Tùy trí ỷ thuyết…

Thế gian có mười hạng người phát tâm tu thiền định không giống nhau, kết quả bị rơi vào những hành vi tư tưởng thiên lệch, sai lầm, nên không thể nhập pháp môn…

Đó là:

  1. Vì lợi ích bồi dưỡng thân mạng của mình mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm Địa ngục.
  2. Khởi tâm hư dối tà kiến, vì tham danh tiếng, khen ngợi mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm Quỷ thần.
  3. Vì muốn ủng hộ bà con quyến thuộc của mình mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm Súc sanh.
  4. Vì ganh tỵ muốn hơn người khác mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm A-tu-la.
  5. Vì sợ đầu thai vào đường ác chịu quả báo đau khổ và muốn dứt hết những nghiệp lực bất thiện mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều phát tâm tái sanh làm người.
  6. Vì muốn bồi dưỡng tâm thiện của mình và mong cầu được an lạc mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều phát tâm sinh về sáu tầng trời cõi Dục.
  7. Vì muốn có được thế lực và thần thông tự tại mà phát tâm tu thiền. Những người này phần nhiều thuộc về tâm La-sát.
  8. Vì muốn được thông minh lanh lợi, phản ứng nhạy bén mà phát tâm tu thiền. Đây thuộc về tâm của Ngoại đạo.
  9. Vì muốn được sinh lên cõi trời Phạm thiên mà phát tâm tu thiền. Đây thuộc về cõi trời Sắc và Vô sắc.
  10. Vì muốn thoát khỏi thống khổ sinh, lão, bệnh, tử, mong chóng chứng Niết-bàn mà phát tâm tu thiền. Đây thuộc về tâm của hàng Nhị thừa.

Mười hạng người tu tập thiền định này, tuy họ phát tâm thiện hoặc ác có khác nhau, cảnh giới giải thoát hay trói buộc cũng khác. Chỉ vì họ không có tâm đại bi và mục đích phát tâm không chính đáng, kết quả đọa lạc vào nhị biên, (Đoạn kiến và Thường kiến chẳng vào Trung đạo).

Tại sao vậy?

Nếu dùng tâm này tu thiền định, cuối cùng cũng không thể thấu hiểu và thích ứng với Thiền ba-la-mật…

Cũng một danh từ “thiền”, nhưng sở chứng đắc thiền định của phàm phu, ngoại đạo, Nhị thừa, Bồ-tát, chư Phật có khác nhau, nhưng gọi chung là “thiền”… cùng chung một định nghĩa nhưng cách thức có thể nhiều ít khác nhau nhưng cuối cùng vẫn là để: “huấn luyện tâm làm quen về một chủ đề cụ thể nào đó” – Đức pháp vương dòng truyền thừa Drukpa.

Ba chữ “Ba-la-mật” còn gọi là đến bờ kia, nhưng chỉ có Phật và Bồ-tát mới chứng đạt được đến bờ kia… Vì sao vậy? “Ba-la-mật”, gọi là Độ vô cực, (tức là không có pháp nào độ thoát có thể sánh hơn năng lực này). Chỉ có hàng Bồ-tát và chư Phật mới được đầy đủ. Vì có khả năng thông đạt trung đạo, chứng ngộ Phật tính, phát sinh chín loại thiền lớn (Cửu chủng đại thiền), chứng đắc Đại Niết-bàn, do đó chẳng đồng hàng phàm phu, nhị thừa, cho nên nói là bất đồng.

Nếu luận chung, thì không nhọc phải phân tích. Vì sao? Vì thiền có chia ra đồng và chẳng đồng, danh từ “Ba-la-mật” cũng như thế, cho nên Luận Ma Ha Diễn ghi: “Ngữ pháp ở Ấn Độ, hễ có việc gì hoàn thành, đều gọi là Ba-la-mật”. – trích “Thiền Ba La Mật”

Vậy có khi nào chúng ta hiện nay sử dụng như một phương tiện dù có thiện xảo hay không như chúng ta vẫn tán tụng chỉ để đạt được mục đích của mình – “mượn” phương tiện; tuy nhiên việc mượn này cũng nếu có cũng chỉ có tác dụng trong một thời khắc. Những lầm tưởng về con đường giải thoát và một giây phút an ủi dưới dạng hưng phấn trong tinh thần sẽ dần dần dẫn tới cực đoan trong tâm thức – sách thường có câu “tâm ma” chắc ám chỉ điều này chăng…

Văn – Tư – Tu… ai cũng biết, ai cũng hay nhưng không mấy người hiểu chữ “TU”… thực ra nghĩa đơn giản rất nhiều, như một người anh cắt nghĩa rất đúng chính là “thực hành”… Một vị Rinpoche đến từ Nepal đã từng giảng: “con người ta thành Phật rất dễ, khi tới chùa, ai cũng đã là Phật vì ai cũng hướng tới Tâm Bồ Đề, cái khó đó chính là ngoài đời sống xô bồ, chúng ta vẫn THỰC HÀNH được Tâm Bồ Đề và luôn thực hành việc tốt nhưng khi chúng ta tại chùa – ấy nên thực hành Bồ Tát Đạo là vô cùng khó…

Đa phần, học thuyết của các tôn giáo có mặt cũng nhằm giải mã cho những nghi ngờ về thân phận con người sau khi chết, về cuộc sống, về những cái vô hạn khi mà trí hiểu biết của con người rất là hữu hạn. Quá chăng những lời giải thích đó không thỏa mãn được mọi người, đặc biệt là không thể nào làm thỏa mãn được trí óc siêu việt của thái tử thời bấy giờ. Bà La Môn giáo đã trả lời được cho cái bất tử bằng cách tạo dựng lên hình ảnh đấng Phạm Thiên (Brahma – Đại Ngã), là đấng bất tử, tồn tại vĩnh hằng, người có khả năng sinh ra vạn vật, kể cả con người. Con người là một phần nhỏ trong tổng thể của đấng Bhrama, phần nhỏ đó gọi là Tiểu Ngã (Atman); Tiểu Ngã này có sinh khởi và có hoại diệt (chết). Sau khi hoại diệt, mỗi cá thể Tiểu Ngã này sẽ nhập vào Đại Ngã thì trở thành cái bất tử sau khi chết. Đó cũng là cách lý giải để đáp ứng sự khát cầu về cái bất tử. Đại bộ phận quần chúng Ấn Độ thời bấy giờ cũng dựa vào học thuyết này và tin tưởng điều đó như một sự thật, cách giải quyết bế tắc, mặc dù chưa một vị giáo chủ nào có thể chứng minh…

Ở một góc khác, người Trung Hoa tương truyền về loại thuốc trường sinh bất tử do các vị thần tiên của Lão giáo chế tác ra bằng cách luyện linh đơn; sáng tạo ra nhiều môn khí công mà không chỉ đi từ tôn giáo mà còn đi cả từ y lý. Từ nhiều thế kỷ trước, thuật trường sinh đã mê hoặc các vị vua thời phong kiến làm cho họ ưa thích và tin dùng. Sự thật có đem lại kết quả trường sinh hay là một bi kịch, xưa kia thuốc trường sinh vẫn là lời đồn hấp dẫn cho những người muốn sống mãi trên đời để hưởng thụ. Đó cũng là cách giải quyết tạm thời cho những khối óc say mê tìm tòi cái bất tử… cũng như những nhà giả kim thuật ở châu Âu nhiều thế kỷ trước – âu đây cũng là ước mơ của con người nói chung.

Những triết học của tôn giáo, lời đồn về các vị thần tiên luyện linh đơn đã cho chúng ta cảm nhận rằng sinh tử là nỗi sợ hãi trong mỗi con người. Vì vậy, con người luôn đi tìm phương cách để giải quyết nỗi sợ đó. Và câu trả lời chính xác nhất ở đâu?

TRUNG ĐẠO…

Khi đọc kinh Đại Bát Niết Bàn chúng ta thấy trong kinh nêu lên Tứ Đức Niết Bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Điều này đã làm dấy lên sự tranh cãi: “Đã là Niết Bàn rồi mà còn Ngã, còn Tịnh, còn Thường gì nữa?” Bởi vì nó là pháp đối đãi nên chưa phải là Niết Bàn chân thật, là Niết Bàn tuyệt đối. Đúng vậy, cái tuyệt đối vốn vô ngôn, nếu đã lập ngôn thì lời nào cũng là tương đối. Nhưng ngôn ngữ có ra là để giải thích cho cái không lời, nhờ đó mà chúng ta có lối vào, từ tương đối mà nhận ra được chỗ tuyệt đối.

Kinh Niết Bàn nêu về chữ Ngã hay lời tuyên ngôn đản sanh của Phật (“Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”) là thuyết minh cho cái vô ngôn, để chỉ cho cái tuyệt đối, để chỉ cho cái bất sanh bất diệt bằng từ Ngã, là từ then chốt nhất, là mục đích tối thượng mà bao nhiêu ngàn năm con người đang tìm cầu nó, giải mã nó (chơn ngã). Nhưng mọi sự vật hiện tượng trong đời chỉ là hư ảo phù hoa.

Hãy tỉnh giác để thong dong vui sống trong cuộc đời giả tạm này.

Nhờ giác ngộ được Vô Ngã, nhận ra lẽ thật phũ phàng, chúng ta mới can đảm nói rằng: “Sống chết như đi về, ái ân là trò dâu bể”. Nhận thức rõ thân xác được kết hợp bằng thân Năm Uẩn, nó không thể nào tồn tại vĩnh cửu, nhưng con người không còn chỗ nào để bám trụ thì phải chấp nó, bám vào nó để có cái Tôi cái Ta tạm thời mà tồn tại. Thực tế, do con người không giác ngộ, nên mượn cái giả làm chơn, rồi chấp chặt vào nó, cho nó là thật nên bị khổ đau…

Lại nói, Tâm vốn không có hình sắc, cũng không có chỗ cố định, làm sao trụ tâm nơi cảnh? Chẳng qua chỉ chế phục vọng tưởng duyên lự mà thôi. Nếu tâm đã yên lặng dừng trụ thì không cần kềm chế, chỉ dứt tâm vọng tưởng tán loạn (tức là tu Chỉ). Nếu nói tâm quá khứ tuy đã diệt hết rồi, mà tâm kế tiếp tục sinh khởi, cho nên nghiệp tiếp tục theo tâm mà đến, như nói nghiệp quá khứ tuy diệt hết, nghiệp kế lại tiếp tục sinh khởi, nên đến được nhân hiện tại, nói như thế thật là sai lầm lớn.

Là vì sao?

Vì có khi tâm thiện của quá khứ diệt hết mà tâm ác tiếp tục sinh, nay cũng nghiệp thiện của quá khứ diệt mà nghiệp ác tiếp tục sinh, như thế phải cảm quả báo ác, nhưng vì sao lại cảm quả báo thiện được? Nếu nói nghiệp đến mà không theo tâm, thì nghiệp này phải tự có sẵn quả báo, lìa tâm mà thọ quả báo, thật ra ở đây chẳng phải thế…

Tương tự, người thực hành cũng đang an trụ trong nội tâm tĩnh lặng, bỗng nhiên tự nhận biết từng sát-na trong tâm, không có nhân, không có ngã, tự tính vốn không thật, vì cớ sao?

Vì khi một niệm đầu khởi phát, nhất định phải nhờ nhân duyên. Nhân duyên chính là đầy đủ cả 12 nhân duyên, nhưng nhân duyên thì không có tự tính, nên nếu một niệm không có thật, thì phá trừ tính tà chấp thật có của thế gian. Lúc này tâm cùng chánh định tương ưng, trí tuệ liền khai phát, giống như tia nuớc vọt ra không dừng; nghiệp thân và khẩu của hành giả được thanh tịnh, xa lìa các tà hạnh. Đây là tướng khai phát thiện căn của nhất niệm 12 nhân duyên. Trong Kinh Đại Tập cũng giải thích 12 nhân duyên này rất rõ ràng, cũng có thể giải thích tướng thiện căn khai phát, một niệm đầy đủ Tứ đế…

Một khi người thực hành gặp các thứ bất tịnh, nhưng biết nó là hư giả, cho nên tâm không còn sinh khởi lo sợ. Khi hành giả thấy sắc thanh tịnh, liền biết do nhân duyên hòa hợp phát sinh, nên nội tâm không còn ái nhiễm, đây gọi là “Thắng tri kiến”.

Nếu nói do ba tướng Sinh, Trụ, Diệt và tất cả các pháp hữu vi là vô thường, nhưng ba tướng vốn tự là Không, vì sao có chữ vô thường? Như khi có tướng sinh thì không có tướng trụ, diệt; khi lìa tướng sinh cũng không có tướng trụ, diệt. Nếu khi sinh mà có tướng trụ và diệt, không thể gọi là tướng sinh, vì như thế là tướng sinh diệt trái nhau; mặt khác, nếu nói không có tướng sinh mà có tướng trụ và diệt, cũng phá mất định nghĩa của cả ba tướng, nếu không có tướng sinh, thì tướng diệt cũng không có chỗ diệt.

Cho nên ba tướng: Sinh, trụ và diệt đều không thể được, nếu không có ba tướng, vì sao nói là vô thường? Nếu hành giả biết rõ tướng vô thường cũng Không, tức là đã thấy được Thánh đạo…

Lý thuyết thì là vậy, cơ mà còn tùy vào từng người, từng cơ duyên mà truyền, vậy mới có câu: “tùy trí ỷ thuyết” – ma đạo cùng từ đây…

Thay lời kết:

Bát-nhã là một pháp,

Phật thuyết có nhiều tên,

Tùy mỗi loài chúng sinh,

Mà lập riêng tên gọi.

Người chứng đắc Bát-nhã,

Tâm hý luận đều diệt,

Ví như mặt trời mọc,

Sương móc liền tan sạch.

Xxx – Phi Long

Advertisements

Be strong

If you want to step out from the dust, then, pain is inevitable and be ready to get familiar with it and ready to be blooded…. Freedom is always for the strong, brave and wild one…

Victory is only for well-preparors…

Từ Grab tới nỗi buồn…

Có lẽ đây là chuyến đi công tác cuối cùng trong năm nay; thế là một năm đã gần trôi qua với đúng nghĩa đen mà các cụ thường ví “bóng câu”, vẫn là chuyến bay đầu ngày như mọi khi nhưng cảm giác hơi khác, có lẽ vì vậy mà tôi dành thời gian nói chuyện với người tài xế trẻ tuổi…

photo-1-1529810816439229000435

Dùng dịch vụ thường xuyên, tôi cũng thích Grab vì dịch vụ đơn giản, nhanh và tiện, cùng với thái độ lịch sự của đa số các bác tài. Dần dà thì tôi chợt thấy nao nao mỗi khi đi Grab vì có cái gì đó thật khó diễn tả và có lẽ chỉ lần này sau khi nói chuyện với bác tài thì tôi mới nhận ra điều đó có ý nghĩa gì với tôi: các bác tài đều rất TRẺ, và phần lớn những “chú” tài – phải gọi như thế mới đúng vì họ ít tuổi quá – mà tôi gặp đều tốt nghiệp cao đẳng và đại học, thậm chí, từ những nơi danh tiếng của thành phố… Tỷ lệ của “nghịch cảnh” này ở Grab xe máy còn cao hơn Grab ô tô, những mong rằng tôi sai và với tần xuất đi hàng ngày thì tôi vẫn hoàn sai và chỉ mong đó là thiểu số ngẫu nhiên vào tôi mà thôi…

Gần đây, theo báo cáo GII/ 2018 công bố hồi tháng 7 vừa qua, Việt Nam đứng thứ 18/126 nước về giáo dục, với một yếu tố giúp cho Việt Nam có thứ hạng cao trong giáo dục là sự đầu tư của các bậc cha mẹ tại Việt Nam cho con cái, không chỉ riêng năm 2017 và 2018, Việt Nam mới đứng đầu ASEAN về chi tiêu cho giáo dục – đạt 5.7% tính theo GDP xếp hàng 29/126. Có lẽ báo cáo mới chỉ đưa ra các con số dù rất cụ thể nhưng đâu đó, vẫn còn chưa nêu được hết tầm quan trọng của giáo dục trong đời sống người dân Việt Nam.

Hàng năm, phải chứng kiến cảnh các các phụ huynh đưa con em mình đi thi và chờ đợi bên ngoài thì mới có cùng cảm nhận, vì rằng ai cũng biết các buổi thi không ít hơn hai giờ đồng hồ nhưng hiếm bậc phụ huynh nào “rời bỏ vị trí” của mình…, hình ảnh này cũng là hình ảnh thường thấy ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc, nhưng ít ai biết, chỉ có 40% số các em tốt nghiệp lớp 12 có cơ hội học lên bậc đại học vì thiếu hụt số lượng các trường đại học; tính tới cuối 2016, chỉ có 28% các bạn trở thành sinh viên và trong niên khóa 2017-2018, hệ thống các trường đại học chỉ có thể đáp ứng được 400 nghìn trên 1 triệu học sinh tốt nghiệp lớp 12 đăng ký tuyển sinh. Ngoài ra, để nâng cấp cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng đào tạo, kể từ 2016, nhà nước đã bỏ bao cấp đối với đào tạo công tạo điều kiện công bằng đối với đối tượng giáo dục tư nhân, dẫn tới học phí tăng tới 34% đối với các trường công trong niên khóa 2016 – 2017, và dự kiến, còn tiếp tục tăng trong một số năm tới và phần nào kích thích đầu tư giáo dục tư nhân và mang tới nhiều cơ hội đào tạo hơn cho sinh viên cùng với chất lượng cơ sở vật chất tốt hơn.

Theo đánh giá của BMI – tổ chức nghiên cứu uy tín, giáo dục nói chung tại Việt Nam có tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 8% đạt USD 2.4 tỷ vào năm 2016, USD 2.6 tỷ, dự kiến đạt USD 3.6 tỷ vào năm 2020. Trong tổng số tiền chi cho giáo dục, chủ yếu là chi cho học phí (chiếm 33%) và các khoản chi khác (chiếm 26%). Các khoản chi này thường là các chi phí ăn ở, đi lại, chi phí này đặc biệt rất quan trọng đối với sinh viên, học sinh đi học xa nhà và phải ở trọ. Các khoản chi còn lại chiếm tỷ trọng khá thấp trong tổng chi tiêu cho giáo dục, thấp nhất là chi đóng góp cho trường lớp. Nhìn chung tình hình chi cho giáo dục của người dân trong vùng là khá thấp so với tình hình chi chung của cả nước chỉ đứng trên vùng Trung du và miền núi phía Bắc là 1,5 triệu đồng/người/năm, còn các hộ dân của cả nước chi trung bình hơn 3 triệu đồng một năm cho một thành viên đang đi học, ví dụ: ở đồng bằng sông Hồng người dân chi trung bình 3,5 triệu/người/năm, ở Đông Nam Bộ chi trung bình 5,5 triệu đồng/người/năm cho giáo dục; so sánh với tổng chi tiêu cho nhóm hộ thuộc tỉnh nghèo là 22,3 triệu/năm trong khi nhóm tỉnh giàu là 23 triệu, không có sự khác biệt về mặt thống kê. Chi trung bình của cả vùng đông bằng sông Cửu Long là khoảng 22,6 triệu/năm, cao hơn một ít so với nhóm tỉnh nghèo. Như vậy, mặt bằng chung về cơ cấu chi tiêu của người dân trong vùng không có sự khác biệt nhiều. Tuy nhiên, giữa thành thị và nông thôn lại có sự khác nhau trong chi tiêu cho giáo dục, các hộ dân ở khu vực thành thị có thu nhập cao hơn cũng như các điều kiện học tập tốt nên chi tiêu cho giáo dục cũng cao hơn so với các hộ dân ở nông thôn với mức chi trung bình 2,6 triệu đồng cho giáo dục cao hơn gần 2 lần so với các hộ dân ở nông thôn là 1,4 triệu đồng/năm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Điều này có thể giải thích bởi mặt bằng chung ở khu vực thành thị là cao hơn ở nông thôn, hơn nữa họ có điều kiện hơn nên mức đầu tư cho con em đi học cao hơn.

Ấy vậy mà sau bao cố gắng cho con em học hành tới nơi tới chốn, thậm chí giáo dục luôn là khoản mục được ưu tiên đầu tiên trong chi tiêu gia đình cho dù còn bao khó khăn cuộc sống; nhưng tương tự như “chú” tài xế của tôi, các bạn sau khi tốt nghiệp ra trường chọn con đường xe ôm, và giờ là Grab; có nhiều bạn thì mơ mộng chạy Grab tiết kiệm được một món rồi bỏ nghề đi theo mơ ước của mình, có bạn thì đơn giản coi đó như là mưu sinh của mình… nhưng tất cả đều tỏ ra không mấy áy náy vì bỏ phí 4 năm học tập cùng với bao mơ ước của các bậc cha mẹ…

Lận đận trong tìm việc làm, với bằng tốt nghiệp tin học nhưng cũng thừa nhận là mình cũng không có nhiều khả năng trong lập trình, sau vài ba công ty nhỏ, anh chàng đã cưới vợ và để nuôi cô công chúa bé nhỏ thì bạn quyết định bán một số tài sản, vay gia đình sắm chiếc xe Huyndai i10 cũ để chạy Grab. Cái lợi từ chạy Grab không chỉ là từ mưu sinh, “chú tài” tâm sự: “Trước hầu như chiều nào em cũng tụ tập, hết đồng nghiệp, bạn bè anh em vừa tốn tiền, vợ lại cằn nhằn. Từ hồi chạy xe em “ngoan ra” hẳn, chạy cả ngày tối mệt là lăn ra ngủ chẳng có thời gian đâu mà nhậu nữa”… nhưng,

cuối tháng 3 vừa qua, Grab đã mua lại hoạt động kinh doanh của Uber tại thị trường Đông Nam Á, Việt Nam nằm trong đó, đổi lại, Uber chỉ còn là cổ đông sở hữu 27,5% cổ phần của Grab. Dù rằng câu chuyện sáp nhập của Uber và Grab hiện vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi, nhưng điều nhìn thấy ngay được là sau sáp nhập, lực lượng lái xe của Uber nhập về Grab làm tăng số lượng và qua đó, cạnh tranh nội bộ cũng tăng lên phần nào. Với chính sách kinh doanh của mình, Grab không có nhiều chương trình khuyến mại như Uber, lợi ích của người sử dụng dịch vụ vì thế cũng giảm đi (đương nhiên vì làm gì còn cạnh tranh). Điều này dẫn tới các tài xế Grab trở nên khó khăn hơn. Bên cạnh đó, theo các bác tài kinh nghiệm, lượng khách giảm lại không phải nỗi lo lớn nhất mà là mức chiết khấu nộp về công ty mẹ quá cao – khoảng trên 23.6% và mới được điều chỉnh giảm xuống 20% sau vụ đình công vào hồi đầu năm 2018. Để tồn tại được cùng hàng loạt những khó khăn mà ở trên mới chỉ là một phần mà chưa tính tới, cướp bóc, quỵt tiền xe… “các tài” không còn cách nào khác là phải tăng cường chạy thêm giờ nhằm bù lại phần thu nhập. Thậm chí, nhiều tài cũng đang chật vật tìm cho mình những hướng đi khác; chán nản nghỉ chạy, tìm đường trở quay về taxi truyền thống, thậm chí bán xe chịu lỗ và nợ vay ngân hàng để tìm một công việc khác. Nhưng,

lực lượng sinh viên và cựu sinh viên thì hình như tăng lên chứ không giảm đi thì phải, với mô hình giao hàng, số lượng các bạn tham gia còn nhiều hơn, hình ảnh ở nhiều quán cà phê cóc, các bạn như gắn vào các trò chơi điện tử trực tuyến trên điện thoại trong lúc chờ tới cuốc của mình… Tôi từng chứng kiến nhiều trường hợp nhiều bậc phụ huynh lên thăm con đã bật òa khóc khi bất chợt gặp con em mình trong màu áo Grab; sau bao hy vọng [đổi đời] với biết bao dành dụm nhịn ăn nhịn uống dành để cho con em mình đi học đã tan thành mây khói…

Cũng chẳng thể đổ lỗi cho Grab hay bất cứ công ty nào được, cũng không thể trách xã hội đối với môi trường đào tạo còn nhiều bất cập và hữu hạn cơ hội công việc cho các em – với tiêu chí thường thấy: ưu tiên tuyển dụng đã có kinh nghiệm và vô hình chung giảm đi cơ hội vào đời của sinh viên mới ra trường; nhưng một phần cũng phải xem lại từ phía các em, phải chăng lối suy nghĩ ngắn hạn, những mong muốn và những cái đích thành công trước mắt phần nào đã đẩy các em tới chỗ quyết định lựa chọn công việc đơn giản sau bao năm đèn sách vất vả…

Việc giữ nước cốt ở lòng người không phải ở thế đất hiểm” – Lý Công Uẩn, nếu chúng ta không nỗ lực phấn đấu, không có hoài bão, mơ ước để theo đuổi, mà chỉ nhìn và trông chờ những điều trước mắt – cũng như chỉ là làm thuê cho các ông chủ lớn [Samsung hay Bochen] nước ngoài; liệu có khi nào chúng ta mãi sẽ như bà Phạm Chi Lan đã thuật lại lời nhận xét của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới: “Việt Nam là mô hình kỳ lạ nhất thế giới: Nước… không chịu phát triển!”

Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” là đây vậy… tất cả phụ thuộc vào mỗi cá nhân chúng ta…

Một thoáng buồn không hề nhẹ dịp bay cuối năm 2018;

Áp mái…

Lớn lên trong một căn hộ nhỏ ở tầng 3 của một ngôi biệt thự cổ ngay góc được một con phố chính giữa thủ đô Hà Nội, cách hồ Hoàn Kiếm khoảng 1km theo đường chim bay và 1.5km theo đường… đi xe đạp…, toàn bộ tuổi thơ của tôi đều trải qua ở nơi đây… những gì là tốt đẹp nhất, đầm ấm và yêu thương nhất…

Image result for góc phan chu trinh và biệt thự pháp cổ
Minh họa từ internet

Chuyện kể lại rằng, sau khi hiến phần lớn phần lớn tài sản cá nhân của mình và rút lên ở tầng 3 và một phần tầng 2 vốn vẫn là nơi dạy học, gia đình lớn của tôi cũng dần trở thành người bình thường trong xã hội mới khi đó mà không còn là “thành phần tư sản” nữa, cũng chả quan trọng, đó là lịch sử rồi… vậy nên,

khi sinh ra, tôi đã ở trên cao chót vót: từ tầng 3 này (khi đó mới chỉ có một số khu tập thể cao 5 tầng, mà phải rất lâu sau đó mới có khách sạn Hà Nội cao 11 tầng – lúc đó là cao nhất Hà Nội bên hồ Giảng Võ), rồi cái giường gỗ của gia đình tôi cũng gần ngay khuôn cửa sổ mà chỉ một cái nhỏm đầu lên là tôi đã quan sát được cả một vùng…

Bố tôi là giáo viên nên khi bé tôi luôn ở gần mà xa ông; gần vì tôi ở trên nhà còn bố tôi dạy học ở dưới, bố không bao giờ để tôi phải một mình, nếu tôi không đi học (nghỉ hè) thì ông sẽ tha tôi vào trường tới lớp của ông – ở đó, tôi được chơi với các anh chị học trò bố tôi trong khi ông dạy học. Nhưng cũng chính vì bố tôi còn dạy học nên phần lớn thời gian lại tập chơi một mình; tôi thích nhất là đọc sách (bố hay mua sách và truyện cho tôi lắm), hay khi không ngồi chống cằm mơ mộng xa xăm qua khuôn cửa sổ… về chiều khi hoàng hôn xuống, tôi còn được ngắm bầy dơi ra khỏi tổ đi kiếm ăn từ cây dừa “cổ thụ” gần đó… và cứ thế anh em nhà Grimm hay Hans Andersen cùng với dân gian các nước, các dân tộc đã đi qua tuổi thơ của tôi như vậy…

Góc giường nơi cửa sổ nhìn xuống phía sau nhà, nhấp nhô những mái ngói đỏ rêu phong cũ kỹ khác đã mang tôi vào tưởng tượng của một góc áp mái nghèo thường vẫn xuất hiện trong vô vàn câu chuyện của cô bé Lọ Lem, của chú lính chì quen thuộc…

so-sanh-dac-diem-tang-ap-mai-nha-Viet-Nam.jpg

Lớn lên góc áp mái của tôi được bổ sung phong phú thêm với Mozart, Beethoven hay một loạt các hoạ sĩ mà cuộc sống và sáng tác của họ đến từ những căn “áp mái”; những cái bừa bộn, những cái nghèo nàn vật chất lại hun đúc ra môi trường lãng mạn, nảy nở sức sáng tạo kinh người… không biết liệu những góc cũ kỹ với vạt nắng chiều xiên xiên hay u ám buồn buồn sột soạt bông tuyết nhẹ rơi có tạo bối cảnh cho các cảm hứng sáng  tác hay không?

Lớn hơn tý nữa, khi hiểu biết nhiều hơn, “áp mái” không còn đơn giản như vậy, xa xỉ hơn, nó là dấu ấn cá nhân; không còn là biểu trưng của Lọ Lem trong cảnh nghèo khổ, “áp mái” giờ là cái tôi cá nhân mà thông qua đó người chủ của nó đưa ra một thông điệp về nhân sinh quan riêng, sở thích riêng và cái tôi thẩm mỹ… nhất là khi tham gia vào ngành bất động sản, ý thức từ việc này càng rõ nét hơn trong tôi, đâu đó dù lúc đó còn là mới mẻ nhưng những đường nét thanh tao trong thiết kế “áp mái” của Bitexco đã để lại những dấu ấn mạnh mẽ…

Già đi, được đi đây đi đó nhiều, tiếp xúc nhiều, nhìn thấy nhiểu, tôi chợt nhận ra rằng biểu trưng này không phải “trưng” cho thiên hạ mà là dành cho riêng mình, nó được coi là một cái “mật thất” – cái “động” dành cho mỗi cá nhân. Nhiều người tôi biết họ chi ra bộn tiền chỉ để trồng cây trong không gian “áp mái” của họ, tới độ mà phòng tắm cũng như giữa rừng rậm châu Phi; rồi người thì mọi thứ là kính… kính bao quanh, ánh sáng bao quanh, không che không chắn, nơi con người quay trở về với sự trần trụi của bản thể… hay đôi khi chỉ là những không gian xinh xắn, nhỏ bé thơm mùi gỗ, mùi nắng trong một màu kem và nâu nhạt tinh tươm, dăm ba cuốn sách trên trường kỷ, đôi vài ngọn nến lung linh khi nắng đã tắt, người ta được thu đầu gối lại, cuộn mình trong vuông chăn mỏng trở về ký ức của tuổi thơ…

Related image

Thực tế, sự khác biệt thể hiện ở kiến trúc không nhiều mà nó mang cái tôi cá nhân nhiều hơn, nhưng đó là ở văn hoá phương Tây với cái tôi cá nhân luôn là trung tâm; ngược lại với các nước đang phát triển, dấu ấn bầy đàn, làng xã thể hiện khá rõ nét ở những góc “áp mái” với tiêu chí nhồi nhét cái sang trọng và đắt tiền của một lối sống vương giả, ở trên người khác, chỉ có điều đây không phải cái thông điệp về cái tôi mà đây là cái bày ra cho cộng đồng, cho xã hội bên ngoài … cũng sàn gỗ bóng loáng, đèn chùm pha lê đồ sộ, cũng những bộ bàn ăn sang trọng, những bộ salon sành điệu, thảm sàn và cả đàn piano là những vật dụng [vì cũng chỉ mang tính trưng bày là chính] thường được “ấn” vào một không gian mà đáng lẽ nên dành cho khách khứa và ngoại giao ồn ào xô bồ hay chỉ để check-in sang chảnh thay vì hưởng thụ cho riêng cá nhân (thật ích kỷ khi không chia sẻ với làng chăng?) hoặc một nhóm nhỏ những người bạn thân thật là thân…

Có lẽ, người ta thường cho rằng hiếm thì là quý, mà quý thì là đắt chăng? Nên với không gian hẹp trên nóc nhà thì cũng hiếm nên quý nên người ta nhồi vào đó cả ti tỷ thứ quý giá để rồi khoe nhau như đồ trang sức và lấy làm hãnh diện vì giá cả thay vì dấu ấn cá nhân, cái sở thích của riêng mình…

Ờ thì người ta có thì người ta thích vậy… sao nhỉ? Lỗi chắc tại từ cá nhân tôi với cái mơ mộng hồi ức từ nhỏ chăng, hay thông qua những câu chuyện từ hồi tấm bé mà đúc thành cái biểu trưng trong con người tôi, hay từ thơ ca, hội hoạ mà tôi lấy làm phù hợp cá nhân mình???

Tôi nghĩ thực về tận cùng cũng chỉ là khác biệt về văn hoá, khác biệt về hệ tư tưởng mà thôi, có hay không cũng chỉ là cá nhân mỗi người và nó dù có hay không thì cũng tồn tại độc lập khách quan, nên chỉ là cá nhân, tôi vẫn cổ xúy cho cái tôi riêng tư thay vì cái phơi bày với làng xã với xu hướng bầy đàn từ chỗ giấu nhau từng miếng ăn để cùng khó khăn tập thể tới chỗ hãnh tiến vỗ ngực phô trương của anh nhà giàu mới nổi… cái “vỗ” mà tôi luôn “thiếu” chăng???

Văn hoá và văn minh luôn cần có thời gian… nhưng,

Tôi mong luôn được quay về với những góc “áp mái” thanh tao dát vàng bởi những vạt nắng xiên buổi hoàng hôn tĩnh lặng… cùng với những Milan Kundera hay món quà tặng từ anh em nhà Grimm…

  • Tấm vé về tuổi thơ… 21/2018

Tôi và Thái cực Trần gia…

2017-05-30 01.11.15.jpg

Sau khi trải qua một thời gian trong bệnh viện với cuộc phẫu thuật mà đã khiến. cho tôi từ 120kg xuống còn không đầy 60kg, sức lực không còn, người xanh xao không có sức sống, không có một loại thuốc thần thánh nào có thể giúp đỡ được tôi mà chỉ còn biết trông chờ đợi phép màu [tự thân] … và, cuối cùng phép màu cũng đã giúp cho tôi lấy lại sự sống, phép màu đó chính là thái cực quyền trần gia; có lẽ không có cơ duyên đó thì giờ này chắc đoạn văn này cũng thể không có…

Phải nói rằng là đó là những thời khắc thật sự khó khăn cho cả hai thầy trò tôi, chúng tôi đã bắt đầu bằng buổi nói chuyện ở dưới quán café ở sảnh văn phòng tôi. Khi đó tôi cũng tin là [gã] sư phụ nhỏ bé [hiền lành] của tôi cũng không hình dung được câu chuyện sau đó sẽ khó khăn tới như thế nào vì tôi hoàn toàn đã đủ khoẻ để đi làm; cho dù tôi đã cố giải thích rất rõ về bệnh trạng của tôi cùng hiện trạng sức khoẻ lúc đó. Có lẽ cái may mắn của tôi đến từ khi chúng tôi xác định một khoảng thời gian cùng nhau là 20 năm; tới giờ có lẽ thầy tôi phần nào bắt đầu tin vào sự nghiêm túc cùa tôi dù tôi vốn là một học trò lười biếng…

Không lâu sau đó, từ buổi đầu tiên, sư phụ của tôi đã nhận ra mình gặp phải một học trò xương xẩu, xương nhất trong mọi loại học trò, nhưng chúng tôi đã cùng động viên nhau từng phút một; may mắn của tôi là sư phụ Minh Phương của tôi vốn là người có cơ thể yếu ớt bệnh hoạn (như tôi vậy), có khi còn hơn khi thầy tôi đã từng bị tim bẩm sinh, chính vì lẽ đó, sư phụ tôi thông cảm cho tôi và thường động viên tôi nhiều qua những mẩu chuyện, mẩu trao đổi nhẹ nhàng.

Tôi thường bắt đầu buổi tập phần lớn thời gian bằng khởi động và hít thở, có những lúc tới 2/3 thời gian chỉ là hít thở và nói chuyện – những câu chuyện ưa thích của chúng tôi không nằm ngoài sở thích của chúng tôi về thái cực, về khí công và về triết học phương Đông. Cứ như vậy, trải qua 2 năm, mỗi buổi chỉ 1-2 động tác đơn giản, hít thở; chậm tới mức thầy tôi đã từng ngại ngùng vì sự tiến bộ “rùa bò” của tôi, nhưng lúc đó tôi lại phải đem cái “hứa hẹn 20 năm” của tôi ra để “nói chuyện phải quấy” với ông sư phụ mà tôi luôn trân quý …

Đầm đìa mồ hôi và nước mắt; không một ai có thể tưởng tượng, tôi đã có thể lấy lại sức khỏe, học và đi được một bài quyền hoàn chỉnh, rồi sang binh khí đầu tiên là quạt… rồi với biến cố trong cuộc sống, việc tập luyện bị gián đoạn mất gần 6 tháng, có lẽ sư phụ tôi cũng không thể ngờ được tôi lại vượt qua mọi chuyện để quay lại luyện tập được; dù, tập lại từ đầu…

Với thái cực, hít thở đúng cách đã giúp cho tôi thay da đổi thịt, thực sự thở đúng cách là liều thuốc bổ duy nhất giúp cho tôi trở nên hồng hào có sức sống…

Ai cũng biết phải thở, võ thuật thì thở bằng bụng; nhưng nguyên lý thì vẫn là hít và thở…, có chẳng là thở phải chậm, sâu và đều; và nó là một trong những điều được viết thành những lý đầu tiên trong Thập Yếu của môn Thái Cực kể từ khi ông tổ môn phái sáng lập… nhưng để thở trong khi tĩnh lặng với “hư linh đỉnh kình” rồi trong khi chuyển động thì “tùng yêu”, khi va chạm thì “xá kị tòng nhân”; và rồi, cuối cùng tôi cũng hiểu được, trên tất cả, đó chính là “tiết tấu” cũng như “nhịp sống” của chính mình khi nhanh khi chậm, khi dài khi ngắn… đó chính cũng chính là “liền lạc”, “nhất giá” trong “toàn thân nhất giá” và để làm được chuyện đó đơn giản phải “khắc khắc lưu tâm”, “tiết tiết tương liên” và bởi vậy chậm lại càng khó hơn nhanh vậy nên càng muốn nhanh thi phải kiên nhẫn chậm… nghe lạ nhỉ… có lạ một chút, lạ vì chúng ta thường có thói quen ao ào cho xong, cho nhanh được cái gì đó – một thành tựu; dù cho đó mới là hình thức bên ngoài. Tôi cũng vậy, phải cho tới khi một bài quyền tôi phải mất tới 2 năm mới học xong – tức là cũng đi giống được bên ngoai ở một tốc độ chậm thì tôi đã hiểu ra rằng: trong đời sống, không phải cứ nhanh và gọn đã là xong, cũng chẳng phải khi xong cũng đã thực là xong…

Ví rằng một hình Trạm Trang cơ bản, từ người mói học tới một đại sư đểu phải thực hiện vì đó là thế đứng cơ bản; nhưng rõ ràng cái “chất” bên trong lại là hoàn toàn khác biệt – cũng như một quả đấm thẳng đơn giản; nên có câu: “sự khác biệt của bậc đại sư chính là thực hiện lặp đi lặp lại vạn lần sự thất bại”, hay tương tự, “tôi chỉ sợ người thực hiện một cú đá một nghìn lần hơn là thực hiện một lần cho một nghìn cú đá khác nhau” – Lý Tiểu Long.

Và bởi vậy, có thể nói đơn giản với bài học của cá nhân tôi; khi đầu tôi đứng được khoảng 1 phút rồi nâng dần lên giờ tôi đứng được khoảng đâu đó 1 giờ. Đứng lúc đầu như tra tấn và đúng là đứng với gân cơ cứng ngắc, mỏi nhừ, người như bốc hoả; giờ đây gấp 60 lần nhưng tôi lại cảm nhận như ngồi ghế, thoải mái gân cơ không mỏi mệt, hơn nữa, tôi còn đạt được trạng thái thiền định trong khi thực hiện bài tập trong một cơ thể vững chắc nhưng thả lỏng… một người như tôi được coi là đang vỡ lòng mà đã thấy sự khác biệt rõ nét thi không rõ bậc trưởng bối thì đó là như thế nào…

Thực ra, với cá nhân thái cực quyền còn cho tôi cái nhìn khác về cuộc sống nhiều hơn, giúp tôi phần nào điều hòa được cuộc sống… Tôi dần không còn vội vã hấp tấp nữa, mọi sự “tùy duyên”, “xá kị tòng nhân”; “khắc khắc lưu tâm”, “toàn thân nhất giá”, “dụng ý bất dụng lực” trong hành động và với ý trí “vĩ lư trung chính”, “đỉnh đầu huyển” … đã giúp cho tôi vượt qua bao khó khăn trong cuộc sống…

Thái cực Trần gia đã gắn liền với cuộc sống tôi 4 năm nay – cho dù không được “tương liên bất tục đoạn” lắm nhưng tôi vẫn luôn cố gắng và cũng đã “nghiện” cái lý của Thái cực… Con người ta ở đời cần “hàm hung bạt bối, trầm kiên trụy trửu, chuyển yêu” khi đối mặt với cuộc sống muôn vàn khó khăn… vẫn là cái lý “bốn lạng đẩy ngàn cân” “…bất dụng lực” …

Trích Thái cực quyền luận của đại sư Vương Tông Nhạc – mà ứng vào cuộc sống để thay lời kết vậy:

Thái cực sinh ra từ Vô cực, là mẹ của Âm Dương. Động thì phân mà tĩnh thì hợp. Không thái quá bất cập. Tùy co mà duỗi. Người cương ta nhu gọi là tẩu. Người nghịch ta thuận gọi là dính. Động gấp thì ứng gấp. Động chậm thì chậm tùy. Tuy biến hóa vạn mối, nhưng lý thì nhất quán. Do thuần thục mà dần ngộ hiểu kình. Từ hiểu kình sẽ đạt tới thần sáng suốt. Không dày công luyện tập, không thể đột nhiên quán thông.

Trống rỗng linh hoạt thần khí xuyên suốt lên tận đỉnh đầu. Khí trầm đan điền. Không nghiêng không dựa. Thoắt ẩn thoắt hiện. Bên trái vừa nặng đã thành hư. Bên phải vừa nặng lại thành trống không. Ngửa lên thấy càng cao. Cúi xuống thấy càng sâu. Tiến lên thì càng xa. Lùi lại thì càng gần. Một cái lông không thể thêm. Một con ruồi không thể đậu. Người không biết ta. Chỉ ta biết người. Anh hùng vô địch là do những điều trên mà đạt.

Có nhiều môn phái khác nhau. Chiêu thức tuy có khác nhau. Nhưng cũng không ngoài mạnh thắng yếu, chậm thua nhanh, có lực thắng vô lực, tay chậm thua tay nhanh. Đó là khả năng tự nhiên tiên thiên. Không phải học hiểu lực mà ra. Xét câu bốn lạng bạt ngàn cân. Hiển nhiên không dùng sức mà thắng, ( Quan mạo điệt năng ngự chúng chi hình), thì nhanh há giúp được gì?

Đứng như cái cân. Động như bánh xe. Nghiêng chìm một bên thì linh hoạt, mà nặng cả hai bên thì trì trệ. Luyện tập lâu năm, mà không thể chuyển động hóa giải, dẫn tới bị người khống chế, đó là bệnh song trọng chưa dứt. Muốn chữa bệnh này, cần biết Âm Dương. Dính tức là tẩu. Tẩu tức là dính. Âm không rời Dương, Dương không rời Âm, Âm Dương giúp nhau. Đó mới là hiểu kình. Hiểu kình rồi, càng tập sẽ càng tinh tiến. Chiêm nghiệm, suy ngẫm, dần dần sẽ đạt tới tùy tâm ứng. Đó là bỏ mình theo người. Đa số bỏ gần, tìm xa. Do đó sai một li đi một dặm. Người luyện không thể không phân biệt rõ ràng.

Sự vi ảo của Thái cực quyền không ngoài luận này. Nếu không phải là người có thiên tư trí tuệ thì khó thể lĩnh hội, có thể gặp thuật này, nhưng không thể giỏi thuật này.

Thập tam thế (Luận về Trường quyền)

Thái cực quyền còn gọi là Trường quyền. Trường quyền như sông dài biển lớn, liên miên bất tận. Bằng, Lý, Tê, Án, Thái, Liệt, Chẩu, Kháo đó là Bát quái. Bằng, Lý,Tê, Án là quẻ khảm, ly,chấn đoài, bốn chính phương. Thái, liệt, chẩu, kháo tức là quẻ càn, khôn, cấn, tốn, bốn hướng góc. Bước tới, bước lui, liếc trái, nhìn phải, ổn định ở giữa tức kim, mộc, thổ, thủy, hỏa. Đó là Ngũ hành vậy. Gộp lại mà nói là mười ba thế.
Phổ quát thì:

Nhất viết Tâm tĩnh
Nhị viết Thân linh
Tam viết Khí liễm
Tứ viết chỉnh Kình
Tổng quy Thần tụ

(Ngũ tự ca quyết)