu quả báo đau khổ và muốn dứt hết những nghiệp lực bất thiện mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều phát tâm tái sanh làm người.
  6. Vì muốn bồi dưỡng tâm thiện của mình và mong cầu được an lạc mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều phát tâm sinh về sáu tầng trời cõi Dục.
  7. Vì muốn có được thế lực và thần thông tự tại mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm La-sát.
  8. Vì muốn được thông minh lanh lợi, phản ứng nhạy bén mà phát tâm tu thiền. Đây thuộc về tâm của Ngoại đạo.
  9. Vì muốn được sinh lên cõi trời Phạm thiên mà phát tâm tu thiền. Đây thuộc về cõi trời Sắc và Vô sắc.
  10. Vì muốn thoát khỏi thống khổ sinh, lão, bệnh, tử, mong chóng chứng Niết-bàn mà phát tâm tu thiền. Đây thuộc về tâm của hàng Nhị thừa.

Mười hạng người tu tập thiền định này, tuy họ phát tâm thiện hoặc ác có khác nhau, cảnh giới giải thoát hay trói buộc cũng khác. Chỉ vì họ không có tâm đại bi và mục đích phát tâm không chính đáng, kết quả đọa lạc vào nhị biên, (Đoạn kiến và Thường kiến chẳng vào Trung đạo).

Tại sao vậy?

Nếu dùng tâm này tu thiền định, cuối cùng cũng không thể thấu hiểu và thích ứng với Thiền ba-la-mật…

Cũng một danh từ “thiền”, nhưng sở chứng đắc thiền định của phàm phu, ngoại đạo, Nhị thừa, Bồ-tát, chư Phật có khác nhau, nhưng gọi chung là “thiền”… cùng chung một định nghĩa nhưng cách thức có thể nhiều ít khác nhau nhưng cuối cùng vẫn là để: “huấn luyện tâm làm quen về một chủ đề cụ thể nào đó” – Đức pháp vương dòng truyền thừa Drukpa.

Ba chữ “Ba-la-mật” còn gọi là đến bờ kia, nhưng chỉ có Phật và Bồ-tát mới chứng đạt được đến bờ kia… Vì sao vậy? “Ba-la-mật”, gọi là Độ vô cực, (tức là không có pháp nào độ thoát có thể sánh hơn năng lực này). Chỉ có hàng Bồ-tát và chư Phật mới được đầy đủ. Vì có khả năng thông đạt trung đạo, chứng ngộ Phật tính, phát sinh chín loại thiền lớn (Cửu chủng đại thiền), chứng đắc Đại Niết-bàn, do đó chẳng đồng hàng phàm phu, nhị thừa, cho nên nói là bất đồng.

Nếu luận chung, thì không nhọc phải phân tích. Vì sao? Vì thiền có chia ra đồng và chẳng đồng, danh từ “Ba-la-mật” cũng như thế, cho nên Luận Ma Ha Diễn ghi: “Ngữ pháp ở Ấn Độ, hễ có việc gì hoàn thành, đều gọi là Ba-la-mật”. – trích “Thiền Ba La Mật”

Vậy có khi nào chúng ta hiện nay sử dụng như một phương tiện dù có thiện xảo hay không như chúng ta vẫn tán tụng chỉ để đạt được mục đích của mình – “mượn” phương tiện; tuy nhiên việc mượn này cũng nếu có cũng chỉ có tác dụng trong một thời khắc. Những lầm tưởng về con đường giải thoát và một giây phút an ủi dưới dạng hưng phấn trong tinh thần sẽ dần dần dẫn tới cực đoan trong tâm thức – sách thường có câu “tâm ma” chắc ám chỉ điều này chăng…

Văn – Tư – Tu… ai cũng biết, ai cũng hay nhưng không mấy người hiểu chữ “TU”… thực ra nghĩa đơn giản rất nhiều, như một người anh cắt nghĩa rất đúng chính là “thực hành”… Một vị Rinpoche đến từ Nepal đã từng giảng: “con người ta thành Phật rất dễ, khi tới chùa, ai cũng đã là Phật vì ai cũng hướng tới Tâm Bồ Đề, cái khó đó chính là ngoài đời sống xô bồ, chúng ta vẫn THỰC HÀNH được Tâm Bồ Đề và luôn thực hành việc tốt nhưng khi chúng ta tại chùa – ấy nên thực hành Bồ Tát Đạo là vô cùng khó…

Đa phần, học thuyết của các tôn giáo có mặt cũng nhằm giải mã cho những nghi ngờ về thân phận con người sau khi chết, về cuộc sống, về những cái vô hạn khi mà trí hiểu biết của con người rất là hữu hạn. Quá chăng những lời giải thích đó không thỏa mãn được mọi người, đặc biệt là không thể nào làm thỏa mãn được trí óc siêu việt của thái tử thời bấy giờ. Bà La Môn giáo đã trả lời được cho cái bất tử bằng cách tạo dựng lên hình ảnh đấng Phạm Thiên (Brahma – Đại Ngã), là đấng bất tử, tồn tại vĩnh hằng, người có khả năng sinh ra vạn vật, kể cả con người. Con người là một phần nhỏ trong tổng thể của đấng Bhrama, phần nhỏ đó gọi là Tiểu Ngã (Atman); Tiểu Ngã này có sinh khởi và có hoại diệt (chết). Sau khi hoại diệt, mỗi cá thể Tiểu Ngã này sẽ nhập vào Đại Ngã thì trở thành cái bất tử sau khi chết. Đó cũng là cách lý giải để đáp ứng sự khát cầu về cái bất tử. Đại bộ phận quần chúng Ấn Độ thời bấy giờ cũng dựa vào học thuyết này và tin tưởng điều đó như một sự thật, cách giải quyết bế tắc, mặc dù chưa một vị giáo chủ nào có thể chứng minh…

Ở một góc khác, người Trung Hoa tương truyền về loại thuốc trường sinh bất tử do các vị thần tiên của Lão giáo chế tác ra bằng cách luyện linh đơn; sáng tạo ra nhiều môn khí công mà không chỉ đi từ tôn giáo mà còn đi cả từ y lý. Từ nhiều thế kỷ trước, thuật trường sinh đã mê hoặc các vị vua thời phong kiến làm cho họ ưa thích và tin dùng. Sự thật có đem lại kết quả trường sinh hay là một bi kịch, xưa kia thuốc trường sinh vẫn là lời đồn hấp dẫn cho những người muốn sống mãi trên đời để hưởng thụ. Đó cũng là cách giải quyết tạm thời cho những khối óc say mê tìm tòi cái bất tử… cũng như những nhà giả kim thuật ở châu Âu nhiều thế kỷ trước – âu đây cũng là ước mơ của con người nói chung.

Những triết học của tôn giáo, lời đồn về các vị thần tiên luyện linh đơn đã cho chúng ta cảm nhận rằng sinh tử là nỗi sợ hãi trong mỗi con người. Vì vậy, con người luôn đi tìm phương cách để giải quyết nỗi sợ đó. Và câu trả lời chính xác nhất ở đâu?

TRUNG ĐẠO…

Khi đọc kinh Đại Bát Niết Bàn chúng ta thấy trong kinh nêu lên Tứ Đức Niết Bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Điều này đã làm dấy lên sự tranh cãi: “Đã là Niết Bàn rồi mà còn Ngã, còn Tịnh, còn Thường gì nữa?” Bởi vì nó là pháp đối đãi nên chưa phải là Niết Bàn chân thật, là Niết Bàn tuyệt đối. Đúng vậy, cái tuyệt đối vốn vô ngôn, nếu đã lập ngôn thì lời nào cũng là tương đối. Nhưng ngôn ngữ có ra là để giải thích cho cái không lời, nhờ đó mà chúng ta có lối vào, từ tương đối mà nhận ra được chỗ tuyệt đối.

Kinh Niết Bàn nêu về chữ Ngã hay lời tuyên ngôn đản sanh của Phật (“Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”) là thuyết minh cho cái vô ngôn, để chỉ cho cái tuyệt đối, để chỉ cho cái bất sanh bất diệt bằng từ Ngã, là từ then chốt nhất, là mục đích tối thượng mà bao nhiêu ngàn năm con người đang tìm cầu nó, giải mã nó (chơn ngã). Nhưng mọi sự vật hiện tượng trong đời chỉ là hư ảo phù hoa.

Hãy tỉnh giác để thong dong vui sống trong cuộc đời giả tạm này.

Nhờ giác ngộ được Vô Ngã, nhận ra lẽ thật phũ phàng, chúng ta mới can đảm nói rằng: “Sống chết như đi về, ái ân là trò dâu bể”. Nhận thức rõ thân xác được kết hợp bằng thân Năm Uẩn, nó không thể nào tồn tại vĩnh cửu, nhưng con người không còn chỗ nào để bám trụ thì phải chấp nó, bám vào nó để có cái Tôi cái Ta tạm thời mà tồn tại. Thực tế, do con người không giác ngộ, nên mượn cái giả làm chơn, rồi chấp chặt vào nó, cho nó là thật nên bị khổ đau…

Lại nói, Tâm vốn không có hình sắc, cũng không có chỗ cố định, làm sao trụ tâm nơi cảnh? Chẳng qua chỉ chế phục vọng tưởng duyên lự mà thôi. Nếu tâm đã yên lặng dừng trụ thì không cần kềm chế, chỉ dứt tâm vọng tưởng tán loạn (tức là tu Chỉ). Nếu nói tâm quá khứ tuy đã diệt hết rồi, mà tâm kế tiếp tục sinh khởi, cho nên nghiệp tiếp tục theo tâm mà đến, như nói nghiệp quá khứ tuy diệt hết, nghiệp kế lại tiếp tục sinh khởi, nên đến được nhân hiện tại, nói như thế thật là sai lầm lớn.

Là vì sao?

Vì có khi tâm thiện của quá khứ diệt hết mà tâm ác tiếp tục sinh, nay cũng nghiệp thiện của quá khứ diệt mà nghiệp ác tiếp tục sinh, như thế phải cảm quả báo ác, nhưng vì sao lại cảm quả báo thiện được? Nếu nói nghiệp đến mà không theo tâm, thì nghiệp này phải tự có sẵn quả báo, lìa tâm mà thọ quả báo, thật ra ở đây chẳng phải thế…

Tương tự, người thực hành cũng đang an trụ trong nội tâm tĩnh lặng, bỗng nhiên tự nhận biết từng sát-na trong tâm, không có nhân, không có ngã, tự tính vốn không thật, vì cớ sao?

Vì khi một niệm đầu khởi phát, nhất định phải nhờ nhân duyên. Nhân duyên chính là đầy đủ cả 12 nhân duyên, nhưng nhân duyên thì không có tự tính, nên nếu một niệm không có thật, thì phá trừ tính tà chấp thật có của thế gian. Lúc này tâm cùng chánh định tương ưng, trí tuệ liền khai phát, giống như tia nuớc vọt ra không dừng; nghiệp thân và khẩu của hành giả được thanh tịnh, xa lìa các tà hạnh. Đây là tướng khai phát thiện căn của nhất niệm 12 nhân duyên. Trong Kinh Đại Tập cũng giải thích 12 nhân duyên này rất rõ ràng, cũng có thể giải thích tướng thiện căn khai phát, một niệm đầy đủ Tứ đế…

Một khi người thực hành gặp các thứ bất tịnh, nhưng biết nó là hư giả, cho nên tâm không còn sinh khởi lo sợ. Khi hành giả thấy sắc thanh tịnh, liền biết do nhân duyên hòa hợp phát sinh, nên nội tâm không còn ái nhiễm, đây gọi là “Thắng tri kiến”.

Nếu nói do ba tướng Sinh, Trụ, Diệt và tất cả các pháp hữu vi là vô thường, nhưng ba tướng vốn tự là Không, vì sao có chữ vô thường? Như khi có tướng sinh thì không có tướng trụ, diệt; khi lìa tướng sinh cũng không có tướng trụ, diệt. Nếu khi sinh mà có tướng trụ và diệt, không thể gọi là tướng sinh, vì như thế là tướng sinh diệt trái nhau; mặt khác, nếu nói không có tướng sinh mà có tướng trụ và diệt, cũng phá mất định nghĩa của cả ba tướng, nếu không có tướng sinh, thì tướng diệt cũng không có chỗ diệt.

Cho nên ba tướng: Sinh, trụ và diệt đều không thể được, nếu không có ba tướng, vì sao nói là vô thường? Nếu hành giả biết rõ tướng vô thường cũng Không, tức là đã thấy được Thánh đạo…

Lý thuyết thì là vậy, cơ mà còn tùy vào từng người, từng cơ duyên mà truyền, vậy mới có câu: “tùy trí ỷ thuyết” – ma đạo cùng từ đây…

Thay lời kết:

Bát-nhã là một pháp,

Phật thuyết có nhiều tên,

Tùy mỗi loài chúng sinh,

Mà lập riêng tên gọi.

Người chứng đắc Bát-nhã,

Tâm hý luận đều diệt,

Ví như mặt trời mọc,

Sương móc liền tan sạch.

Xxx – Phi Long